Giới thiệu về Bobo và Artemia - Thức ăn cho cá bột [Sưu tầm]

Thảo luận trong 'CÁ NƯỚC NGỌT' bắt đầu bởi kenshin14488, 3/9/07.

  1. kenshin14488

    kenshin14488 Well-Known Member

    Tham gia:
    9/7/07
    Bài viết:
    456
    Thích đã nhận:
    80
    Đến từ:
    Aquarium City
    Artemia - thức ăn cho cá bột
    Tiến sĩ Frank Marini - nguồn www.advancedaquarist.com

    Giới thiệu
    Trong số những nguồn thức ăn tươi sống sử dụng trong ngành chăn nuôi thuỷ sản, ấu trùng artemia được sử dụng rộng rãi nhất chủ yếu là vì những tiện nghi và lợi ích mà chúng mang lại. [Hình 1] Không có gì ngạc nhiên khi khả năng đẻ trứng hay còn gọi là bào nang (cyst) làm cho artemia trở thành nguồn thức ăn tiện lợi và dồi dào cho ấu trùng cá (Dhont, 1993). Nguồn trứng thu hoạch từ các bãi nuôi bên bờ hồ nước mặn luôn dồi dào quanh năm. Sau khi thu hoạch và xử lý, trứng ở trạng thái tiềm sinh có thể được trữ trong nhiều năm trời và đem ra sử dụng như là “nguồn thức săn tươi sống luôn có sẵn”. Trứng nở thành ấu trùng sau khi được ngâm trong nước muối qua đêm và có thể được sử dụng ngay làm thức ăn cho cá bột của hàng loạt các loài cá biển và cá cảnh nước ngọt. Sự thuận tiện và đơn giản của việc ấp artemia làm cho chúng trở thành nguồn thức ăn tươi sống thuận tiện nhất trong nghành chăn nuôi thủy sản. Artemia là loài ăn uống không kén chọn, chúng có thể tiêu thụ nhiều loại thức ăn khác nhau. Ngoài ra, artemia là loại thức ăn giàu dinh dưỡng và giàu lượng acid béo không bão hòa (HUFA). Khả năng tiêu thụ các chất dinh dưỡng lơ lửng trong nước của artemia còn giúp chuyển hóa những chất dinh dưỡng đặc biệt cho cá bột. [Hình 2] Công dụng của sự chuyển hóa sinh học (bioencapsulation) này đóng một vai trò quyết định trong việc duy trì tỷ lệ sống của ấu trùng, sự tăng trưởng, quá trình lột xác và chất lượng của rất nhiều loài cá cũng như giáp xác. Nguyên tắc chuyển hóa sinh học thường được áp dụng để chuyển hóa các chất như vitamin, thuốc chữa bệnh và vacxin mà chúng càng nâng cao vị thế quan trọng của artemia trong ngành công nghiệp chăn nuôi thủy sản.

    [​IMG]
    Hình 1. Vòng đời của artemia. Ảnh Jason Chaulk.

    [​IMG]
    Hình 2. Sơ đồ mô tả công dụng của artemia như là trung gian chuyển hoá các chất dinh dưỡng đặc biệt cho cá bột.

    Vòng đời của artemia
    Vòng đời của artemia bắt đầu từ khi trứng nở. Trứng là một phôi thai thụ động, chúng có thể ở trạng thái tiềm sinh trong nhiều năm chừng nào còn được giữ khô và có đầy đủ ôxy. Khi trứng được bỏ vào nước muối, chúng hút nước và bắt đầu phát triển. [Hình 3] Sau khi ngâm nước từ 15 đến 20 giờ ở 25 độ C thì vỏ trứng vỡ ra giải phóng phôi thai. Rất nhanh sau đó, màng bao ngoài vỡ ra, ấu trùng ra đời và bơi tự do trong nước. Trong giai đoạn đầu đời, ấu trùng (dài khoảng 400 -500 µm) có màu cam nâu bởi sự hiện diện của túi dinh dưỡng ở ổ bụng. Ấu trùng mới nở chưa ăn uống gì vì miệng và hậu môn của chúng chưa phát triển [Hình 4]. Gần 24 tiếng sau, ấu trùng chuyển sang giai đoạn 2. Những hạt thức ăn có kích thước từ 1 đến 50 µm được hút vào ống tiêu hóa. Trong 8 ngày kế tiếp, ấu trùng tăng trưởng và phát triển qua 15 giai đoạn trước khi đạt đến độ bán trưởng thành. Artemia trưởng thành có kích thước khoảng 8 mm nhưng cũng có thể đạt 20 mm trong môi trường lý tưởng. Chúng có chiều dài gấp 20 lần và thể tích gấp 500 lần so với ấu trùng. Artemia đực có một cặp gai sinh dục ở cuối thân còn artemia cái trưởng thành có thể dễ dàng được nhận dạng qua túi trứng [Hình 5].

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Hình 3. (trên) trứng artemia (giữa) trứng phóng to (dưới) trứng đang nở.

    [​IMG]
    Hình 4. Ấu trùng artemia 8 giờ tuổi. Ảnh Jason Chaulk.

    [​IMG]
    Hình 5. Một cặp artemia. Ảnh Jason Chaulk.

