GÀ RỪNG VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU

Thảo luận trong 'Gà rừng' bắt đầu bởi VIPXILIP, 23/11/12.

  1. VIPXILIP

    VIPXILIP Well-Known Member

    Tham gia:
    25/8/12
    Bài viết:
    308
    Thích đã nhận:
    548
    Đến từ:
    ๑۩۞۩๑_CAMPUCHIA_๑۩۞۩๑
    Trích đề tài Bảo tồn gà rừng tai đỏ (Gallus gallus spadiceus)
    tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
    Chủ nhiệm đề tài : BS Thú Y Hoàng Xuân Thủy



    1. Nghiên cứu ngoài nước.
    Theo tổ chức Nông-Lương thế giới (FAO), nguồn gen động vật bao gồm cả động vật được thuần hóa, động vật hoang dã và nó đóng vai trò rất quan trọng đối với loài người. Năm 1980, một chiến lược bảo tồn giống vật nuôi được thực hiện trên phạm vi toàn cầu, khu vực và từng quốc gia. Nội dung đã được FAO và cơ quan bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) hợp tác xây dựng. Chương trình đề ra 4 nội dung cơ bản chính:
    - Bảo tồn bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý.
    - Ngân hàng dữ liệu nguồn gen động vật.
    - Đào tạo nâng cao năng lực cho nguồn lực con người tham gia chương trình bảo tồn.
    - Lưu giữ vật liệu di truyền.
    Về phương pháp bảo tồn, các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra 2 phương thức:
    - Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Là bảo tồn một loài nào đó ngay tại môi trường sống tự nhiên của nó. Để đạt được mục đích tái lập quần thể muốn bảo tồn, người ta bảo vệ khu vực sinh sống khỏi các tác động có hại từ con người hay các loài khác.
    - Bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation): Là quá trình bảo tồn ở bên ngoài môi trường sống tự nhiên của một loài nào đó. Phương pháp này chuyển một phần quần thể từ nơi cư trú bị đe dọa đến một chỗ mới (khu sinh thái khác hay vườn thú, các trang trại bảo tồn…). Hình thức này cũng bao gồm cả việc duy trì, nuôi cấy, lưu trữ gen trong phòng thí nghiệm (giữ tinh trùng, trứng hoặc phôi).
    Việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các giống vật nuôi đã được dư luận, các nhà khoa học nhiều quốc gia quan tâm, chú ý từ nhiều thập kỷ qua. Đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ các loài động vật quý hiếm khỏi sự tuyệt chủng. Với sự ra đời của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi là Quỹ quốc tế về thiên nhiên (WWF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã chứng tỏ điều đó (Lê Viết Ly, 2004). Ngoài ra, nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái khác nhau, tại nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Hiệp định về cấm buôn bán các loài động vật quý hiếm đã được ký và thi hành có hiệu quả. Sách đỏ (Red book) đã được Uỷ ban các loài động vật sống sót (Species Suvival Commission của IUCN) xuất bản. Nhờ đó nhiều loài động vật bị đe doạ tuyệt chủng đã được bảo hộ, nhiều loài biến mất trong tự nhiên đã được khôi phục và đưa trở lại môi trường sống của chúng.
