Các chất quan trọng trong nước biển

Thảo luận trong 'Kỹ thuật và kinh nghiệm cá biển' bắt đầu bởi FlameAngel, 4/11/11.

  1. FlameAngel

    FlameAngel Well-Known Member

    Tham gia:
    21/9/11
    Bài viết:
    301
    Thích đã nhận:
    116
    Đến từ:
    Ha Noi
    Mình thấy bài viếtnày rất hay nên dịch rồi post lên đây hi vọng giúp mọi người có được nhữngthông tin cần thiết để chăm sóc hồ của mình ngày một tốt hơn. Cũng hi vọng mọingười cùng chia sẻ phương pháp chăm sóc hồ cá của mình để cộng đồng reefer cònhọc lỏm. Phần sau sẽ bàn về vấn đề dosing những chất gì cho hồ san hô.

    Người chơi thườngthắc mắc điều gì quyết định sự thành công của hồ cá biển. Bài viết này với mongmuốn đưa ra những lời khuyên từ kinh nghiệm của tác giả với những hợp chất đượcliệt kê trong bảng nhằm tạo được môi trường gần với tự nhiên.

    Rất nhiều lời khuyêncủa tác giả cũng như các người chơi khác có thể là khác nhau. Để làm rõ hơnnhưng yêu cầu cơ bản, một bảng liệt kê các tham số mà người chơi cần phải đảmbảo trong hồ cá của mình.

    Bảng 1 chỉ ra cáctham số cần thiết người chơi phải kiểm soát với nhiều lý do khác nhau. Bảng 2chỉ ra các tham số ít quan trọng hơn, hoặc rất khó kiểm soát, nhưng nó cũng lànhững gì mà người chơi thường quan tâm.

    Bảng 1. Các tham số quan trọng cần kiểm soát.
    Tham số:
    Yêu cầu đối với hồ cá&san hô:
    Trong nước biển tự nhiên
    Calcium
    380-450 ppm
    420 ppm
    Alkalinity
    2.5-4 meq/L
    7-11 dKH
    125-200 ppm CaCO
    3 equivalents

    2.5 meq/L
    7 dKH
    125 ppm CaCO
    3 equivalents

    Salinity
    35 ppt
    sg = 1.026

    34-36 ppt
    sg = 1.025-1.027

    Temperature
    76-83° F
    Variable2
    pH
    7.8-8.5 OK
    8.1-8.3 is better

    8.0-8.3 (can be lower or higher in lagoons)
    Magnesium
    1250-1350 ppm
    1280 ppm
    Phosphate
    < 0.03 ppm
    0.005 ppm
    Ammonia
    <0.1 ppm
    Variable (typically <0.1 ppm)


    Bảng 2. Các chất khác trong hồ.
    Parameter:
    Reef Aquaria Recommendation:
    Typical Ocean Value:1
    Silica
    < 2 ppm, much lower if diatoms are a problem
    <0.06 - 2.7 ppm
    Iodine
    Control not recommended
    0.06 ppm total of all forms
    Nitrate
    < 0.2 ppm
    Variable (typically below 0.1 ppm)
    Nitrite
    < 0.2 ppm typically
    Variable (typically below 0.0001 ppm)
    Strontium
    5-15 ppm
    8 ppm
    ORP
    Control not recommended
    Variable
    Boron
    < 10 ppm
    4.4 ppm
    Iron
    Below Kit Detection Limits (additions OK)
    0.000006 ppm

    Yêu cầu kiểm soát các chất cơ bản

    Calcium
    Nhiều loài san hô sử dụng canxi để tạo bộ xương của chúng, trong đó bao gồm chủ yếu là canxi cacbonat. Các loài sanhô hấp thụ phần lớn canxi từ nước xung quanh chúng. Do đó, canxi sẽ trở nên cạnkiệt trong một hồ san hô phát triển mạnh, tảo vôi đỏ, Tridacnids và Halimeda. Khimức canxi giảm xuống dưới 360 ppm, nó sẽ làm cho quá trình hấp thụ canxi ngày mộtkhó khăn hơn, và san hồ sẽ trở nên tăng trưởng chậm và còi cọc.