    Trong môi trường có độ mặn thấp và dồi dào thức ăn, con cái thường cho ra đời khoảng 75 ấu trùng một ngày (phương thức đẻ con). Mỗi con cái có thể đẻ từ 10-11 ổ trứng trong vòng đời trung bình 50 ngày của chúng. Nhưng dưới điều kiện lý tưởng, một con artemia có thể sống lâu đến 3 tháng và cho ra đời khoảng 300 ấu trùng hay trứng mỗi 4 ngày. Ở điều kiện không thích hợp chẳng hạn như độ mặn cao, thiếu thức ăn hay ôxy, artemia sẽ đẻ trứng. Trứng phát triển thành dạng phôi thai và được bao phủ bởi lớp vỏ dày. [Hình 6] Sự hình thành lớp vỏ này khởi đầu cho trạng thái tiềm sinh và bào nang được con cái phóng thích (phương thức đẻ trứng), chúng dạt lên bờ và khô đi. Artemia cái có thể thay đổi từ phương thức sinh sản này sang phương thức sinh sản khác.

    Artemia trưởng thành có thể chịu đựng được tầm nhiệt độ từ -18 đến 40 độ C. Có sự khác biệt giữa các dòng artemia về nhiệt độ tối ưu để trứng nở và sự tăng trưởng ở con trưởng thành. Nhiệt độ tối ưu với dòng artemia ở vịnh San Francisco là 22 độ C so với 30 độ C với dòng artemia ở hồ Lớn (Bossuyt, 1980). Artemia phù hợp với độ mặn 30-35 mg/l và có thể sống trong nước ngọt lâu đến 5 giờ.

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Hình 6. (trên) Artemia cái với buồng trứng (giữa và dưới) Hình dạng thân và đầu của artemia đực. Ảnh Jason Chaulk.

    Thức ăn
    Artemia là loài ăn uống không kén chọn, chúng ăn từ bã hữu cơ, vi tảo đến vi khuẩn. Thức ăn không được tiêu thụ trực tiếp mà được đưa vào miệng thành từng gói. Nếp gấp giữa những cái chân mở rộng khi chúng khua về phía trước. Nước được hút vào vùng này từ phía dưới và những cái lông mao lọc lấy thức ăn từ dòng nước. Khi những cái chân khua về phía sau, nước bị đẩy ra khỏi vùng này và thức ăn được giữ lại trong một rãnh ở giữa mỗi chân. Rãnh này tiết ra chất keo dính để gắn kết thức ăn thành từng viên. Một khi những viên thức ăn đã sẵn sàng, các lông mao sẽ di chuyển chúng đến miệng. Kích thước tối đa của các viên thức ăn là 50 µm với ấu trùng và 60 µm với artemia trưởng thành.

    Điều kiện để trứng nở Mặc dù việc ấp một số lượng nhỏ trứng Artemia rất đơn giản nhưng rất nhiều thông số cần phải cân nhắc để trứng nở :
    - Lồng ấp
    - Xục khí
    - Nhiệt độ
    - Độ mặn
    - pH
    - Mật độ trứng
    - Độ chiếu sáng

    Lồng ấp có đáy hình nón và xục khí từ phía dưới cho kết quả nở tốt nhất (Lavens, 1990). Lồng ấp hình trụ và khối có điểm chết mà trứng và ấu trùng bị dồn cục ở đó. Lồng ấp bằng nhựa trong (như lọ nước suối 2 lít) thực sự hữu ích vì nó cho phép kiểm tra quá trình ấp.

    Cần phải xục khí đủ mạnh để duy trì nồng độ ôxy đủ cao bởi vì nồng độ ôxy càng cao thì tỷ lệ nở càng cao (Tackaert, 1991). Tránh làm tràn bọt vì trứng ngậm nước sẽ bị cuốn ra ngoài cùng với bọt. Ở nhiệt độ lý tưởng 25-28 độ C trứng sẽ nở tối đa; dưới 25 độ C trứng sẽ nở chậm còn trên 33 độ C thì trứng ngừng nở. Báo cáo từ những cơ sở ươm nuôi cá bột đề nghị rằng chiếu sáng mạnh (gần 2000 Lux trên mặt nước) sẽ cho tỷ lệ nở tối đa và nên bắt đầu chiếu sau khi ngâm trứng vào nước 1 giờ để kích hoạt sự phát triển của phôi thai (Vanhaecke, 1981). Tóm lại, những điều kiện lý tưởng để trứng nở gồm: nhiệt độ 25 độ C, độ mặn - 1.030, độ pH từ 8 đến 8.5, xục khí thật mạnh và liên tục.

    Nuôi dưỡng artemia
    Như đã đề cập ở phần giới thiệu, yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của artemia ở khía cạnh như là nguồn thức ăn của các ấu trùng cá biển là lượng acid béo. Hầu hết ấu trùng cá biển không có khả năng tổng hợp các acid béo (HUFA) và do đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn có chứa các loại acid này. Để đảm bảo cung cấp đủ HUFA, chúng ta phải nuôi ấu trùng artemia bằng thức ăn có acid béo. Một khi ấu trùng artemia chuyển sang giai đoạn 2 (khoảng 8 giờ sau khi nở) chúng ta có thể trộn chất béo vào khẩu phần thức ăn của chúng. Kỹ thuật chuyển hóa sinh học này còn gọi là “làm giàu” artemia (hay nuôi thúc) được sử dụng rộng rãi trong ngành ươm nuôi cá bột. Những chất làm giàu khác cũng được sử dụng nuôi thúc artemia để tập trung vào một thành phần nào đó trong khẩu phần ăn của cá, những chất này bao gồm vi tảo, men, nguyên tố vi lượng và chất tự phân (self-emulsifying). Theo Lavens (1987), mức độ làm giàu cao nhất đạt được là khi thêm chất tự phân chẳng hạn như Selco vào thức ăn của artemia. Selco (còn gọi là Selcon hay siêu Selco) là chất tổng hợp của một số loại dầu cá chọn lọc, vitamin và carotenoids; khi được hòa vào nước biển thì chúng tan thành những phần tử cực nhỏ mà artemia có thể ăn được.