    Trong những năm 1970, châu Âu đứng trước nguy cơ một số giống vật nuôi truyền thống bị biến mất. Một nhóm người có tâm huyết ở Anh đã thành lập nên tổ chức các giống vật nuôi hiếm (Rare Breerss Suvival Trust), sau đó là Hiệp hội chăn nuôi Châu Âu (EAAP). Kết quả điều tra thống kê cho thấy có 240 giống vật nuôi có nguy cơ bị biến mất. Từ đó hầu hết các nước Châu Âu đều có chương trình bảo tồn vật nuôi.
    Khái niệm “Label Rouge” xuất xứ từ Pháp những năm đầu thập kỷ 60 và ngày nay phổ biến khắp thế giới dùng để chỉ gà thả vườn chất lượng cao và các loài gia cầm chăn thả khác. Pháp là nuớc nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà “Label Rouge” nhiều nhất thế giới: Năm 1996 là 90 triệu con, sản xuất trên 133.000 tấn thịt sạch chất lượng cao, chiếm khoảng 20% sản lượng thịt gà và trên 10% tổng sản lượng thịt gia cầm (Đoàn Xuân Trúc, 1999).
    Theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998), công ty Kabir đã tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu, trong đó có 13 dòng nổi tiếng được rất nhiều nước ưa chuộng. Nhiều dòng có lông màu đỏ nhạt hoặc vàng, chân và da màu vàng, thịt chắc, đậm, thơm ngon, khả năng thích nghi cao, kháng bệnh tốt, ít ảnh hưởng bởi các stress nên tỷ lệ sống cao, khả năng cho thịt tốt và phù hợp với nhiều phương thức chăn nuôi.
    Đối với loài gà rừng (Galllus gallus) từ rất lâu loài người đã có ý thức thuần hoá và lai tạo ra nhiều các giống gà ngày nay (khoảng 150 giống gà khác nhau). Rất có thể gà rừng đã được con người thuần dưỡng để lấy thịt từ thời săn bắt hái lượm. Theo các tài liệu khảo cổ học đã được công bố trong thập niên 1980 và dựa vào các di vật tìm được trong thung lũng Indus tức Pakistan ngày nay, giới khoa học cho rằng, loài gà rừng đã được con người thuần dưỡng vào khoảng 4000 năm trước công nguyên.
    Trong cuốn “Origin of species” Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả các giống gà trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Ắ. Trong một bài viết cho tập san National Geographic, W.G. Solheim II nhận xét rằng Đông Nam Ắ là nơi phát triển nền chăn nuôi đầu tiên trên trái đất. Gần đây, có hai nghiên cứu từ Nhật cho thấy giống gà Shamo, đây là một giống gà nòi được nuôi chủ yếu cho thể thao đá gà có nguồn gốc từ Đông Dương và Miền Nam Trung Quốc ngày nay.
    Hiện nay với công nghệ sinh học hiện đại, việc nghiên cứu về gà rừng đã có những đột phá mới. Các nhà nghiên cứu thuộc viện y tế quốc gia Mỹ tuyên bố đã hoàn thành giải mã gen gà rừng, tổ tiên của các loài gà nhà hiện nay. Họ đã đặt bản đồ gen gà rừng và bản đồ gen của con người song song với nhau, để giúp các nhà khoa học so sánh và hiểu được bộ máy sinh hoá của chính con người.
    Những năm gần đây, dịch cúm gia cầm thường xuyên bùng phát tại Châu Ắ, đã thôi thúc các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn về bộ gen gà rừng. Các chuyên gia nông nghiệp hy vọng rằng bản đồ gen của gà rừng là một cơ sở rất quan trọng giúp họ định hướng, lai tạo để cải thiện được nhiều giống gia cầm, giúp điều tra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng chống hiệu quả hơn về loại dịch bệnh nan y này.