    Duy trì nồngđộ canxi là một trong những điều quan trọng nhất đối với người chơi cá biển. Hầuhết người chơi đều cố gắng duy trì nồng độ canxi ở mức xấp xỉ tự nhiên trong hồcủa họ (~ 420 ppm). Thực tế cho thấy khi tăng nồng độ canxi vượt mức tự nhiên cũngkhông giúp tăng trong hầu hết các loài san hô. Các thí nghiệm trên Stylophorapistillata là một ví dụ, cho thấy nếu mức canxi thấp sẽ làm giảm sự tăng trưởng,nhưng với mức trên khoảng 360 ppm cũng không làm tăng quá trình tăng trưởng củasan hô.
    Chính vìvậy, tác giả cho rằng nên duy trì nồng độ canxi từ khoảng 380 tới 450 ppm. Tácgiả cũng đề nghị sử dụng canxi cân bằng và hệ thống phụ gia kiềm (alkalinity)cho việc duy trì nồng độ canxi. Phổ biến nhất củaphương pháp cân bằng là vôi(kalkwasser), máy tạo canxi sử dụng CO2, và các hệ thống cung cấp hai thành phầncanxi và alkalinity.

    Nếu mức canxiquá thấp và nhu cầu được nâng lên đáng kể, thì việc lựa chọng phươgn án cân bằngkhông phải là tốt vì nó sẽ nâng cao độ kiềm. Trong trường hợp đó, nên sử dụngdung dich calcium để nâng cao canxi.

    Độ kiềm – Alkalinity
    Giống nhưcanxi, nhiều loài san hô cũng sử dụng "alkalinity" để hình thành bộxương của chúng, trong đó thành phần chủ yếu là canxi cacbonat. San hô sẽ hấpthụ bicarbonate, chuyển hóa nó thành cacbonat, và sau đó sử dụng cacbonat đó đểhình thành bộ xương cacbonat canxi. Đó là quá trình chuyển đổi này như sau:
    HCO3-CO3 - + H +


    Để đảm bảorằng san hô có một nguồn cung cấp đầy đủ bicarbonate cho quá trình phát triển, ngườichơi chỉ cần kiểm soát trực tiếp bicarbonate. Chế tạo dụng cụ đo nồng dộbicarbonate trên thực tế khó hơn nhiều so với alkalinity.

    Vì vậy, nồngđộ alkalinity là gì? Đo nồng độ alkalinity trong hồ cá biển chỉ đơn giản là mộtbiện pháp đo nồng độ của lượng axit (H +) cần thiết để giảm độ pH khoảng 4.5, điểmmà tất cả các bicarbonate được chuyển thành axit cacbonic như sau:
    HCO3-+ H + H2CO3

    Không giốngnhư nồng độ canxi, thực tế cho thấy rằng có nhiều loài sẽ phát triển nhanh hơnkhi mức alkalinity cao hơn mức tự nhiên. Kết quả này cũng đã được chứng minhtrong các tài liệu khoa học, đã cho thấy rằng việc thêm bicarbonate vào nước biểnlàm tăng tỷ lệ phát triển trên tạp chí Porites porites. Trong trường hợp này,tăng gấp đôi nồng độ bicarbonate sẽ tăng gấp đôi tốc độ phát triển. Sự hấp thubicarbonate dường như trở nên bị giới hạn trong nhiều loài san hô. Điều này cóthể là do quá trình quang hợp và phát triển bộ xương đều sử dụng bicarbonate,và nồng độ bicarbonate bên ngoài là không lớn để hấp thụ.

    Chính vìlý do này, duy trì nồng độ alkalinity là một điều quan trọng của người chơi sanhô. Trong trường hợp không có nguồn bổ sung, alkalinity sẽ giảm xuống nhanhchóng như san hô đang hấp thụ trong nước biển. Hầu hết người chơi đều cố gắngduy trì nồng alkalinity ở mức bằng hoặc hơi cao hơn so với nước biển bình thường,và mức độ thường phụ thuộc vào mong muốn của người chơi. Những người muốn tăngtrưởng nhanh nhất xương, ví dụ, thường xuyên đẩy alkalinity ở mức cao hơn. Tác giả đề nghị người chơi duy trì nồng độ alkalinitygiữa khoảng 2,5 và 4 meq / L (7-11 dKH, 125-200 ppm CaCO3 tương đương), cóthể chấp nhận mức cao nhất nếu nó không làm suy giảm nồng độ canxi.

