Gác cu - thú chơi nhưng cũng là một nghề đối với một số người !

Thảo luận trong 'CHIM CU GÁY (Streptopelia)' bắt đầu bởi anhhn, 18/7/08.

  1. anhhn

    anhhn Well-Known Member

    Tham gia:
    7/3/08
    Bài viết:
    93
    Thích đã nhận:
    44
    Đến từ:
    Bắc Việt
    Gác cu

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)


    Gác cu là một hình thức bẫy chim cu bằng lồng bẫy có sử dụng chim mồi. Nó là một thú tiêu khiển nhưng cũng có thể là một nghề để kiếm sống ở Việt Nam.
    <SCRIPT type=text/javascript>//<![CDATA[ if (window.showTocToggle) { var tocShowText = "xem"; var tocHideText = "giấu"; showTocToggle(); } //]]></SCRIPT>
    Công cụ

    • Lồng bẫy: lồng bẫy là lồng chim được ngăn thành hai phần, một phần để nhốt chim mồi và một phần có cửa được thiết kế lẫy để có thể sập xuống và nhốt chim sa bẫy. Thời xưa, lồng bẫy thường được làm bằng tre nhưng ngày nay làm bằng dây thép cho bền chắc và dễ chế tác hơn. Các mặt của lồng bẫy thường được che phủ bằng vải hoặc cành lá, chỉ để hở mặt có cửa sập nhằm dẫn dụ chim cu vào phía đó.
    • Gậy: thường được làm bằng tre, trúc và có thể có nhiều đoạn nối dài được với nhau cho tiện dụng, ở đầu gậy có móc để tiện treo lồng bẫy và gạt cành, lá ở vị trí treo lồng.
    • Ống kích: một số người bẫy chim cu còn có thêm một dụng cụ gọi là ống kích, tương tự như ống sáo nhưng ngắn hơn và khi thổi phát ra âm thanh giống tiếng cu gáy để dụ cho chim mồi gáy.
    • Chim mồi: là chim cu gáy trống đã được thuần dưỡng, có tiếng gáy tốt để có thể dụ cho chim trời sa bẫy.
    Cách thức

    Người bẫy chim mang theo công cụ đến khu vực có chim trời và khi phát hiện tiếng chim trời gáy thì chọn vị trí để treo lồng bẫy. Vị trí treo lồng phải được lựa chọn cẩn thận sao cho các cành cây gần đó thuận tiện cho chim trời đậu trước khi tiếp cận chim mồi ở hướng dễ sa bẫy nhất. Sau khi treo lồng bẫy, người bẫy chim tìm chỗ kín để ẩn nấp và theo dõi kết quả. Chim cu gáy là loài sống định cư và vào mùa sinh sản, chim trống cạnh tranh nhau để giành chim mái nên khi phát hiện tiếng chim mồi gáy, chim trời gần đó sẽ phản ứng lại để khẳng định "chủ quyền". Trước tiên chim trời sẽ dùng tiếng gáy để gửi thông điệp cho chim mồi - kẻ xâm phạm lãnh địa và nếu tiếng gáy không giải quyết được vấn đề thì nó sẽ tiếp cận chim mồi để phân định thắng bại bằng sức mạnh cơ thể. Lồng bẫy đã được bố trí để chim trời tiếp cận ở hướng có cửa sập nên khi chạm vào lẫy, chim trời sẽ sập bẫy. Người bẫy chim khi ẩn nấp phải tránh không gây ra tiếng động khiến chim trời sợ và bay đi đồng thời theo dõi diễn biến cuộc cạnh tranh giữa chim mồi và chim trời. Cảm giác căng thẳng, hồi hộp khi chờ đợi cũng như niềm vui khi bắt được hay nỗi thất vọng khi không bắt được chim trời chính là tính hấp dẫn của gác cu. Tuy nhiên, trên thực tế gác cu đòi hỏi nhiều thời gian và công sức vì ngoài các yếu tố ngoại cảnh khiến cho chim trời bị đánh động và bỏ đi, chim trời có thể chỉ sử dụng tiếng gáy chứ không tiếp cận chim mồi dẫn đến gác cu không đạt kết quả. Do đó để bẫy được một con chim cu gáy, người đánh bẫy có thể mất nhiều ngày nhưng những con chim bắt được theo cách này thường có tiếng gáy hay, giá trị cao.

