CÁ ( 1 bài lượm lặt về cá )

Thảo luận trong 'CÁ NƯỚC NGỌT' bắt đầu bởi f51, 25/5/06.

  1. f51

    f51 Gấu

    Tham gia:
    5/4/06
    Bài viết:
    162
    Thích đã nhận:
    11
    Đến từ:
    Làng Vũ Đại
    Cá !
    Nói chung về cá .
    + Cá là động vật có dây sống biến nhiệt (máu lạnh) có mang và sống dưới nước. hiện người ta biết khoảng trên 29.000 loài cá điều này làm cho chúng trở thành nhóm đa dạng nhất trong số các động vật có dây sống. về mặt phân loại học, cá là một nhóm cận ngành mà quan hệ chính xác của nó còn gây tranh cãi nhiều
    Cá có kích thước rất đa dạng, từ loài cá nhám voi dài 16 m (51 ft) tới loài cá nhỏ chỉ dài 7 mm (trên ¼ inch , cá Schindleria brevipinguis ) tại australia , tuổi thọ : có loài sống dược 1 trăm năm như arowana ( cá rồng ) hoặc vài tháng như là .. ( ai biết điền vào :D )
    1 - SINH THÁI HỌC CÁ :
    Các loài cá có thể tìm thấy trong gần như toàn bộ các vùng chứa nước lớn, bao gồm cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt, ở các độ sâu từ mức chỉ ngay dưới bề mặt tới độ sâu vài nghìn mét. Tuy nhiên các hồ nước siêu mặn như hồ muối lớn (Great Salt Lake tại Hoa Kỳ) hay biển chết không hỗ trợ sự sinh tồn của cá. , Ở việtnam có .. sông Tô Lịch ! :)
    2 - PHÂN LOẠI :
    Cá là một nhóm cận ngành: có nghĩa là bất kỳ nhánh nào có chứa cá thì cũng chứa cả động vật bốn chân không phải là cá. cá được phân loại vào trong các nhóm chính sau đây:

    Hyperoartia
    Petromyzontidae (cá mút đá)
    Pteraspidomorphi (cá không hàm nguyên thủy)
    Thelodonti
    Anaspida
    Cephalaspidomorphi (cá không hàm nguyên thủy)
    Galeaspida
    Pituriaspida
    Osteostraci
    Gnathostomata (động vật có xương sống có hàm)
    Placodermi
    Chondrichthyes (cá sụn)
    Acanthodii
    Osteichthyes (cá xương)
    Actinopterygii (cá vây tia)
    Sarcopterygii (cá vây thùy, giống như chân)
    Actinistia (cá vây tay)
    Dipnoi (cá có phổi)
    một số nhà cổ sinh vật học cho rằng Conodonta cũng là động vật có dây sống, và vì thế coi chúng là các loại cá nguyên thủy .
    3- ĂN UỐNG VÀ TIÊU HÓA :
    + sự ra đời của các quai hàm cho phép cá ăn được nhiều chủng loại thức ăn hơn, bao gồm cây cỏ và các sinh vật khác. cá ăn thức ăn bằng miệng và sau đó bị phân tách nhỏ một phần trong thực quản. Khi thức ăn vào tới dạ dày, nó bị phân tách tiếp, và ở nhiều loài cá, quá trình phân rã tiếp theo trong các túi giống ngón tay gọi là manh tràng môn vị , manh tràng môn vị tiết ra các enzim tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng từ các thức ăn đã tiêu hóa. các cơ quan như gan và tụy bổ sung các enzym và nhiều hóa chất tiêu hóa khác khi thức ăn chuyển động trong hệ tiêu hóa. tại ruột thì quá trình tiêu hóa được hoàn thiện và các chất dinh dưỡng được hấp thụ hoàn toàn.
    4- HỆ HÔ HẤP :
    Phần lớn các loài cá trao đổi các chất khí bằng mang, là bộ phận nằm ở các bên của hầu các mang được cấu thành từ các cấu trúc tương tự như sợi chỉ gọi là các thớ mảnh. môi thớ mảnh chứa một hệ thống các mao mạch để có diện tích tiếp xúc bề mặt lớn cho việc trao đổi ôxy và điôxít cacbon. cá trao đổi khí bằng cách hút nước giàu ôxy qua miệng và đẩy chúng qua các thớ mảnh của mang. chúng sau đó đẩy nước nghèo ôxy ra ngoài thông qua các lỗ hổng ở các bên của hầu. mt số loài cá, như cá mập và cá mút đá, có nhiều lỗ hổng của mang. ty nhiên, phần lớn các loài cá có một lỗ hổng của mang trên mỗi bên của cơ thể. lỗ hổng này được che đậy bằng một lớp chất xương bảo vệ gọi là nắp mang. 1 số loài cá, như cá có phổi, đã phát triển cơ chế thích nghi để cho phép chúng có thể tồn tại trong các khu vực nghèo ôxy hay những nơi mà nước thường xuyên bị khô cạn. Các loài cá này có các cơ quan đặc biệt có tác dụng như phổi. cúng có một ống đưa không khí chứa ôxy tới cơ quan này theo đường miệng cá. mt số loài cá có phổi là những loài phụ thuộc vào việc nhận ôxy từ không khí và chúng sẽ chết ngạt nếu không được nhô đầu lên khỏi bề mặt nước .
    5 - HỆ TUẦN HOÀN :
    + Cá có hệ tuần hoàn khép kín với tim làm nhiệm vụ bơm máu vào một vòng tuần hoàn đơn trong suốt cơ thể, máu từ tim đi tới các mang, sau đó từ mang đi tới toàn bộ cơ thể, và sau đó quay ngược trở lại tim. ở phần lớn các loài cá, tim bao gồm bốn phần: tĩnh mạch xoang, tâm nhĩ, tâm thất và động mạch hình củ hành.
    +mặc dù có bốn phần nhưng tim cá vẫn chỉ là loại tim hai ngăn. Tĩnh mạch xoang là một cái túi có thành mỏng để thu thập máu từ các tĩnh mạch của cá trước khi cho nó chảy vào tâm nhĩ, là một ngăn lớn có cơ bắp. Tâm nhĩ có tác dụng như là một ngăn một chiều cho máu chảy vào tâm thất. tâm thất là ngăn có thành dày và có cơ bắp. Nó có tác dụng như một chiếc "máy bơm" thực thụ của tim. Nó bơm máu vào một ống to gọi là động mạch hình củ hành. như 1 thiết bị ngoại vi, động mạch hình củ hành nối với mạch máu lớn gọi là động mạch chủ, từ đó máu chảy tới các mang cá.
    6 - HỆ BÀI TIẾT :
    + giống như nhiều loại động vật thủy sinh, phần lớn các loài cá giải phóng các chất thải chứa nitơ dưới dạng amôniắc. một lượng nhỏ chất thải khuyếch tán qua mang vào trong môi trường nước xung quanh. phần còn lại được đưa vào thận, cơ quan bài tiết lọc các chất thải từ máu , thận giúp cá kiểm soát nồng độ NH3 ( amoniac ) trong cơ thể chúng. cá nước mặn có xu hướng mất nước do hiện tượng thẩm thấu. đối với cá nước mặn thì thận tích lũy các chất thải và trả lại càng nhiều nước càng tốt cho cơ thể. điều ngược lại diễn ra đối với cá nước ngọt, chúng có xu hướng thu nước liên tục. thận của cá nước ngọt là đặc biệt thích hợp để bơm một lượng lớn nước tiểu loãng ra ngoài. một vài loài cá có thận thích nghi đặc biệt để thay đổi chức năng của nó, cho phép cá có thể di chuyển từ môi trường nước ngọt sang môi trường nước mặn .