    Nồng độkiềm cao hơn mức bình thường có thể gây ra quá trình kết tủa calcium nhanh trêncác thiết bị như là bơm, sưởi… làm giảm tuổi thọ của thiết bị. Nồng độ alkalinitylớn có thể gây ra những điều không mong muốn như giảm nồng độ canxi, …
    Tác giảcũng đề nghị sử dụng phương phán canxi cân bằng và hệ thống phụ gia kiềm (alkalinity)cho việc duy trì nồng độ canxi. Phổ biến nhất củaphương pháp cân bằng là vôi(kalkwasser), máy tạo canxi sử dụng CO2, và các hệ thống cung cấp hai thành phầncanxi và alkalinity.

    Đối với nhucầu tăng nồng độ alkalinity nhanh, người chơi có thể sử dụng phương pháp đơn giảnbaking soda hoặc washing soda để có hiệu quả tốt.

    [​IMG]

    Độ mặn
    Có rấtnhiều cách khác nhau để đo lường độ mặn, bao gồm thiết bị cảm ứng - probes,khúc xạ - refractometers, và máy đo tỷ trọng chất lỏng - hydrometers. Thườngngười ra hay sử dụng đơn vị tỷ trọng % hoặc độ mặn ppt. Trên thực tế, nước biểntự nhiên có độ mặn khoảng 35 ppt, tương ứng với tỷ trọng khoảng 1,0264.

    Trên thựctế cho thấy rằng độ mặn thường có ảnh hưởng khác nhau đối với các loài san hồvà cá. Độ mặn thấp sẽ làm cho cá ít bệnh hơn, ít bị stress nhưng sẽ làm cho sanhô không thể phát triển và có khi là tử vong. Vì vậy tác giả đề nghị nên duy trì độ mặn ở mức 1.0246 hay 35ppt.

    Nhiệt độ
    Nhiệt độtác động đến các cư dân trong hồ san hô với nhiều cách khác nhau. Trước tiên, tỷlệ trao đổi chất của chúng sẽ tăng lên khi nhiệt độ tăng. Chúng có thể sử dụngnhiều oxy , lượng khí carbon dioxide, chất dinh dưỡng, canxi và alkalinity hơn ởnhiệt độ cao hơn. Tỷ lệ này trao đổi chất cao cũng có thể tăng cả tốc độ tăngtrưởng và sản xuất chất thải ở nhiệt độ cao hơn.

    Một tác độngquan trọng của nhiệt độ là thay đổi về mặt hóa học của hồ. Độ tan của các khíhoà tan như oxy và carbon dioxide, ví dụ, những thay đổi với nhiệt độ. Oxy, rấtkhó hòa tan ở nhiệt độ cao.
    Vì vậy, ngườichơi nên kiểm soát như thế nào?. Trong hầu hết mọi trường hợp, người chơi cố gắngduy trì giống với môi trường tự nhiên. Shimek Ron đã cho thấy răng sự đa dạng củacác loài san hô được tìm thấy trong nước có nhiệt độ trung bình là khoảng 28 tới300C. Nhưng trên thực tế, trong hồ người ta thương duy trì mức nhiệtđộ thấp hơn vì rất nhiều lý do như: duy trì nồng độ oxy, làm chậm quá trình biếnđổi NH3/NH4, NO2…
    Tất cả những điều được xem xét, tác giả đề nghị bạn nênduy trì nhiệt độ trong khoảng 24 tới 280C, trừ khi bạn có một lý donào khác.


    pH
    Người chơi đã mất nhiều thời gian, công sức để lo lắng vàgiải quyết các vấn đề với nồng độ pH trong hồ của họ. Một số nỗ lực này chắc chắnlà chính đáng, như các vấn đề về pH đúng có thể dẫn đến suy giảm sức khỏe củacác cư dân trong hồ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vấn đề chỉ là sai số củathiết bị đo pH hoặc cách đọc giá trị pH của người chơi.