    Biến thể

    • Gác cu theo truyền thống phải treo lồng trên cành cây, đặt lồng xuống đất tạo điều kiện cho chim trời dễ tiếp cận chim mồi ở hướng có cửa sập hơn nhưng người đánh bẫy thường không áp dụng vì như vậy sẽ mất đi cái thú và thậm chí coi đó là hạ thấp giá trị của gác cu.
    • Một cách để bẫy chim cu còn gọi là "gác lưới" rất khác với cách trên, chim mồi được buộc dây để đậu trên mặt đất hoặc sát mặt đất và dùng lưới bố trí quanh đó. Khi chim trời bị dụ tới, người đánh bẫy giật cho lưới sập. Cách này có hiệu suất bắt chim cao vì nhanh chóng và có khi bắt được nhiều chim trời một lúc nhưng không được coi là thú chơi mà chỉ dùng bẫy chim làm thực phẩm.
    Hiện nay, việc đánh bẫy chim cu gáy dưới mọi hình thức ở Việt Nam gần như chưa được kiểm soát.

    Ca dao

    <DL><DD>Ở đời có bốn cái ngu: <DD>Làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu. </DD></DL>
     
  2. anhhn

    anhhn Well-Known Member

    Tham gia:
    7/3/08
    Bài viết:
    93
    Thích đã nhận:
    44
    Đến từ:
    Bắc Việt
    <TABLE class=contentpaneopen><TBODY><TR><TD class=contentheading width="100%">Đi mồi chim cu gáy </TD><TD class=buttonheading align=right width="100%"></TD><TD class=buttonheading align=right width="100%"></TD><TR><TD class=createdate vAlign=top colSpan=2>15:18 09/11/2007 </TD></TR></TR></TBODY></TABLE><TABLE class=contentpaneopen><TBODY><TR><TD vAlign=top colSpan=2><TABLE style="WIDTH: 1px; HEIGHT: 0px" cellSpacing=3 cellPadding=0 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top align=left>[​IMG]
    </TD></TR><TR height=1><TD vAlign=top align=left>Ông Võ Văn Tiếc treo lồng chim mồi, bắt đầu một ngày "gác cu".
    </TD></TR></TBODY></TABLE>Tuổi thơ gắn với đồng bãi, gò đồi và những rặng tre xanh luôn rì rào những bài ca bất tận về thiên nhiên hoang dã. Và quả thật nếu không có những thú vui dân dã, hẳn cuộc sống vốn rất nhiều toan lo của người dân quê dễ “khô cằn”. Mồi chim cu gáy, một trong những “thú vui” ấy, vẫn thường được nhắc đến như nghề chơi lắm công phu.
    Ở quê bây giờ những người theo nghề mồi cu gáy không nhiều. Ông Võ Văn Tiếc - thôn trưởng thôn Đồng Nghệ, xã Tam Ngọc (Phú Ninh) cũng quả quyết như vậy. Ông Tiếc là số ít những người đến nay còn theo cái nghề này, như là duyên nợ. Chẳng biết có phải vì thế mà người xưa từng liệt nghề “gác cu” vào... một trong bốn cái ngu ở đời. Nhưng đã là duyên nợ thì dứt làm sao được.
    Nghề chơi cũng lắm công phu
    Uống một hớp nước, ông Tiếc nhớ lại, từ thuở lên 10 đã lon ton chạy theo ông nội, sau đó là cha, để đi mồi chim cu gáy. Bây giờ ở tuổi 55, có thâm niên hơn nửa đời “gác cu cầm sào”, nhưng ông vẫn không sao quên được cái cảm giác rộn rạo mỗi khi chim mồi cất lên tiếng gáy ngày trước... Với làng Đồng Nghệ, nghề mồi chim cu gáy đã có cách đây hơn 100 năm. Lưu truyền người đầu tiên đến với thú chơi này là ông Trần Mỹ. Ông Mỹ ở Đồng Nghệ rất có tài mồi chim nên người ta gọi chết tên “Mỹ Chim”. Bây giờ, cả thôn có đến cả chục người lấy mồi chim làm thú vui sau những ngày lao động vất vả, nhưng thật sành điệu thì không còn ai. Và sự đắn đo trong lời bình phẩm về “sự sành điệu” ấy của ông Tiếc càng cho thấy ông đang ngầm tiếc rẻ về sự mai một của nghề, của thú chơi đã nâng lên tầm nghệ thuật.
    Dẫn chúng tôi ra hiên nhà bên dãy lồng chim mồi treo dưới hàng hiên và cả dưới những tán cây cạnh đó, ông Tiếc giới thiệu về những dụng cụ mồi chim cu gáy. Đó là chiếc lồng nhốt chim mồi, ba phía xung quanh được bọc kín bằng vải mùng, mặt còn lại là cửa sập chim. Một cây sào trảy (trúc) được cưa làm hai đoạn, lúc cần có thể nối dài ra bằng một vòng sắt. Sào phải là loại trảy đá được lấy ở vùng Quế Sơn đem về gọt giũa trơn láng sau đó gác giàn bếp cho đến khi đen bóng, mới thật vừa ý. Trên đầu sào có gắn một móc sắt tự chế dùng để giựt nhánh cây như câu liêm vừa có móc để tiện treo lồng chim. Để dụ được chim mồi gáy phải dùng đến một dụng cụ giống như ống sáo được làm từ một đốt trúc có khoét lỗ, khi thổi lên âm thanh hệt tiếng cu gáy. Dụng cụ này gọi là ống kích. Theo ông Tiếc, yếu tố quan trọng để mồi cu gáy phải kể đến "nhân vật chính" là chú chim mồi. Chim mồi được chọn nuôi từ nhỏ hoặc lấy chính con chim đã mồi được nhưng phải hội đủ những yếu tố cần thiết của một con chim mồi thuần thục có khả năng gọi “bầy đàn”. Kinh nghiệm đó phải là chú chim trống đã trưởng thành, lưng gù, cườm tấm. Vòng đời của chim chỉ kéo dài từ 7 đến 8 năm, nên việc chọn chim mồi phải được tính toán khá thường xuyên.