    Tách vỏ trứng
    Lớp vỏ cứng bao bọc phôi thai có thể được lấy đi hết bằng cách trộn với một dung dịch tách. Công đoạn này được gọi là tách vỏ trứng và nó có một số ưu điểm so với việc không tách vỏ trứng:

    a) Vỏ trứng không lẫn vào hồ ươm cá bột. Khi nở, ấu trùng artemia thường lẫn với vỏ. Trứng hư và vỏ trứng có thể gây hậu quả không tốt cho cá bột một khi chúng ăn phải, thường thì chúng không thể tiêu hóa được vỏ trứng và có thể bị tắc ruột.

    b) Ấu trùng không lẫn với vỏ trứng thường tăng trưởng tốt hơn về dinh dưỡng và trọng lượng so với ấu trùng nuôi bình thường (30-35% tùy theo dòng).

    c) Tránh lây bệnh từ trứng. Trứng hư có thể là nguồn lây nhiễm bệnh, may mắn là điều này ít khi xảy ra khi ươm nuôi tại nhà.

    d) Phôi thai đã tách vỏ có thể ngay lập tức được đem nuôi ấu trùng cá và tôm.

    e) Cường độ chiếu sáng áp dụng cho phôi thai đã tách vỏ thấp hơn.

    Công đoạn tách vỏ artemia đòi hỏi trước tiên phải ngâm trứng (chỉ có thể tách vỏ một khi trứng trương nước), trộn với dung dịch tách để lấy đi lớp vỏ ngoài màu nâu, tiếp theo là rửa và làm trung hòa dung dịch tách còn dư. Những phôi thai được tách vỏ có thể đem cho nở thành ấu trùng ngay lập tức hay làm mất nước trong dung dịch muối đậm đặc và đem cất để ấp sau. Sau cùng, trứng đã tách vỏ có thể đem nuôi cá ngay. Trứng artemia đã tách vỏ có thể dự trữ vài ngày trong ngăn lạnh mà không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ nở. Tóm lại, nói chuyện khoa học đến đây là quá đủ, hãy bắt đầu vào phần chính.

    Ấu trùng artemia Ấu trùng artemia là nguồn thức ăn thông dụng cho cá bột. Thông thường, sau khi được nuôi bằng các loại vi sinh vật, ấu trùng cá cần ăn những loại thức ăn lớn hơn. Ngoài ra, ấu trùng artemia có thể thay thế loại thức ăn là các sinh vật phù du kích thước lớn cho một số loại động vật thân mềm kiếm ăn bằng cách lọc nước.

    Ấp artemia tại nhà Ấp artemia rất đơn giản. Bất cứ dụng cụ nào có hình nón đều có thể dùng để ấp artemia. Đồ vật thông thường như chai nước suối 2 lít là một dụng cụ ấp lý tưởng. Nếu bạn thích ấp theo kiểu hi-tech thì trên mạng cũng có bán loại bồn ấp trong suốt hình nón dung tích khoảng 3.5 lít. Nhiều tiệm bán dụng cụ ấp hiệu Sally là một đế cao su cứng mà một chai nước suối 2 lít có thể cắm ngược lên đó [Hình 7]. Xin nhắc lại là hầu như mọi vật dụng đều có thể sử dụng được nhưng nên dùng loại có đáy hình nón để nước được xục đều và không có điểm chết. Ống xục khí nên gắn ở điểm thấp nhất của bồn ấp và như vậy là mọi thứ đã hoàn tất.[Hình 8]

    [​IMG]
    Hình 7. Một hộp trứng artemia với bồn ấp bằng chai nước suối 2 lít gắn trên đế cao su hiệu Sally. Bồn ấp kiểu này rất phổ biến. Hộp trứng có thể trữ lạnh và sử dụng dần từ 6 tháng đến 1 năm tuỳ nhu cầu. Ảnh James Wiseman.

    [​IMG]
    Hình 8. Sơ đồ mô tả bồn ấp đơn giản làm bằng bình nước suối 2 lít. Hình Matt Lidenfelser.