    Một số yếu tố làm cho việc theo dõi độ pH một hồ cá biểnquan trọng. Một là sinh vật dưới nước phát triển mạnh chỉ trong một phạm vi pHđặc biệt, thay đổi từ loài này đến loài khác. Do đó, rất khó khăn để chứng minhrằng sẽ đặc biệt tối ưu cho hồ cá với một phạm vi pH. Ngay cả độ pH nước biển tựnhiên (8.0-8.3) có thể sẽ tối ưu cho một số loài sinh vật nhất định.

    Ngoài ra,pH có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các loài sinh vật. Các độctính của kim loại như đồng và nickel đối với một số sinh vật, như mysids vàamphipods, đều gây ảnh hưởng ở các mức độ pH khác nhau. Do đó các phạm vi pH chấpnhận được của các hồ cá là khác nhưu, ngay cả khi các hồ có cùng một loài sinhvật tương tự, nhưng với nồng độ các chất kim loại khác nhau.
    Phạm vipH chấp nhận được đối với hồ san hô là một quan điểm ​​chứ khôngphải là một thực tế mô tả rõ ràng, và chắc chắn sẽ thay đổi với những nhà nghiêncứu. Thực tế là, độ pH của nước biển tự nhiên, khoảng 8.2, nhưng đã có những hồsan hô phát triển khỏe mạnh với một phạm vi thay đổi pH tương đối lớn. Theoquan điểm của tác giả, phạm vi pH 7.8-8.5là một phạm vi chấp nhận được đối với hồ san hô, nhưng hãy cẩn thận với nhữngđiều sau:

    1. Nồng độ alkalinity ít nhất 2,5 meq/L, và tốt hơn là caohơn ở mức pH thấp hơn. Cơ sở này được chứng minh một phần trên thực tế nhiều hồsan hô hoạt động khá hiệu quả trong phạm vi pH 7.8-8.0, và hầu hết những hồ nàysử dụng lò phản ứng canxi cacbonat / carbon dioxide (CO2), trong khi xu hướng hạthấp độ pH, giữ cho độ kiềm cacbonat khá cao (bằng hoặc ở trên 3 meq/L.). Trongtrường hợp này, bất kỳ vấn đề liên quan tới quá trình phát triển ở các giá trịpH thấp hơn có thể được bù đắp bởi nồng alkalinity cao hơn.

    2. Nồng độ canxi ít nhất là 400 ppm. Quá trình phát triển trởnên khó khăn hơn như độ pH và nồng độ canxi giảm. Không thể đạt được nồng độ củapH, alkalinity, và canxi cùng một lúc, vì vậy nếu độ pH thấp và không thể dễdàng thay đổi (có thể là trường hợp trong một hồ với lò phản ứng CaCO3/CO2), ítnhất là đảm bảo rằng mức độ canxi bình thường đến cao (~ 400-450 ppm).

    3. Tương tự như vậy, một trong những vấn đề ở pH cao hơn (bấtcứ khoảng nào trên 8.2, nhưng sẽ là vấn đề với bất cứ gia tăng nào) là sự bãohòa của calcium carbonate, dẫn đến giảm canxi và alkalinity, và làm tắc máy bơmhoặc sưởi... Nếu bạn đẩy độ pH lên 8.4 hoặc cao hơn (như thường xảy ra khi sử dụngvôi - limewater), hãy chắc chắn rằng cả hai mức độ canxi và alkalinity được duytrì phù hợp (có nghĩa là, không quá thấp, ức chế quá trình phát triển, cũngkhông quá cao, gây bão hòa và gây hỏng cho các trang thiết bị).

    Magnesium
    Magnesium là yếu tố quan trọng hàng đầu để giữ nồng độcanxi và alkalinity cân bằng trong hồ san hô. Nước biển và nước hồ san hô luônđược bão hòa với cacbonat canxi. Điều đó có nghĩa là, mức độ của dung dịchcanxi và cacbonat vượt quá nồng độ mà nguồn nước có thể giữ ở trạng thái cân bằng.Làm thế nào có thể thực hiện được điều đó? Magnesium là một phần của câu trả lời.Bất cứ khi nào canxi cacbonat bắt đầu kết tủa, magnesium sẽ liên kết với bề mặtngày càng tăng của các tinh thể canxi cacbonat. Magnesium có chức năng bịt kínbề mặt tinh thể để nó không thể thu hút thêm canxi và cacbonat, và sự kết tủa dừnglại.