    Riêng chim có lông trắng ở cánh và tiếng gáy phải “hội hai”- tức là một tiếng gáy một tiếng gù đi kèm nhau- thì không dễ tìm được. Ông Tiếc bảo cả đời mồi chim ông chỉ có được... một con loại này. Ngày trước ở làng Đồng Nghệ có người đánh đổi cả trâu đực mộng để có được chim mồi hay. Nghe đâu hồi Ngô Đình Diệm nhờ người đến ngã giá mua căn nhà cụ Huỳnh Anh ở Tiên Cảnh (Tiên Phước), khi về đã tạt vào Đồng Nghệ mua chim mồi. Tránh sự phiền toái cho dân, cụ nội ông Tiếc đành đoạn cầm lòng “tiễn đưa” một chú chim mồi cánh trắng ra đi.
    Theo chân người “gác cu”
    <TABLE style="WIDTH: 1px; HEIGHT: 0px" cellSpacing=3 cellPadding=0 width=1 align=right border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top align=left>[​IMG]
    </TD></TR><TR height=1><TD vAlign=top align=left>Dụng cụ mồi chim.
    </TD></TR></TBODY></TABLE>Cũng theo kiểu “buôn có bạn bán có phường”, mùa nồm nam, từ sáng sớm thức dậy đã nghe thoảng hơi gió mát rười rượi thổi về. Đâu đó, gần xa vọng tiếng chim cu gáy... Đây chính là thời điểm năm, bảy bạn mồi trong làng bắt đầu thong dong “lồng, sào” lên đường. Không ai bảo ai, mỗi người tự tìm vị trí thích hợp để đặt lồng chim. Chuyện tưởng như giản đơn, nhưng ai sõi nghề nhìn cách thức đặt lồng chim của người đi mồi họ hiểu ngay người mới hay vào nghề đã lâu. Theo ông Tiếc, chỗ đặt lồng cơ bản đảm bảo yếu tố đắc địa, ấy là nơi có cây cội (cây đứng một mình) tách biệt với đám cây xung quanh. Phía trước cành chọn đặt lồng phải có một nhánh cây cách chừng 10-15cm và phải cao hơn một chút để chim ở ngoài bay vào có chỗ đậu, trước khi nhảy vào đá với chim trong lồng. Khi đã đặt lồng xong thì tìm một chỗ nấp kín đáo để quan sát và dùng sáo thổi “kích” chim mồi gáy nhử chim ở ngoài bay về. Công đoạn chờ chim ngoài bay vào đá là hồi hộp, thú vị nhất nhưng cũng là khoảng thời gian phải kiên nhẫn nhất. Có nhiều chim tinh khôn chỉ đứng gáy trêu ngươi chứ không chịu vào sập bẫy. Và cũng có những lúc “màn trình diễn” được đẩy lên cao trào khi bên ngoài là con chim tinh khôn, đẹp mã. Lúc đó người mồi chim chăm chú đến từng động tác của chim mồi lẫn chim bên ngoài, nên quên cả... gãi ngứa, nhiều lúc khát đến khô cổ họng cũng không dám rời chỗ ẩn nấp để tìm nước uống. Được thua ở những cuộc này là cả niềm vui sướng đến tột cùng nhưng cũng có thể là nỗi thất vọng, tiếc nuối ngẩn ngơ. Thường thì mỗi cuộc mồi chim kéo dài từ 3 đến 5 ngày và thành quả thu về khi 5, khi 10 chim cu gáy, trong đó không ít con qua “huấn luyện” giá cả bạc triệu. Song chuyện mồi cu cũng may rủi khôn lường, dự phòng lúc trắng tay khi thời tiết thay đổi hay không gặp chim, người đi mồi còn mang theo lồng mồi chim quất. Loài này dễ mồi hơn nhiều so với chim cu gáy.
    Mai này còn có tiếng chim ?
    <TABLE style="WIDTH: 1px; HEIGHT: 0px" cellSpacing=3 cellPadding=0 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top align=left>[​IMG]
    </TD></TR><TR height=1><TD vAlign=top align=left>Chim cu gáy thuần thục đang làm "chim mồi".
    </TD></TR></TBODY></TABLE>Hiện nay việc cấm sử dụng các loại súng săn chim đã mở ra “đường sống” cho nhiều loại chim, trong đó có chim cu gáy. Nhiều vùng quê, chủ yếu là vùng trung du dần dà tiếng cu gáy đã quen thuộc như không thể thiếu được trong bản đồng ca chim chóc. Tuy nhiên, đây đó tình trạng săn chim bằng súng hơi, súng thể thao cho những cuộc nhậu của những tay chơi rỗi việc rất đáng lo ngại. Thậm chí lại có thông tin cũng không mấy vui : tình trạng săn bắt chim có tính “càn quét” vừa rộ lên, nghe đâu cách thức này được du nhập từ vùng Quảng Xương, Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Đó là việc dùng chim mồi (nhử) là chim giả, sau đó dùng nhựa thông để “trói giò” những chú chim ngu ngơ tưởng chim giả là đồng loại. Ngoài ra, người ta còn dùng lưới giăng trong các hẻm núi, hoặc bãi đất trống để bắt chim hàng loạt. Nếu không kịp thời ngăn chặn, sau này liệu có còn được nghe tiếng chim cu gáy gọi nhau trên những lùm tre xào xạc, tiếng chim gù trong tiếng vỗ cánh đánh đu khi sà xuống những đường cày còn tinh khôi mùi đất mới, mùi rơm ngai ngái hơi bùn được đốt lên bên này chiều trở gió... nữa hay không ? Và thú mồi chim cu gáy tao nhã một thời liệu cũng “đứt bóng” theo ?
    VĂN TRƯỜNG - TẤN ĐƯỜNG
    </TD></TR></TBODY></TABLE>
    (Nguồn: Báo Quảng Nam)
     