    Sử dụng nước muối để ấp artemia. Wilkerson (1998) khuyên sử dụng loại muối hột rẻ tiền với độ mặn thấp. Hòa 2 muỗng trà muối hột với 2 lít nước máy (đã hả chlor). Khi muối tan hết, xục khí khoảng 1 giờ rồi thêm vào gần ¼ muỗng trà trứng artemia. Xục khí đầy đủ sẽ làm tỷ lệ nở cao và ấu trùng mạnh khỏe. Không nên sử dụng đầu xục khí (airstone) mà nên dùng ống nhựa cứng gắn vào đáy của bồn ấp. Đừng ngại xục khí mạnh. Bọt khí có thể làm nước xáo động mạnh. Khi trứng đã trương nước, chúng có thể bị các bọt khí đem theo lên mặt nước và bay ra ngoài vì vậy nên giảm cường độ xục khí đi một ít. Đảm bảo rằng bồn xục khí của bạn được chiếu sáng trong ngày đầu tiên và trong từ 16-20 giờ kế tiếp bạn có thể thấy ấu trùng artemia xuất hiện. Ấu trùng mới nở rất bổ dưỡng và có thể đem nuôi cá con ngay. Túi dinh dưỡng ở ổ bụng làm cho ấu trùng có màu vàng. Nhân thể, nếu bạn nuôi cá hề bột (clownfish) bạn phải nuôi chúng bằng ấu trùng mới nở dưới 30 giờ vì nếu để lâu hơn thì ấu trùng lớn quá cá con không ăn nổi. Nếu bạn để sau 24 giờ thì ngày hôm sau túi dinh dưỡng đã được tiêu thụ hết; ấu trùng bắt đầu ăn và có thể được nuôi thúc bằng thức ăn có chứa thành phần dinh dưỡng đặc biệt.

    Nuôi và làm giàu artemia
    Artemia là loài ăn uống không kén chọn và do đó tiêu thụ được nhiều loại thức ăn khác nhau. Tiêu chuẩn chung để chọn thức ăn là kích thước, khả năng tiêu hóa và mức độ dinh dưỡng (Dobbeleir, 1980). Có lẽ những loại thức ăn tốt nhất cho artemia là các loại vi tảo như Nannochloropsis, Tetraselmis, Isochrysis và Pavlova. Thực tế, việc kết hợp nhiều loại vi tảo trong nuôi dưỡng artemia đã chứng tỏ kết quả làm giàu artemia siêu việt (tức gia tăng HUFA) so với việc nuôi chỉ bằng một loại vi tảo (d’Agostino, 1980) [Hình 9]. Tuy nhiên, không phải loại tảo đơn bào nào cũng thích hợp cho sự tăng trưởng của artemia. Ví dụ như các loại tảo Chlorella và Stichococcus có lớp màng tế bào dày mà artemia không thể tiêu hóa được. Ngoài ra, artemia còn được làm giàu bằng vô số loại thực phẩm đóng gói rất tiện lợi cho việc nuôi artemia tại nhà. Những thức ăn đóng gói bao gồm men (như men bia chẳng hạn), thức ăn của cá, bột đậu nành, lòng đỏ trứng và bột gạo. Vi tảo đóng gói dưới dạng ống keo (hiệu Tahitian có bán ở www.brineshrimpdirect.com) từng được sử dụng một cách thành công. Một vấn đề cần chú ý khi sử dụng thức ăn đóng gói đó là đừng cho artemia ăn quá nhiều, thức ăn có thể nhanh chóng gây ra vấn đề. Cách đơn giản nhất để kiểm tra chất lượng nước bồn ấp là xem nước có trong hay không. Theo Schumann, điều này có thể được thực hiện rất dễ bằng cách sử dụng một thanh gỗ (dài tối thiểu 30 cm) trên thân có khắc những vạch chia (thang cm), ở đầu chốt gỗ gắn một đĩa có mầu đen và trắng xen kẽ, giống như đĩa Secchi thu nhỏ (http://en.wikipedia.org/wiki/Secchi_disk). Độ sâu mà ở đó sự tương phản giữa các vùng đen và trắng trên đĩa biến mất sẽ là độ chiếu của ánh sáng hay độ trong của nước. Cho nhiều thức ăn sẽ làm nước bớt trong. Với mật độ 5000 ấu trùng/lít, độ trong suốt sẽ là từ 15-20 cm ở tuần đầu tiên, và 20-25 cm ở những tuần sau đó. Để việc sản xuất và làm giàu artemia được tối ưu, cần duy trì một mức độ thức ăn tối ưu trong bồn ấp, vì vậy cho ăn thường xuyên và liên tục là tốt nhất. Tôi thấy nuôi artemia bằng vi tảo cực kỳ tốt và cá bột ăn ấu trùng được nuôi bằng vi tảo tăng trưởng rất nhanh. Bên cạnh vi tảo, tôi cũng giới thiệu chất tự phân Selco để tăng lượng UHFA. Để làm giàu, ấu trùng artemia từ 24 đến 30 giờ tuổi được chuyển vào bồn nuôi mới, nơi đó chất tự phân được cho vào với nồng độ 1 mg/lít và xục khí liên tục. Sáu giờ sau, ấu trùng đã làm giàu được thu hoạch. Theo kinh nghiệm của tôi, không cần làm khô ấu trùng làm gì, cứ đem chúng nuôi cá trực tiếp.

    [​IMG]
    Hình 9. Ba bồn ấp bằng chai nước suối 2 lít và bốn lọ nuôi vi tảo. Vi tảo được sử dụng để nuôi ấu trùng artemia. Những ống xục khí được lấy đi để thu hoạch ấu trùng. Ảnh Ray Jay.

    Thu hoạch ấu trùng
    Khi thu hoạch, chỉ đơn giản ngừng xục khí và để khoảng 10 phút cho tất cả lắng xuống. Vỏ trứng nổi lên mặt nước còn ấu trùng mới nở cùng với trứng hư chìm xuống đáy. Bởi vì ấu trùng bị ánh sáng hấp dẫn nên chúng ta sử dụng một đèn pin chiếu vào khoảng giữa bồn ấp để tập trung chúng vào đấy rồi dùng ống siphon hút ra ngoài, hay trong các bồn ấp thương mại, người ta có thể xả van phía đáy bồn để lấy trứng hư ra rồi lại xả tiếp để lấy ấu trùng qua bồn chứa khác. Một cách nữa để thu hoạch artemia là dùng vợt (lỗ rất nhỏ) vớt bỏ hết vỏ trứng trên bề mặt. Sau đó dùng ống siphon nhỏ gắn với ống nhựa (đường kính khoảng 3 mm) để hút ấu trùng artemia ra và đem nuôi cá con.