    Vì lý donày, tác giả đề nghị duy trì nồng độ magnesiumgiống với nước biển tự nhiên: ~ 1285 ppm. Đối với mục đích thực tế, 1250-1350ppm là ổn, và mức độ nhỏ bên ngoài phạm vi đó (1200-1400 ppm) cũng có khả năngchấp nhận được. Bạn không nên tăng magnesium cao hơn 100 ppm mỗi ngày,trong trường hợp cần bổ sung magnesium bạn nên tăng làm nhiều ngày để có thể cóđược kết quả mong muốn mà không gây ra sự thay đổi tệ hại nào.
    Một hồ sanhô và coralline có thể làm cạn kiệt magnesium bằng cách hấp thụ nó để phát triểnbộ xương canxi cacbonat. Nhiều phương pháp bổ sung canxi và alkalinity có thểkhông cung cấp đủ magnesium để duy trì nó ở mức độ bình thường. Sử dụng vôi(kalkwasser), đặc biệt là khá thiếu magnesium. Do đó, magnesium nên đo thườngxuyên, đặc biệt là nếu canxi và alkalinity rất khó khăn để duy trì. Hồ với lượngkết tủa quá nhiều canxi cacbonat trên các thiết bị chẳng hạn như lò sưởi và máybơm có thể bị ảnh hưởng từ mức magnesium thấp (cùng với nồng độ cao của pH,canxi, và alkalinity).

    Phosphate – PO4
    PO4 cótrong hồ đơn giản là bắt nguồn từ các hợp chất vô cơ orthophosphate (H3PO4,H2PO4-, HPO4 -, PO4 ….). Nó cũng có mặt trong nước biển tự nhiên, nồng độ củanó thay đổi rất nhiều từ nơi này đến nơi khác, và theo độ sâu và thời giantrong ngày. Như là đối với bề mặt đại dương, PO4 có tiêu chuẩn yêu cầu rất thấpđối với hồ san hô, đôi khi chỉ 0.005ppm.

    PO4 giatăng chủ yếu do thức ăn, nhưng cũng có thể tới từ nguôn nước RO bổ sung vào hồ,hoặc trong các dung dịch cung cấp calcium và alkalinity.
    Nếu PO4vượt trên mức tự nhiên, nó có thể gây ra hai kết quả không mong muốn. Một là sựức chế sự phát triển. Nghĩa là, nó có thể làm giảm tốc độ mà san hô và tảo rongsan hô có thể xây dựng bộ xương cacbonat canxi, hoặc còi cọc.

    PO4 caocòn gây ra sự phát triển của các loài rêu và tảo không mong muốn. Vì vậy, ngănchặn sự phát triển của tảo bằng cách kiểm soát mức độ PO4 rất thấp.
    Đối vớinhững lý do này, PO4 nên được duy trì dướimức 0.03 ppm. Cho dù duy trì mức độ dưới 0.01 ppm sẽ mang lại lợi ích đángkể, nhưng đó vẫn là một mục tiêu mà một số người chơi đang theo đuổi với nhiềucách khác nhau để khử PO4. Cách tốt nhất để duy trì nồng độ PO4 thấp là sử dụngkết hợp các phương pháp như: Nuôi các loài rong macroalgae hoặc sinh vật pháttriển nhanh chóng khác, sử dụng các loại thực phẩm mà không có quá nhiều PO4, skimmer,sử dụng vôi, và sử dụng các phương pháp hóa học đặc biệt hiệu quả là oxit sắt...

    [​IMG]

    Amoniac – NH3
    Amoniac(NH3) được bài tiết bởi tất cả các động vật và các cư dân trong hồ. Thật khôngmay, nó rất độc hại đối với hầu hết các loài động vật, mặc dù một số khác thì không,chẳng hạn như một số loài macroalgae sẵn sàng hấp thụ NH3.