  3. anhhn

    anhhn Well-Known Member

    Tham gia:
    7/3/08
    Bài viết:
    93
    Thích đã nhận:
    44
    Đến từ:
    Bắc Việt
    <TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=art-header colSpan=3 height=20>Thú gác cu</TD></TR><TR><TD colSpan=3>Cập nhật ngày : 30/07/2007</TD></TR><TR><TD colSpan=3><!--- New content ---><TABLE cellPadding=0 width="100%" align=center border=0><TBODY><TR><TD width="100%"> Gác cu hay bẫy cu từ lâu đã là thú phong lưu của người Việt Nam, nhưng trong dân gian lại có câu:
    Ở đời có bốn cái ngu
    Làm mai, hỏi nợ, gác cu, cầm chầu.
    Cũng có người lại nói tuy gác cu là “đệ tam ngu” nhưng lại là cái ngu tao nhã, cái ngu phong lưu và vô cùng thú vị mà không phải ai muốn học cũng được!
    [​IMG]
    Tôi đã say mê gác cu từ thuở còn cắp sách đến trường nhưng lúc đó chưa đủ kinh nghiệm để tự mình vác đồ nghề đi hưởng thú vui một mình mà thường tháp tùng theo mấy tay nhà nghề thuộc bậc tiền bối trong làng để vừa giải trí vừa học hỏi thêm kinh nghiệm. Hồi đó, chim nhiều lắm, ngoài vườn nơi nào cũng có tiếng chim cu, nhất là mùa lúa chín vàng đây đồng, khi xuân tràn về ấm áp, những đàn cu ăn no, sung sức đua nhau gáy để gọi tình và biểu dương sức mạnh. Con trống, con mái sáng nào cũng lao rao trên những cành cây cao vút chúng bắt cặp, quầng tổ, âu yếm nhau như đôi uyên ương khắng khít không rời nhau nửa bước.
    Cách nay vài năm, tôi có dịp về quê thăm bác Tư On, quê ở An Bình – Cần Thơ, người đã say mê gác cu và thuần dưỡng chim cu từ năm ba mươi tuổi, nay gần bảy mươi mà bác vẫn còn thích nghề chơi lắm công phu này. Mỗi lần đến nhà bác, tôi vừa uống trà vừa ngắm nhìn đàn chim cảnh đủ loại từ chích choè, hoạ mi, trao trảo, sáo, nhồng… nhiều nhứt là cu cườm. Chúng nhảy nhót trong lồng và cất tiếng líu lo, ríu rít như một bản hợp tấu vô cùng thú vị khiến lòng tôi rộn lên một niềm vui khó tả.
    Thời chiến tranh, tiếng bom, tiếng súng và tiếng rầm rú của phi cơ đã làm cho các loài chim dáo dác lạc đàn phải bay về phương xa để tìm nơi trú ngụ khiến bác Tư buồn, bỏ nghề chuyển sang nghề đặt trúm và cắm câu. Nhưng từ sau ngày hoà bình, tuy cuộc đời đã trải qua nhiều tháng năm sóng gió, nhưng bác vẫn muốn tìm lại chút dư vị của thú gác cu nên tháng nào cũng bỏ ra một vài ngày, dùng chiếc xe mobylette cũ thời 60, đèo theo đồ nghề đi khắp các miệt vườn Cần Thơ, có lúc cao hứng xuống tới Sóc Trăng, Trà Vinh để gác. Mỗi chuyến đi như vậy bác kiếm cũng được năm, mười con đem về tuyển ra những con chim non có chân màu đỏ son hoặc những con “chầu đôi”, “chầu ba” để thuần dưỡng làm chim mồi. Còn những con già chân màu đỏ sậm hoặc tím bầm thì tặng cho lũ trẻ hoặc những người mới vào nghề. Bác lại chọn những cặp trống mái khôn lanh, có tiếng hót hay để nhốt chung cho chúng sinh sản.
    [​IMG]
    Nghệ nhân Lê Văn Thái chuẩn bị gác cu