    2. Nghiên cứu trong nước.
    Hiện nay Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang nổi cộm lên hiện tượng suy thoái, mất dần tính đa dạng sinh học của các loài động vật. Nhiều loài động vật quí, có quá trình thích nghi lâu đời với điều kiện khí hậu ở nước ta đang bị mai một, thậm chí tuyệt chủng. Nước ta có khoảng 275 loài thú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2470 loài cá, 5500 loài côn trùng... tính độc đáo của sự đa dạng sinh học này là rất cao. Có 10% loài thú, chim và cá của thế giới tìm thấy ở Viêt Nam. Ngày nay do việc tăng dân số cùng với tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến một số loài chim, thú có nguy cơ bị diệt chủng. Các nhà khoa học cho biết, nước ta có tới 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bó sát và lưỡng thê đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Trong số 53 loài động vật quý hiếm đưa vào sách đỏ Việt Nam thì có 10 loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, 18 loài ở tình trạng nguy cấp, 22 loài thuộc diện hiếm, 3 loài thuộc loại thoát hiểm. Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hoá (Lê Viết Ly, 2004).
    Trong xu thế trên, sự mai một các loài vật nuôi và các loài hoang dã ở các địa phương trên toàn quốc đang ở mức trầm trọng. Trước tình hình đó, nhà nước ta đã có nhiều dự án nghiên cứu bảo tồn, phát triển nhiều loài động vật bản địa. Đây là các loài mang nhiều đặc điểm quý như khả năng chống chịu bệnh cao, ít đòi hỏi về chế độ ăn và chế độ chăm sóc cầu kỳ, nhưng lại cho tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, thịt rất thơm ngon và một số loài còn có thể nuôi làm vật cảnh. Trong việc khai thác và bảo vệ sự phong phú đa dạng các giống vật nuôi hiện nay, việc nghiên cứu, bảo tồn các giống gà hoang dã bản địa đang là vấn đề thiết thực và cấp bách. Tình hình bảo tồn quỹ gen vật nuôi trong nước hạn chế ở việc phát hiện các giống quý hiếm, việc bảo tồn và phát triển giống mới chỉ được quan tâm ở các cơ sở giống quốc gia. Các nghiên cứu bảo tồn giống do địa phương (cấp tỉnh) thực hiện không nhiều.
    Nghiên cứu của Lê Văn Viễn, Pham Ngọc Uyển (2005) góp phần khẳng định chất lượng của các giống gà địa phương cũng như tính ưu việt của các giống này, như: Thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam, khả năng tự kiếm ăn tốt thích hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống và đặc biệt có sức đề kháng cao với một số bệnh. Đây là nguồn gen quý cần được đầu tư nghiên cứu và bảo tồn.
    Một thực trạng bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong công tác bảo tồn giống ở nước ta nói chung và bảo tồn quỹ gen gà địa phương nói riêng là tình trạng nguồn gen địa phương không bị tuyệt chủng mà bị lai tạp.Thực trạng xói mòn nguồn gen được lý giải:
    - Sự thiếu hoặc chưa quan tâm đúng mức của cơ quan chức năng do kinh phí hạn hẹp.
    - Người dân chưa ý thức được giá trị của giống địa phương, cũng như sự thờ ơ do hiệu quả kinh tế thấp mà con giống mang lại.
    Đánh giá một số nét của công tác bảo tồn giống vật nuôi ở nước ta cho thấy: Giống địa phương quý hiếm đang trong nguy cơ bị lai tạp hoặc tuyệt chủng, trong khi đó dự án lớn của Quốc Gia phục vụ công tác bảo tồn giống không nhiều và cuối cùng là muôn vàn khó khăn nảy sinh trong công tác bảo tồn. Vì vậy, hơn ai hết, mỗi địa phương cần có chương trình hành động góp phần thu thập, bảo tồn và phát triển giống vật nuôi địa phương nói chung và các giống gà rừng nói riêng.
    Nước ta hiện nay có 3 phân loài gà rừng, đó là: Gallus gallus gallus, Gallus gallus jabouillei và Gallus gallus spadiceus. Phân biệt các phân loài này ở các điểm khác nhau theo tác giả Võ Quí (1971) thì phân loài G. g. gallus có da yếm tai màu trắng, lông cổ rất dài và có màu đỏ cam, còn phân loài G. g. jabouillei có da yếm tai màu đỏ, lông cổ ngắn hơn và cũng có màu đỏ cam và G.g. spadiceus da yếm tai cũng màu đỏ, nhưng lông cổ khá dài và có màu đỏ thẫm.
    Năm 1995 tác giả Trương Văn Lã - Viện sinh thái tài nguyên sinh vật đã báo cáo về công trình nghiên cứu “Góp phần nghiên cứu nhóm chim trĩ và đặc điểm sinh học, sinh thái của gà Rừng tai trắng (Gallus gallus gallus), Trĩ bạc (Lophura nycthemera nycthemera), Công (Pavo muticus imperator) và biện pháp bảo vệ chúng”. Lần đầu tiên tác giả đã công bố được những khám phá bước đầu về tập tính, thức ăn, phân bố, cấu trúc đàn, sinh sản về phân loài gà Rừng tai trắng.
    Tóm lại: Nhìn lại tổng quan về loài gà rừng cho thấy, hiện nay các công trình nghiên cứu được tiến hành không nhiều, có trăng việc nghiên cứu mới chỉ tập chung vào việc điều tra khảo sát, đánh giá phân loại và xác định khu hệ là chính, còn việc tìm hiểu sâu về tập tính sinh thái và các đặc điểm sinh học còn rất hạn chế. Đặc biệt là việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển nhằm khai thác các giá trị kinh tế về loài gà rừng thì vẫn chưa được chú trọng.
     
    loc ct, CM Sở Sao, bentom and 3 others like this.

Chia sẻ trang này