    Nguồn trứng artemia
    Có thể mua trứng ở hầu hết các tiệm cá cảnh hay qua email. Trứng mua số lượng nhiều (hộp vài kg) thường rẻ hơn là mua từng lon nhỏ ở các tiệm cá cảnh và cũng thường được trữ tốt hơn.

    Chăm sóc artemia
    Hầu hết mọi người chỉ có nhu cầu ấp một số lượng nhỏ artemia. Một khi ấu trùng nở, chúng được nuôi 2-3 ngày trước khi thu hoạch và nuôi lứa mới. Một số người muốn nuôi lâu hơn và từ đó vài vấn đề nảy sinh. Trong bồn ấp nhỏ, nước bị dơ rất nhanh đặc biệt là khi nuôi thúc, cá ăn nhiều. Hơn nữa, thức ăn thừa bị vi khuẩn phân hủy làm cho chất lượng nước suy giảm, những chất độc như amonia và nitrite xuất hiện. Cố gắng đừng cho artemia ăn quá nhiều bằng cách quan sát số lượng thức ăn mỗi lần cho ăn và đợi cho đến khi nước trong trở lại trước khi cho thêm thức ăn.

    Vì ấu trùng artemia tăng trưởng, rất khó tính toán số lượng thức ăn dẫn đến cho ăn quá nhiều làm nước dơ, đặc biệt là khi cho ăn loại thức ăn không phải tảo sống. Thay khoảng 50% nước mỗi tuần; thêm nữa, dùng ống hút làm sạch chất cặn bã lắng ở đáy bồn sau mỗi vài ngày có thể giải quyết vấn đề này. Nếu để nuôi lâu dài, bạn nên gắn thêm bộ lọc bằng bọt biển hay bộ lọc sinh học khác.

    Các vấn đề gặp phải khi nuôi artemia
    Có hai vấn đề tôi thường lập lại trong việc nuôi artemia đó là chậm lớn và chết hàng loạt. Artemia chậm lớn thường là do ảnh hưởng môi trường như nhiệt độ thấp, độ pH không thích hợp, nước quá mặn hoặc quá nhạt, không đủ thức ăn hay thức ăn kém chất lượng. Có hàng loạt nguyên nhân làm cho artemia chết hàng loạt. Nguyên nhân dễ phát hiện nhất là thiếu ôxy. Điều này có thể giải quyết bằng cách xục khí mạnh hơn và tạo dòng chuyển động trong hồ nuôi. Thứ hai, tình trạng sức khỏe của artemia có thể được quan sát thấy bằng cách quan sát cách chúng bơi. Những con khỏe mạnh phản ứng với ánh sáng và tập trung vào đó. Bơi chậm chạp và tản mác là dấu hiệu cho thấy đàn artemia ở tình trạng sức khỏe không tốt. Sức khỏe của artemia cũng có thể được quan sát dưới kính hiển vi. Artemia ăn uống đầy đủ sẽ có bụng căng và thải phân vón cục. Chúng cũng có vùng miệng và các vây bơi phụ sạch sẽ chứng tỏ sức khỏe tốt. Những con ăn uống kém sẽ có bụng xẹp và đi phân lỏng. Nếu vùng miệng và các vây bơi có dính thức ăn, điều này chứng tỏ chúng bỏ ăn. Một nguyên nhân làm artemia chết hàng loạt là do nhiễm khuẩn và các sinh vật đơn bào. Điều này có thể tránh được bằng cách tách vỏ trứng trước khi đem ấp.

    Kết luận Ấu trùng artemia là nguồn thúc ăn rất tiện lợi cho cá bột. Khả năng làm giàu artemia cho phép chúng được sử dụng như môi trường chuyển hóa những chất dinh dưỡng đặc biệt cho cá. Nuôi dưỡng và cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho ấu trùng cá là rào cản lớn nhất đối với những nhà ươm nuôi cá biển. Chỉ với một không gian hẹp, một ít hồ và dụng cụ cùng với những thông tin cần thiết là bất cứ ai cũng có thể ươm nuôi thức ăn tươi sống để có thể lai tạo cá cảnh biển tại nhà.

    Phụ lục: Phương pháp tách vỏ trứng

    Công đoạn ngâm nước
    Trứng được ngâm trong nước muối (<100>10, mỗi gam trứng sử dụng:
    - 0.15 g NaOH nếu sử dụng dung dịch tách hoặc 0.67 NaCO3 hay 0.4 g CaO nếu sử dụng bột tách.
    - Nước biển với tỷ lệ 14 ml/1 g trứng.

    Làm lạnh dung dịch xuống còn 15-20 độ C (tức đem bồn lọc bỏ vào hồ nước đá lạnh). Cho trứng đã ngâm vào và xục khí mạnh từ 5-15 phút. Kiểm tra nhiệt độ thường xuyên vì phản ứng tỏa nhiệt: không để vượt quá 40 độ C (nếu cần có thể cho thêm nước đá vào dung dịch tách vỏ). Có thể dùng kính lúp hay kính hiển vi để kiểm tra kết quả của công đoạn tách vỏ.