    Bác vừa chỉ vào những con chim trong lồng vừa giải thích một cách rành mạch như một nhà điểu học: Cu là loài định cư, ngoài thiên nhiên chúng thường họp đàn vào đầu mùa hạ và tách đàn vào cuối thu. Sau khi ăn no chúng thường đậu trên những cành cây cao trụi lá để tắm nắng và chải lông. Đêm về ngủ ở bụi rậm hoặc trên cành cao trong phạm vi lãnh địa của mình. Đến mùa sinh sản, chúng sống thành cặp, con nào sống riêng gọi là “cu một”. Cu cườm bắt đầu trưởng thành từ lúc một tuổi và phát triển tài năng tiếng gáy trong vòng ba bốn năm đầu. Bác nói:
    Người làm nghề gác cu thường là người có cuộc sống nhàn rỗi, không vướng bận lo âu và tiền bạc. Cần nhứt là phải có những con mồi khôn lanh háo chiến và có tiếng gáy hay độc đáo, biết dạo khúc “gợi tình” và dám khiêu khích địch thủ. Thường con mồi hay bao giờ cũng có giọng hấp dẫn “hụt cu cu, cu cu… hụt cu cu, cu cu…” Gáy một chập, một chập rồi một chập nữa với giọng đầy kiêu hãnh. Con cu mồi lý tưởng thường biểu hiện mấy đặc điểm như sau: đầu nhỏ, mỏ đinh, bộ cườm đều đặn, óng ả, lông màu xám nhạt… Con có bộ lông màu xám nhạt gáy giọng thổ (trầm). Con có bộ lông màu nâu đất gáy giọng kim (cao). Đôi khi có những con cu ngoài thiên nhiên gáy rất hay nhưng khi đưa vào lồng, sống xa rừng, thương cây nhớ cội nên chúng bỏ gáy, bỏ ăn, trở thành cu “dạt”.
    Bác say mê kể chuyện từ cu rừng (cu bổi) đến cu mồi, từ cách nuôi dưỡng đến cách phân biệt tiếng gáy, công việc nào cũng đòi hỏi lắm công phu và lịch lãm. Bác nói cu không phải là loài chim đẹp và quý hiếm nhưng đó lại là loài chim quen thuộc, gần gũi với con người. Những lúc xa nhà, mỗi lần nghe tiếng cu gáy ai ai cũng cảm thấy lòng nhớ quê, nhớ tết. “Cu kêu ba tiếng cu kêu. Trông mau tới tết dựng nêu ăn chè” là thế đó! Tiếng cu gợi lên hình ảnh thanh bình nhứt là lúc con trống con mái tỏ tình và cất lên tiếng gáy “cúc cu…” càng làm cho tình quê thêm thấm đậm. Đặc biệt trong thế giới chim cu mỗi vùng đất đều có một “lãnh chúa” cho nên tiếng gáy của con trống ngoài tác dụng gọi tình, quyến rũ chim mái còn nhằm thể hiện sức mạnh của “lãnh chúa” một vùng. Bởi thế những con gáy hay thường là con đầu đàn, là “dũng sĩ” của bầu trời xanh. Thường mỗi buổi sáng đẹp trời, con đầu đàn thường rậm rật bay qua bay lại, đập cánh bành bạch tung lên trời cao để khoe “mẽ” (tiếng nhà nghề gọi là cu bói), nhứt là khi nó phát hiện có tiếng gáy lạ, tiếng gáy xâm lược lãnh thổ hoặc trong thời điểm con mái “động tình” nó lại càng sung mãn, hiên ngang bay lượn trên trời cao rồi tìm đối thủ lao thẳng tới, ưỡn cái ức no tròn để áp đảo đối phương và kết thúc hiện tượng khoe mẽ bằng một hồi vũ lực.