    Trong mộthồ san hô ổn định, chất thải amoniac thường được các loài tảo – Macroalgae nhanhchóng hấp thụ để tạo ra các protein, DNA, và các chất hóa sinh khác có chứanitơ. Vi khuẩn - Bacteria cũng có thể hấp thụ NH3 chuyển đổi nó thành nitrit,nitrat, và khí nitơ ("chu kỳ nitơ"). Tất cả những hợp chất này ít độchại hơn so với amoniac (ít nhất là cho cá), do đó chất thải ammonia sẽ nhanhchóng "phân hủy" trong điều kiệnbình thường.
    Tuy nhiêntrong một số trường hợp, ammonia cần được quan tâm tới. Trong quá trình setup banđầu của một hồ san hô, hoặc khi sống đá hoặc cát được thêm vào, một số lượng lớnammoniac sẽ làm cho hệ thống lọc sinh học của hồ quá tải và không thể phân hủytrong một thời gian ngắn. Trong những trường hợp này, cá có nguy cơ rất lớn. Amoniac ở mức thấp là 0.2 ppm cũng có thể gâynguy hiểm cho cá. Trong trường hợp như vậy, cá và động vật không xương sốngnên được di chuyển ra khỏi hồ để nước sạch hơn, hoặc bể cá phải được xử lý vớimột sản phẩm ammonia ràng buộc như Amquel.

    Nhiều ngườichơi đang bối rối bởi sự khác biệt giữa amoniac và các hình thức của nó đượccho là ít độc hại hơn: amoni. Lý do duy nhất mà amoni được cho là ít độc hạihơn amoniac là một phân tử tích điện, nó đi qua mang của các loài cá và đi vàomáu của chúng khó khăn hơn nhiều so với ammonia

    Yêucầu kiểm soát các loại chất khác:

    Silica
    Silica đặt ra hai vấn đề. Nếu vấn đề là rêu trong một hồcá đã ổn định, điều đó có thể từ một nguồn đáng kể của silica hòa tan, đặc biệtlà nước. Trong trường hợp đó, làm sạch nguồn nước có thể sẽ giải quyết được vấnđề. Trong thực tế, khi tiến hành đo nồng độ silica không thể đánh giá được bởivì rêu thường hấp thụ rất nhanh khi chúng được đưa vào hồ.

    Nếu rêukhông phải là một vấn đề, tác giả đề nghị người chơi nên xem xét liều lượngsilica hòa tan để bổ sung. Tại sao lại phải bổ sung nguồn silica? Phần lớn làvì các sinh vật trong hồ của chúng ta sử dụng nó, nồng độ trong nhiều hồ ở dướimức tự nhiên, và do đó bọt biển, động vật thân mềm, và rêu sống ở hồ này có thểkhông nhận được đủ silica để phát triển mạnh.
    Tác giả đềnghị sử dụng dung dịch natri silicat - Na2SiO3, vì nó là hợp chất dễ dàng hòa tan của silica. Tác giả sửdụng một số lượng lớn dung dịch natri silicat (nước thủy tinh), mà là rất rẻ tiền.Bạn có thể tìm thấy nước thủy tinh trong các cửa hàng vì người tiêu dùng sử dụngnó cho các hoạt động như bảo quản trứng.

    Dựa trênkinh nghiệm bổ sung của tác giả, người chơi có thể bổ sung 1 ppm SiO2 từ 1-2 tuầnmột lần trong điều kiện an toàn. Điều này được dựa trên quan sát thực tế cho thấytrong vòng 4 ngày khi bổ sung silica mà không có bất kỳ phản ứng tồi tệ nàotrong hồ san hô. Nếu bạn nhận thấy quá nhiều rêu bạn chỉ cần giảm lượng bổ sungxuống. Tác giả cho rằng tất cả các silica đã bổ sung vào hồ đều được sử dụng bởicác sinh vật khác nhau (bọt biển, rêu, vv), nhưng có lẽ hồ của tác giả có nhiềubọt biển hơn người khác.

    [​IMG]

    Iốt – Iondine

    Tác giảkhông bổ sung Iodine cho hồ của mình, và cũng không khuyên những người chơikhác phải làm như vậy. Bổ sung Iodine phức tạp hơn nhiều so với các ion khác docó quá nhiều các hợp chất tự nhiên, hoặc các chất mà người chơi bổ sung đều cóchứa Iodine.
    Vì những lý do này, tác giả khuyếncáo người chơi không nên cố gắng để duy trì mức iodine bằng dụng cụ đo và dungdịch bổ sung.