    7 - HỆ THẦN KINH :
    + Cá có hệ thần kinh phat triển tốt thiết lập xung quanh đại não, và được chia thành các phần khác nhau. ở phía trước là các tổ chức khứu giác hình củ hành, hỗ trợ cá trong việc ngửi. Không giống như phần lớn các động vật có xương sống khác, đại não của cá chủ yếu có tác dụng hỗ trợ khứu giác hơn là phản xạ cho toàn bộ các hành vi chủ động khác. Các thùy thị giác xử lý thông tin từ mắt. đại não phối hợp các chuyển động của cơ thể trong khi phần cuối của não nối với tủy xương or tiểu não kiểm soát chức năng của các nội tạng. phần lớn các loài cá phát triển khá tốt cơ quan khứu giác. gần như toàn bộ các loài cá kiếm ăn ban ngày có các mắt phát triển tốt có cảm nhận màu sắc tốt ít ra cũng bằng con người. nhiều loài cá còn có các tế bào đặc biệt gọi là các thụ quan có trách nhiệm đối với những giác quan bất thường về mùi vị. mặc dù cá có các tai trên đầu, nhưng nhiều loại cá không cảm thụ âm thanh tốt. tuy nhiên, phần lớn cá có các thụ quan nhạy cảm tạo thành hệ thống đường bên. hệ thống này cho phép cá phát hiện được các dao động và chuyển động nhẹ của dòng nước, cũng như để cảm nhận chuyển động của các loại cá khác ở gần nó hay của con mồi. một số loài cá như cá da trơn hay cá mập, có các cơ quan có thể phát hiện các dòng điện cực nhỏ. một số loài cá khác như lươn điện hay cá đuối điện, có thể sản sinh ra điện của chính nó.
    8 - CHUYỂN ĐỘNG :
    + Phần lớn các loài cá chuyển động bằng cách co các cặp cơ ở hai bên xương sống một cách so le. sự co cơ này tạo ra đường cong hình chữ S làm cơ thể cá chuyển động xuống dưới. Khi đường cong đạt tới vây cuối thì lực phản hồi được tạo ra, lực phản hồi này, kết hợp với các vây, làm cá chuyển động về phía trước. các vây của cá có tác dụng như là các thiết bị ổn định của máy bay. các vây cũng làm tăng diện tích bề mặt của đuôi, cho phép cá có được gia tốc lớn hơn. cơ thể thuôn của cá làm giảm ma sát khi cá chuyển động trong nước.
    + Do đa phần cơ thể có khối lượng riêng trung bình nặng hơn nước, cá phải có cơ chế bù lại sự sai biệt này nếu không chúng sẽ bị chìm do lực đẩy Ácsimét không đủ để cân bằng trọng lực. nhiều loài cá xương có một cơ quan gọi là bong bóng để điều chỉnh sức nổi của chúng thông qua điều chỉnh áp suất khí trong bong bóng. khi giảm áp suất khí trong bong bóng, bong bóng cá bị ép nhỏ lại, thể tích giảm và lực đẩy acsimét giảm, khiến cá chìm xuống. khi tăng áp suất khiến bong bóng nở ra, thể tích tăng và lực đẩy Ácsi tăng, khiến cá nổi lên.
    9 - SINH SẢN :
    Trứng cá được thụ tinh bên trong hoặc bên ngoài, phụ thuộc vào loài.
    + Cá đẻ trứng: Cá cái thông thường đẻ trứng, phôi trong trứng phát triển và nở thành cá con (cá bột) bên ngoài cơ thể cá mẹ. Sự phát triển của cá đẻ trứng con có được là nhờ các chất dinh dưỡng có trong noãn hoàn của trứng. ví dụ, cá hồi là loài đẻ trứng.
    Cá đẻ trứng thay: các trứng được bên trong bụng cá mẹ sau khi thụ tinh bên trong, mỗi một phôi phát triển độc lập bên trong trứng của chính nó. cá bột đẻ ra tương tự như phần lớn động vật có vú.
    + Cá đẻ con cho phép các phôi ở trong bụng mẹ giống như cá đẻ trứng thay. tuy nhiên, các phôi của cá đẻ con thu được các dưỡng chất cần thiết từ cá mẹ chứ không phải từ các chất có trong trứng. cá non đẻ ra giống như ở động vật có vú. một số loài cá, như một vài loài cá mập là những loài đẻ con , nuôi con bằng sữa ( cá voi xanh ) .
    + Một vài loài cá đã được nhân giống đặc biệt để nuôi trong các bể cá cảnh và có thể sống trong môi trường trong nhà. :D chúng bao gồm các loài sau : ... :")
     
  2. mynlove

    mynlove Well-Known Member

    Tham gia:
    24/3/06
    Bài viết:
    833
    Thích đã nhận:
    22
    Đến từ:
    Hà nội
    1 tài liệu sinh học bao quát cho cả họ nhà cá chứ ko đơn thuần chỉ là cho cá cảnh..bài nè hay quá..còn tiếp ko anh ơi post tiếp đi nhá !!
     
  3. reiyang

    reiyang Active Member

    Tham gia:
    10/8/08
    Bài viết:
    33
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    ho chi minh
    Bài viết rất chi tiết, cảm ơn anh nha, còn thông tin gì thì post lên nha anh ....hì hì ...
     

Chia sẻ trang này