    Sau một hồi trò chuyện, bác Tư đứng lên tiến về phía mấy cái lồng đang treo trước hiên nhà rồi huýt sáo bảo “Chào khách đi con”. Thế là mấy con cu trong lồng đồng loạt cù… cú… cu. Chúng vừa gáy vừa cúi mọp đầu như chào khách. Một lát sau bác với tay, lấy gói thuốc rê và bình trà bỏ vào bị rồi ra sau hè lấy chiếc lụp giao cho thằng cháu nội, còn tôi và bác mỗi người cầm một chiếc lồng cu mồi. Bác vừa đi vừa hào hứng:
    - Hai con nầy, “ba cốt” đó! Có người hỏi mua một chỉ chưa bán. Nói xong, sợ tôi không tin, bác liền búng nhẹ ngón tay mấy cái, con cu trong lồng nghiêng cổ, đáp lại bằng một hồi gù trông thật đẹp mắt.
    Hôm đó bác Tư dẫn chúng tôi đến lâm trường mùa xuân ở Phụng Hiệp – Hậu Giang để dụ một con cu cườm có tiếng gáy rất hay mà nhiều tay thiếu bản lĩnh không sao dụ được. Vừa tới nơi, bác Tư bảo tôi tìm chỗ ngồi, rồi bác nhẹ nhàng thọc tay vào lồng bắt con chim mồi có chất giọng “siêu sao” mở nắp lụp cho vào. Sau đó bác trèo lên cây vú sữa, treo chiếc lụp ở một vị trí thích hợp, xong chọn chỗ ngồi chờ đợi.
    Con cu mồi được treo trên cao, gió thổi rì rào làm nó phấn khích nhìn láo liên một lúc rồi cất tiếng gáy như hồi trống xung trận. Lúc đầu còn chậm, sau trở nên giục giã liên hồi. Từ những vòm cây xa xa, chàng “thủ lĩnh” rừng xanh, tức con chúa đất bắt được giọng ranh mãnh của ai đó liền nghiêng đầu lắng nghe rồi gù cổ đáp lại bằng một tràng bo đầy kiêu hãnh “cù cu, cù cu, cù cu…” như báo cho kẻ xâm lược lãnh thổ biết rằng đây là đất có chủ, nhưng con cu mồi vẫn tiếp tục vang lên tiếng gáy ranh mãnh và khiêu khích. Sau một hồi “xã giao” hai bên bắt đầu trổ hết tuyệt chiêu của mình để so tài. Nghe giọng ngang tàng thách thức của vị khách không mời mà đến, chàng hiệp sĩ rừng xanh tức khí trổ hết món nghề rồi vỗ cánh nhắm hướng đối phương sà xuống, tiến gần, giậm cẳng “gù gù” để thị uy. Con cu mồi cũng không vừa, tuy ở trong lồng (lụp) nhưng nó cũng sừng sỏ gù lên như thách đố. Chàng hiệp sĩ tức quá không dằn được cơn thịnh nộ bèn xông vào tấn công, đụng phải chiếc thanh gài, chiếc bẫy sụp xuống, kết thúc một đời ngang tàng anh chị. Đúng như người đời đã nói họ hàng nhà cu “ghét nhau vì tiếng gáy”.
    Mỗi lần đấu tướng như vậy kéo dài hằng giờ làm tôi say sưa theo dõi, hồi hộp muốn đứt tim. Hồi nhỏ, mỗi lần đi xem gác cu tôi thích nhứt là lúc chờ đợi con cu rừng sà xuống. Tim mọi người lúc đó như ngừng đập. Hết con nầy tới con khác, cứ thế mà ngồi chờ. Chờ không được, mọi người lấy thuốc ra vấn, phì phà vài hơi, nhưng tuyệt nhiên không được nói chuyện lớn tiếng. Những lúc đó tôi phải núp ở đàng xa hoặc leo lên ngồi ở chảng ba cây để rình, có khi nín thở không dám ho và ngay cả khi bị kiến cắn cũng không dám động đậy.
    Trước đây gác cu có hai cách: gác lụp và gác lưới, cách nào cũng phải có cu mồi. Cu mồi càng hay càng bắt được nhiều cu bổi. Con mồi có bộ lông nhuyễn đều đặn và giọng gáy tốt, tiếng nhà nghề gọi là “bảnh”. Người làm nghề gác cu luôn chú ý phân biệt tiếng gáy của từng con mồi. Một con trống khi gáy “cúc cú cu…” gọi là liều trơn; gáy “cúc cú cu, cu…” là liều một cốt; còn gáy “cúc cu cu, cu cu …” là liều hai cốt; còn liều ba cốt thì lại gáy “cúc cu cu, cu cu cu…” Các tay sành điệu nuôi được con “liều ba cốt” quý như vàng, dù ai nài nỉ giá nào cũng không nhường.