    Công đoạn rửa
    Khi trứng có màu xám (dùng với dung dịch tách) hay vàng (dùng với bột tách) hay khi quan sát dưới kính hiển vi thấy trứng đã tách hết vỏ (sau 3-15 phút) thì có thể đem sàng bằng lưới 125 µm cho đến khi không còn mùi hypochlorite bốc lên. Điều quan trọng là không được để phôi thai trong dung dịch tách quá lâu vì phôi thai có thể bị ảnh hưởng.

    Công đoạn làm sạch
    Làm sạch mọi dấu vết của hypochlorite bằng cách ngâm chúng vào dung dịch 0.1% NHCl hay 0.1% Na2S2O3 và trộn lần nữa với nước. Dấu vết của hypochlorite được phát hiện bằng cách bỏ trứng đã tách vỏ vào bột thử i-od (gồm KI, H2SO4 và nước). Nếu chúng có màu xanh thì vẫn phải tiếp tục công đoạn này. Còn cách khác là sử dụng phương pháp thử DPD chlorine.

    Công đoạn sử dụng
    Phôi thai có thể đem trữ trong tủ lạnh (0-4 độ C) vài ngày trước khi đep ấp. Để trữ lâu hơn, phôi thai cần được làm mất nước bằng dung dịch muối đậm đặc (1 g phôi thai/10 ml nước/300 g NaCl). Thay dung dịch sau mỗi 24 giờ.

    [Nguồn dịch: Click Here]
     
  2. kenshin14488

    kenshin14488 Well-Known Member

    Tham gia:
    9/7/07
    Bài viết:
    456
    Thích đã nhận:
    80
    Đến từ:
    Aquarium City
    Bo bo (moina) - thức ăn cho cá bột
    Các tác giả R.W. Rottmann, J. Scott Graves, Craig Watson và Roy P.E. Yanong - nguồn http://edis.ifas.ufl.edu/FA024

    Giới thiệu
    Daphnia là loài giáp xác nước ngọt nhỏ gọi là “rận nước”. Tên này không những ám chỉ đến kích thước bé nhỏ mà còn ở chuyển động giật cục của chúng trong nước. Các chi rận nước (Daphnia) và bo bo (Moina) có quan hệ họ hàng gần với nhau. Chúng xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới và thường được gọi dưới tên chung là daphnia.

    Cấu tạo cơ thể của bo bo gồm đầu và thân (hình 1). Râu là phương tiện di chuyển chính. Đôi mắt lớn nằm dưới lớp da ở hai bên đầu. Một trong những đặc điểm chính đó là cơ thể chúng được bao phủ bởi một khung xương. Chúng tự lột lớp vỏ này một cách định kỳ. Túi ấp nơi trứng và ấu trùng phát triển nằm trên lưng của con cái. Ở rận nước túi này đóng kín nhưng ở bo bo nó lại mở.

    [​IMG]
    Hình 1. Bo bo trưởng thành.

    Có sự khác biệt đáng kể về kích thước giữa các chi. Bo bo có kích thước tối đa chỉ bằng một nửa rận nước. Bo bo trưởng thành (700-1,000 µm) có kích thước gần gấp đôi ấu trùng artemia (500 µm) và gần gấp 2-3 lần kích thước của trùng bánh xe trưởng thành (rotifer). Tuy nhiên, bo bo mới nở (nhỏ hơn 400 µm) gần bằng hay hơi lớn hơn trùng bánh xe trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng artemia. Hơn nữa, artemia chết khá nhanh trong nước ngọt. Kết quả, bo bo là thức ăn lý tưởng dành cho cá con mới nở.

    Cá bột của một số loài cá nước ngọt có thể ăn bo bo ngay từ khi mới nở. Tuy nhiên, cần biết rằng bo bo rất khó phân tách theo kích thước. Thí nghiệm lọc bo bo bằng lưới nhuyễn kích thước 500 µm tại UF/IFAS Tropical Aquaculture Laboratory cho kết quả với số lượng không đáng kể. Trong chăn nuôi, cần lưu ý đến khối lượng bo bo tiêu thụ vì chúng lớn rất nhanh, cá bột không ăn nổi. Nếu những con bo bo lớn này tập trung với mật độ cao, chuyển động giật cục của chúng có thể gây hoảng sợ cũng như tổn thương cho cá bột.

    Ở Singapore, loài Moina micrura nuôi trong ao hồ bón chủ yếu bằng phân gà hay phân heo, được sử dụng làm thức ăn chính cho cá bột của các loài cá cảnh nhiệt đới, tỷ lệ cá sống bình quân lên đến 95-99% ở kích thước 20 cm. Không may, có rất ít thông tin về phương pháp nuôi bo bo đại trà và nếu có thì chỉ là những bản đánh máy hay xuất bản hạn chế.

    Yêu cầu hoá học và vật lý
    Bo bo xuất hiện với mật độ cao ở các ao, hồ, vũng nước, dòng chảy chậm và đầm lầy nơi có nhiều chất hữu cơ. Chúng đặc biệt tập trung ở những vùng nước ấm nơi có đầy đủ điều kiện để chúng phát triển.

