Các bạn cho mình hỏi... chim này là chim gì ?

Thảo luận trong 'Hỏỉ đáp - kinh nghiệm' bắt đầu bởi habuon, 8/4/12.

  1. habuon

    habuon New Member

    Tham gia:
    8/4/12
    Bài viết:
    1
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    tp.HCM
    hớ... chim này là chim gì thế này ?

    [​IMG]
     
    Last edited by a moderator: 9/4/12
  2. hoctro_mechim

    hoctro_mechim Vua kí sự

    Tham gia:
    16/4/08
    Bài viết:
    1,344
    Thích đã nhận:
    30,778
    Đến từ:
    Mưa Bay
    Chim Diều Mào (Black Baza)
    Tên Tiếng anh: Black Baza
    Danh Pháp Khoa Học: Aviceda leuphotes



    Chim Diều Mào Black Baza (Aviceda leuphotes) là một loài chim săn mồi có kích thước nhỏ tìm thấy trong các khu rừng của Nam Á và Đông Nam Á. Nhiều phân loài di cư. Các loài trong khu vực Ấn Độ di cư, trú đông ở phía nam của bán đảo và Sri Lanka. Nó có chân mập mạp ngắn, và bàn chân với móng vuốt mạnh. Một đỉnh đầu là tính năng nổi bật của Bazas. Chúng được tìm thấy trong rừng rậm thường trong các nhóm nhỏ. Nó cũng biết là đậu trên cành cây nhìn ra tán rừng.



    Mô Tả:


    Đây là loài Chim khi trưởng thành Đầu, cổ, lưng, hông trên đuôi và đuôi đen. Các lông đuôi ngoài cùng viền trắng rất hẹp. Các lông ở lưng có gốc trắng, thỉnh thoảng lộ ra ngoài vài chỗ. Vai đen có vệt nâu đỏ, gốc lòng vai trắng thỉnh thoảng, lộ ra thành vệt nhỏ. Lông bao cánh và lông cánh sơ cấp đen với vệt nâu ở gốc các sợi lông. Lông cánh thứ cấp đen.
    Lông cánh tam cấp có vệt nâu đỏ và trắng như ở vai và phần dưới cổ về phía trước có một dải trắng rộng, tiếp theo phía dưới có một dải đen, đôi khi lẫn nâu. Giữa bụng và dưới đuôi đen. Phần còn lại ở mặt bụng hung có vạch nâu. Một phần dưới cánh và dưới đuôi xám. cánh còn lại đẹn. Lông cánh sơ cấp thứ ba dài nhất, gáy có mào dài. Mắt nâu đỏ. Mỏ xám xanh, mút mỏ trên đen; mút mỏ dưới trắng nhạt. Da gốc mỏ xám xanh. Chân xám chì.

    This image has been resized.Click to view original image


    Phân loại và hệ thống học

    Loài này lần đầu tiên được mô tả dựa trên một mẫu vật từ Pondicherry dưới tên của leuphotes Falco. Một số loài ở những vùng khác nhau đã được mô tả bao gồm wolfei mà là dựa trên một mẫu đơn từ Tứ Xuyên và có thể thuộc về các đề cử các phân loài.

    leuphotes (Dumont, 1820) (nói đến giống chó ở SW Ấn Độ , nhưng chứng cứ vấn Rasmussen và Anderton (2005)) được cho là loài ở Miến Điện và Thái Lan nhưng những loài thực sự có thể được coi là loài như Syama mặc dù số chim trong khu vực này có trong quá khứ được chỉ định tên của burmana
    andamanica Abdulali & Grubh, 1970 là loài đặc hữu của quần đảo Andaman (Nam Andaman I) và có phần dưới bụng hoàn toàn trắng thiếu bất kỳ những vệt màu hạt dẻ



    Phân phối

    Loài này được tìm thấy ở Đông Nam Á và một phần Nam Á. Chúng được di cư trong các phần của phạm vi của nó. Các loài chim di cư có thể được nhìn thấy với số lượng lớn tại một số địa điểm như Chumphon tại Thái Lan, nó chiếm gần 40% số loài chim ăn thịt .

    Tại miền nam Ấn Độ các loài thường xuyên thấy trong mùa đông ,chủ yếu từ Tây Ghats ,. Mùa đông các loài bao gồm sự xuất hiện rải rác trên hoặc gần các khu vực đô thị như các quốc gia Guindy Park ở Chennai, gần Trivandrum và Bangalore .Các nghiên cứu gần đây. đã gợi ý rằng các loài có thể là một loài truy cập đông thường xuyên ở phần phía Đông của bán đảo Ấn Độ, và không chỉ thông qua một di cư. Các cá nhân cũng đã được ghi nhận tại điểm Calimere.

    Các loài chim ở đông bắc Ấn Độ bắt đầu sinh sản trong tháng tư. Cả hai giới tham gia xây dựng tổ, ấp trứng và nuôi dưỡng. Tổ được lam vững chắc mỏng và lót bằng sợi, cỏ và phủ lên với các lá màu xanh lá cây. Chim ấp khoảng 26-27 ngày để nở. Côn trùng là thực phẩm chủ yếu của chim con.



    (CLB Chim Cảnh Lan anh dịch từ tài liệu Birds of the World)


    * Nguồn : www.lananhbirds.com
     
    honhorung thích bài này.

Chia sẻ trang này