    Gác lụp tuy mỗi lần chỉ bắt được một con nhưng cách nầy rất hấp dẫn và thú vị. Lụp làm bằng dây kẽm hoặc bằng tre, gồm hai ngăn, sơn xanh để tiệp với màu của lá. Ngăn để con mồi được che kín bằng miếng vải để con cu rừng không đến từ phía ấy mà chỉ đậu phía trước lụp cho dễ chui vào bẫy. Ông bà mình thường nói nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong” nhưng con cu không chết vì tham ăn mà lại chết vì lòng háo thắng, vì anh hùng tính. Có lần chú Tư dùng sào treo cao cái lụp trên cây bạch đàn, tôi theo dõi thấy con chúa đất sà xuống, từ từ xích lại gần, “bo” với nhau một hồi rồi nhào vô “cửa tử” nhưng cũng có con hiếu chiến vừa nghe giọng “khích tướng” là nhào xuống, phóng mình lên đầu lụp. Con cu mồi trong lụp cũng không vừa, liền ăn miếng trả miếng, cất giọng gù gù, lúc hung hăng giận dữ, lúc êm ái dịu dàng khiến cho con chúa đất tức điên lên muốn phá tan chiếc lụp để xé xác con mồi cho hả dạ. Tuy nhiên, cũng có con nhút nhát, khi nghe giọng đối thủ quá hung hăng, nó đảo qua đảo lại vài vòng, tìm chỗ đứng ở xa vừa “bo” vừa dò xét một lúc rồi bay đi.
    Gần đây, đa số người gác cu thích dùng lưới, cách này bắt được nhiều nhưng không thú vị, tay ngang cũng có thể làm được, chỉ cần chọn những cánh đồng yên tịnh có nhiều chim cu rồi dùng hai mảnh lưới để chụp. Tôi có dịp đến khu căn cứ Vườn Mận ở lộ Vòng Cung (Cần Thơ) trò chuyện về kinh nghiệm gác cu với anh Lê Văn Thái. Anh say mê nghề gác cu. Tuần nào cũng xách lồng, vác lưới ra đồng tìm nơi căng lưới. Tại nhà anh, trong sân, ngoài vườn lúc nào cũng nghe tiếng cu gáy, hầu hết là cu mồi. Thấy tôi đến, vợ anh tỏ ý than phiền “Ảnh đi hoài, có ngày sẽ chết vì bịnh tim, cứ mỗi lần cu sà xuống là ảnh hồi hộp, nín thở, chờ đợi, riết sẽ đau tim…”. Nghe vợ trách yêu, anh Thái tươi cười nói: “Trời hửng sáng mà nghe tiếng cu gáy, trong lòng nôn lên không chịu nổi. Lúc đó dù nhà có khách hay bận chuyện gì tôi cũng bỏ mặc, nhứt định vác lưới hoặc xách lụp và cu mồi ra đi…”
    [​IMG]
    Nghệ nhân thuần dưỡng chim cu gáy
    Hôm đó anh đã hướng dẫn chúng tôi thực hiện một chuyến đi đầy thú vị. Sau hơn nửa giờ băng đồng lội nước anh tìm được một khoảng đất trống để trải ra hai miếng lưới. Giữa có đóng vài cây cọc giữ cho lưới căng thẳng. Một con cu mồi được bắt ra cột giữa hai miếng lưới, chân có buộc một sợi chỉ dài. Một con cu mồi khác được đem đặt trong bụi rậm gần đó để gáy làm tín hiệu. Anh Thái ngồi núp trong lùm cây, mỗi khi phát hiện có đàn cu rừng xuất hiện anh liền giật nhẹ sợi chỉ cho con mồi đớp cánh. Khi đàn cu rừng vừa đáp xuống cạnh con mồi để đấu đá, tranh ăn, anh nhanh tay giật mạnh dây cho hai mảnh lưới úp lại,cả đàn bị tóm gọn. Có những mẻ lưới bắt hàng chục con.