    Bo bo hoàn toàn thích nghi với nguồn nước kém chất lượng. Chúng có thể sống nơi nồng độ ô-xy hoà tan từ 0 cho đến bão hoà. Bo bo đặc biệt thích nghi với sự biến đổi của nồng độ ô-xy và thường sinh sôi với số lượng lớn trong môi trường nước ô nhiễm ở cống rãnh. Bo bo được cho là có vai trò quan trọng trong việc xử lý các hồ chứa nước thải. Chúng có thể sống sót trong môi trường nghèo ô-xy nhờ khả năng tổng hợp hemoglobin. Sự hình thành hemoglobin dựa trên mức độ ô-xy hoà tan trong nước. Hemoglobin có lẽ cũng phát sinh bởi nhiệt độ cao và mật độ bo bo.

    Bo bo chịu đựng được tầm nhiệt độ rất cao và dễ dàng vượt qua biến đổi nhiệt độ trong ngày từ 5-31° C, nhiệt độ tối ưu với chúng là 24-31° C. Khả năng chịu đựng tốt của bo bo là điểm thuận lợi đối với các trang trại kinh doanh cá ở miền Nam nước Mỹ và việc ươm nuôi làm thức ăn cho cá cảnh tại nhà.

    Thức ăn
    Bo bo ăn các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ (thối rữa). Vi khuẩn và nấm men có giá trị dinh dưỡng cao. Số lượng bo bo phát triển nhanh nhất khi lượng vi khuẩn, men bia và vi tảo dồi dào. Bo bo là một trong những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh Microcystis aeruginosa. Cả bã hữu cơ động lẫn thực vật đều cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng của bo bo. Chất lượng của mùn bã hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc và độ tuổi của chúng.

    Vòng đời
    Bo bo có thể sinh sản theo cách vô tính và hữu tính. Thông thường, bo bo gồm toàn con cái sinh sản theo cách vô tính. Ở điều kiện tối ưu, bo bo cái từ 4-7 ngày tuổi bắt đầu sinh sản với số lượng từ 4-22 con. Mỗi lứa cách nhau từ 1.5 đến 2 ngày, mỗi con cái đẻ từ 2-6 lần trong đời.

    Ở điều kiện môi trường bất lợi, con đực xuất hiện và sinh sản hữu tính bắt đầu, tạo ra trứng tiềm sinh tương tự như trứng artemia. Điều kiện chuyển đổi từ sinh sản vô tính sang hữu tính ở bo bo là việc cắt giảm nguồn thức ăn, kéo theo nhiều trứng được tạo ra. Như vậy, việc cung cấp đầy đủ thức ăn là cần thiết vì nó kích thích bo bo sinh sản theo cách vô tính, nhờ đó có rất ít số lượng trứng tiềm sinh được tạo ra.

    Mật độ cao ở rận nước có thể làm sự sinh sản sụt giảm một cách đáng kể nhưng điều này không xảy ra ở bo bo. Số lượng trứng sinh ra ở rận nước Dapnia magna sụt giảm mạnh khi mật độ từ 95-115 cá thể trưởng thành trên 25-30 lít. Mật độ nuôi thích hợp ở rận nước được ghi nhận là 500 con/lít. Tuy nhiên, mật độ nuôi thích hợp ở bo bo là 5000 con/lít và do đó chúng thích hợp trong chăn nuôi thâm canh.

    So sánh sự sinh sản trong các hồ nuôi Daphnia magna và Moina macrocopa bón bằng men bia và ammonium nitrate NH4NO3 cho thấy lượng thu hoạch ở bo bo (106-110 g/m3) lớn gấp 3-4 lần so với thu hoạch ở rận nước (25-40 g/m3). Khối lượng thu hoạch hàng ngày ở bo bo với thức ăn vi tảo nuôi bằng phân hữu cơ đạt 375 g/m3.

    Giá trị dinh dưỡng
    Giá trị dinh dưỡng của bo bo phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn mà chúng được nuôi. Dù vậy, lượng protein ở bo bo chiếm 50% khối lượng khô. Bo bo trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn bo bo non. Lượng chất béo chiếm 20-27% khối lượng khô ở bo bo cái trưởng thành và 4-6% ở bo bo non.

    Quy trình nuôi
    Nguyên tắc sản xuất bo bo dựa trên chuỗi bầy nuôi liên tiếp. Tóm lại, bầy nuôi mới được tạo ra hàng ngày trong các bồn chứa riêng biệt theo quy trình ở dưới. Khi tất cả nấm men, vi khuẩn và tảo được tiêu thụ hết, thường từ 5-10 ngày sau khi ươm, bo bo được thu hoạch và bầy khác được ươm tiếp. Nguyên tắc này đặc biệt thích hợp khi có một số lượng nhất định bo bo được thu hoạch mỗi ngày bởi vì việc sản xuất hàng ngày được điều khiển tốt hơn nhiều.

    Một nhóm bồn nuôi cũng thích hợp để duy trì sự đồng nhất vì rất ít khả năng bo bo có đối thủ cạnh tranh (chẳng hạn như sinh vật đơn bào, trùng bánh xe, giáp xác copepod) hay những kẻ săn mồi (như thuỷ tức, bọ gạo, ấu trùng bọ bắp cày hay cà niễng, ấu trùng chuồn chuồn hay con xin cơm).