    Nitrate – NO3

    Nitratelà một ion mà từ lâu đã là một vấn đề hóc búa với người chơi. Nitơ được hìnhthành từ thức ăn, và có thể, trong nhiều hồ, mức NO3 cao đủ để làm cho duy trìmức độ tự nhiên rất khó khăn. Một hoặc hai thập kỷ trước đây, người chơi sử dụngphương án thay nước để làm giảm NO3. May mắn thay, bây giờ chúng ta đã có rấtnhiều phương pháp để giữ NO3 trong tầm kiểm soát, và hiện tại số hồ bị NO3 cao íthơn nhiều so với những người chơi trongquá khứ.
    Nitratethường liên quan với tảo, và thực tế sự phát triển của tảo thường được thúc đẩybởi các chất dinh dưỡng dư thừa, bao gồm cả nitrat. Các loài gây hại khác, chẳnghạn như loài tảo dinoflagellates, cũng phát triển nhờ nitrate và các chất dinhdưỡng dư thừa. Nitrate không gây độc hại ở các mức độ nguy hiểm thường được tìmthấy trong hồ, ít nhất là cho đến nay được biết đến trong các tài liệu khoa học.Tuy nhiên, nồng độ nitrate cao quá mức có thể thúc đẩy sự phát triển củazooxanthellae, do đó thực sự có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của san hô.

    Đối vớinhững lý do này, người chơi hầu hết đang cố gắng để giữ cho nồng độ nitrate thấpnhất. Một mục tiêu tốt là ít hơn 0.2 ppmnitrate. Hồ san hô có thể hoạt động ở mức nitrate cao hơn nhiều ( 20 ppm),nhưng sẽ gặp phải các rủi ro lớn hơn trong những vấn đề được mô tả ở trên.
    Có nhiều cáchđể giảm nitrate, bao gồm cả việc giảm các thức ăn chứa nhiều nitơ, tăng khửnitơ bằng skimmer, tăng hấp thụ nitơ bằng cách trồng các loài tảo, sử dụng cátrải nền – deep sand bed, sử dụng máykhử dùng carbon, hoặc dùng sulfur, hay sử dụng AZ-NO3, sử dụng các chất rắn hấpthụ nitrate,…

    Nitrite– NO2
    Ngườichơi cá nước ngọt thường quan tâm tới NO2 nhiều hơn. NO2 ít độc hại hơn nhiều lầntrong nước biển so với nước ngọt. Cá thường có thể sống sót trong nước biển vớinồng độ NO2 lớn hơn 100 ppm, nitrit không phải là một tham số quan trọng đối vớingười chơi hồ nước mặn để theo dõi. Tronghầu hết các trường hợp, tác giả khuyến cáo không nên theo dõi NO2 khi hồ đã ổnđịnh.

    Strontium
    Tác giả đềnghị duy trì nồng độ strontium trong hồ san hô trong phạm vi 5-15 ppm. Mức độcó khoảng chênh lệch so với nước biển tự nhiên là 8 ppm. Tác giả khuyến cáo không nên bổ sung strontium, trừ khi nồng độstrontium kiểm tra thấy ở mức dưới 5 ppm. Đo lường và bổ sung strontium khôngphải là một vấn đề khó khăn đối với người chơi.