    Gần đây, bácTư On đã già không còn đủ sức đi xa, bác thường tâm sự: “Mấy năm gần đây người thành phố ít nghe được tiếng gáy của cu rừng, ngay cả những mảng xanh thơ mộng, ngôi nhà chung của chim muông cũng bị lùi xa khỏi các khu dân cư khiến cho môi trường trở nên tẻ nhạt. Ông bà mình nói “Đất lành chim đậu”, nay các đô thị chỗ nào cũng bị ảnh hưởng của hơi, khí độc và tiếng ồn công nghiệp, còn ở nông thôn thì thiên hạ đua nhau săn lùng ráo riết bằng những phương tiện đánh bắt hiện đại khiến cho chim trời không còn sinh sản kịp để mang tiếng hót ban tặng cho đời”.
    Một hôm, vừa uống trà bác Tư vừa xuống giọng: “Nghề nào cũng có cái đạo của nó. Sông núi có thần sông, thần núi. Rừng cây cũng có thần rừng, thần cây chuyên trông nom các loài chim thú và rắn rít, chính vì vậy mà hơn nửa đời gác cu, bác bao giờ cũng lấy đạo nghệ làm gốc, mỗi lần treo lụp lên cây mình phải làm lễ ra mắt thần rừng. Người biết đạo bao giờ cũng coi gác cu là một thú thanh nhàn, một niềm vui dân dã, không nên lấy đó làm kế sinh nhai”.
    Đúng thế, đối với bác, sau mỗi lần gác được nhiều cu, con nào khó nuôi, tiếng gáy không hay bác đều thả về rừng. Vì lẽ đó mà bác không thích gác lưới, bẫy lưới nhằm bắt cả đàn, hốt cả ổ đem đi bán hoặc làm thịt. Bác nói tuy chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn nhưng đối với chim cu, chúng ta không nên lạm sát vì chúng là sứ giả của hoà bình, là biểu tượng của mùa xuân. Quê hương mình mà thiếu vắng tiếng chim cu chẳng khác nào đồng quê thiếu vắng tiếng gà. Buồn lắm! Bác thương chim cu cũng như thương con, mỗi lần có con nào bịnh chết, nhứt là những con mồi “chiế” từng làm bạn với bác nhiều năm, bác buồn nhớ suốt cả tuần.
    Nghe bác nói, tôi lại nhớ đến câu nói của Lâm Ngữ Đường, một học giả Trung Quốc: “Người ta yêu cây thì yêu cả tiếng chim hót trên cây, yêu đá thì yêu cả tiếng dế gáy bên đá, vì có cây thì có chim hót, có đá thì có dế gáy…”
    Xem thế nghề gác cu cũng là một trong các thú tiêu khiển của người xưa mà chúng ta, mặc dù đang sống trong thời đại vi tính, thời đại của internet vẫn còn cảm thấy hấp dẫn và mơ ước có một ngày nào đó được hưởng cái giây phút tuyệt vời của thú vui dân dã nầy.
    Tre Today
    </TD></TR></TBODY></TABLE><!--- End New content ---></TD></TR><TR><TD align=right colSpan=3></TD></TR><TR><TD align=right colSpan=3>Được đăng bởi: tamvn</TD></TR></TBODY></TABLE>
    (Nguồn: Báo Quảng Nam)
     
  4. DanThy

    DanThy Active Member

    Tham gia:
    30/3/05
    Bài viết:
    33
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    Không biên giới
    Ơ, sao lại thế hả bác? Xếp thứ 3/4 cũng đáng kể ấy chứ :D
     

Chia sẻ trang này