    Trong mộtsố thử nghiệm gần đây, tác giả thấy rằng trong hồ san hô của mình, không có bấtkỳ bổ sung strontium nào, nhưng strontium vẫn duy trì trên mức tự nhiên (15 ppmdo strontium cao trong hỗn hợp muối InstantOcean mà tác giả đã sử dụng – mình cũng đang xài muối này mua từ Lâm Nemo).Do đó, bổ sung thêm mà không biết mức độ strontium hiện tại của hồ là khôngnên. Bằng chứng khoa học cho thấy một số sinh vật cần strontium, mặc dù không phảilà sinh vật mà hầu hết các san hô cần để duy trì và phát triển, tuy nhiên, rõ ràng nó sẽđộc hại ở nồng độ cao. Trong một báo cáo khoa học, mức strontium 38 ppm đủ đểcó thể giết một loài cua (Carcinus maenas). Không có bằng chứng nào cho thấy rằngmức strontium 5-15 ppm là có hại cho bất kỳ sinh vật biển, mặc dù nó được biết khôngphải là mức độ strontium tối ưu.
    Làm thếnào chúng ta có thể duy trì mức độ strontium như trong tự nhiên? Tất nhiên là bổsung, điều này cần dụng cụ. Nếu kết quả ở trong khoảng 5-15 ppm, không cần phảilàm bất cứ điều gì. Nếu mức độ cao hơn 15 ppm, phương pháp đơn giản nhất chỉđơn giản là thay nước với loại muối phù hợp. Nếu nồng độ strontium dưới 5 ppm, bổsung thêm strontium theo nồng độ phù hợp.

    Nhìn chung, thay nước với một hỗn hợpmuối có chứa một mức độ phù hợp của strontium có thể là cách tốt nhất để giữstrontium ở mức độ theo yêu cầu.
    [​IMG]

    ORP – nồng độ oxy

    Tác giảkhuyến cáo người chơi không nên kiểm soát ORP.

    Nồng độoxy hòa tan (ORP) biểu thị mức độ hòa tan của oxy trong nước. ORP thường được khuyếncáo với người chơi như là một tham số quan trọng, và một số công ty đã bán cácsản phẩm để kiểm soát ORP. Thông thường ngày nay, người chơi cá chỉ kiểm soátORP trong hai trường hơp:

    · Chạy máysục khí Ozon để diệt khuẩn, họ sẽ dùng máy kiểm soát ORP để bật hay ngắt mạyOzon khi nồng độ oxy hòa tan vượt ngưỡng tiêu chuẩn.

    · Sử dụng đểđiều khiển máy khử NO3 để kiểm soát môi trường yếu khí trong máy khử.

    Người chơi nên duy trì nồng độ ORP ởmức từ 300 tới 450mV.

    Lượcdịch từ nguồn Reef Aquarium Water Parameters by Randy Holmes-Farley


    ---------- Bài viết thêm vào lúc 01:34 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 01:29 PM ----------


    Lúc post thì bảng ko sao, các bác chịu khó xem cái này vậy nhá
    [​IMG]
     
  2. beggarUK

    beggarUK Well-Known Member

    Tham gia:
    11/2/10
    Bài viết:
    1,248
    Thích đã nhận:
    585
    Đến từ:
    Hải Phòng
    Bài dịch hay quá, cuối cùng thì cũng có người tìm ra nguồn về quan điểm NO2 ko hề gây hại trong nước mặn, cái này làm e đau đầu mất mấy đêm, nhưng quả thực đến giờ vẫn chưa được giải thích cụ thể.

    Còn về ORP e cũng đang muốn lao đầu vào để thử nên đang chờ thời cơ đến, do cũng tìm hiểu nên e xin bổ sung chút ít vào cái này.

    ORP - Oxidation reduction potential - ko chỉ về nồng độ oxy hòa tan mà còn về độ phản ứng của các dạng oxy nhằm giảm các nguyên tố trong nước (cả độc cả hại)

    Lợi ích của ozone khi tăng ORP
    - Tăng độ trong của nước tới mức tối đa (kể cả carbon cũng ko bằng)
    - Tăng khả năng xuyên sáng cho đèn
    - Giảm hiện tượng nước vàng
    - Giảm rêu
    - Giảm cyanobacteria
    - vừa tăng vừa giảm lượng chất thải lấy ra của skimmer (hehehe cái này giải thích phức tạp chết luôn)
    - Giảm NO3
    - Thay thế chu trình nitrogen
    - Giảm các loại vi khuẩn gây bệnh
    - Nước sạch hơn (theo nghĩa khử được các nguyên tố gây bẩn gây độc)

    Lợi ích nhìn thì hoành tráng như thế, nhưng nếu ozone ko được sử dụng 1 cách khoa học, thì sẽ dẫn tới ko chỉ chết cá mà có khi cả ... chết người hix hix
     

Chia sẻ trang này