    Bồn nuôi bán liên tục có thể duy trì đến 2 tháng hay hơn bằng việc thu hoạch hàng ngày, thay nước, cho ăn thường xuyên và duy trì tốc độ tăng trưởng. Sau đó, bồn nuôi sẽ không sinh sôi nhanh chóng khi bón thức ăn. Khi chúng không còn phát triển tốt nữa, nên thu hoạch toàn bộ bo bo và bắt đầu nuôi bầy mới.

    Bo bo có thể được sản xuất bằng cách nuôi kết hợp với thức ăn của chúng hay nuôi riêng rẽ. Nuôi kết hợp đơn giản hơn nhưng nuôi riêng rẽ lại cho kết quả tốt hơn.

    Khi nuôi riêng rẽ, bồn nuôi vi tảo được đặt sao cho nó chảy vào bồn bo bo (hình 2). Sản xuất từ những bồn riêng biệt có điểm bất lợi là cần nhiều không gian để nuôi vi tảo. Tuy nhiên cũng có điểm thuận lợi là ít có khả năng lây nhiễm bệnh, điều khiển tốt hơn và thu hoạch được nhiều bo bo hơn.

    Ghi chú: dù áp dụng cách nuôi dưỡng nào cũng luôn phải duy trì hàng loạt hồ nuôi bo bo để đề phòng trường hợp chúng bị chết.

    [​IMG]
    Hình 2. Sắp xếp hàng loạt bồn nuôi bo bo và thức ăn của chúng.

    Bồn nuôi
    Bồn nuôi trung bình có thể tích khoảng 38 lít. Tuy nhiên, thể tích này chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu của một người nuôi cá bình thường. Để nuôi với mục đích thương mại thì phải sử dụng bồn chứa, hồ nhân tạo (bằng xi măng, kim loại, plastic hay sợi thủy tinh) và hồ đất. Ngoài ra, bất cứ vật dụng nào cũng có thể được tận dụng như bồn tắm cũ, bồn rửa chén, ngăn tủ lạnh và chậu nhựa. Đừng sử dụng loại bồn kim loại ngoại trừ chúng được làm bằng loại thép không rỉ.

    Trong những bồn chứa lớn, độ sâu của nước không nên vượt quá 90 cm, từ 40 đến 50 cm là lý tưởng. Mực nước nông giúp các sinh vật phù du quang hợp và nồng độ ôxy hòa tan được tốt hơn.

    Bồn nuôi bo bo nên để ở nơi có ánh sáng khuyếch tán và bóng râm. Môi trường có cây cối và mái che bằng vải bạt (giảm 50-80% cường độ chiếu sáng) là lý tưởng. Bồn nuôi cần được che mưa để tạo độ ổn định và chắn lưới để phòng ngừa các loại côn trùng ăn thịt.

    Bồn nuôi không cần phải giữ quá sạch nhưng một số thứ như tảo sợi và ấu trùng của các loài côn trùng ăn thịt (lăng quăng, chuồn chuồn, bọ…) có thể làm giảm sản lượng bo bo. Bồn nuôi cần được sát trùng trước bằng cách phơi khô hay tẩy bằng dung dịch acid nhẹ HCl có nồng độ 30%.

    Nước
    Bo bo rất nhạy cảm với các chất hóa học và kim loại (như đồng, kẽm là những chất thường xuất hiện trong nước máy), bột giặt, chất tẩy và những chất độc hại khác trong nguồn nước. Phải đảm bảo bồn nước không bị nhiễm những chất độc trên. Nên xục khí nước máy trong ít nhất hai ngày để chlor bay hơi, hay bỏ chất trung hòa chlor như sodium thiosulfate (Na2S2O3) nếu muốn rút ngắn thời gian. Nguồn nước tự nhiên là lý tưởng. Nước mưa cũng rất tốt để nuôi bo bo nếu được hứng từ vùng không bị ô nhiễm không khí. Nước đã qua xử lý lọc cũng có thể dùng được.

    Nhiệt độ lý tưởng để nuôi bo bo là từ 24 đến 31 độ C. Chúng chỉ có thể chịu đựng được nhiệt độ cao hơn 32 độ C trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, nhiệt độ thấp khiến chúng sinh sản chậm lại.

    Xục khí
    Xục khí giúp cung cấp ôxy hòa tan cho bo bo, trộn đều thức ăn và gia tăng lượng sinh vật phù du, dẫn đến kết quả là gia tăng số lượng trứng, số lượng bo bo cái mang trứng và mật độ bo bo. Duy trì một dòng chảy nhỏ trong bồn cũng giúp gia tăng sự sinh sản. Hồ có dung tích 1.5 m3 chỉ cần duy trì từ 1 đến 2 ống xục khí. Nên tránh điều chỉnh để bọt khí thật yếu vì đầu xục có thể bị kẹt làm bo bo ngộp thở nổi lên mặt nước và có thể chết.

    Thức ăn
    Dưới đây là danh sách và tỷ lệ một số loại thức ăn dành cho bo bo. Hãy cho chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau để tìm xem đâu là loại thích hợp nhất cho bo bo của bạn. Tỷ lệ thức ăn ở đây chỉ để tham khảo và bạn cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng của mình.

    Lượng thức ăn được tính toán trên thể tích nuôi là 379 lít. Lượng thức ăn sẽ tăng thêm từ 50 -100% sau khoảng 5 ngày nuôi:

    Men làm bột bánh mì: 8.5-14.2 g.

    Men và phân hóa học: 8.5-14.2 g men và 14.2 g ammonium nitrate (NH4NO3)

    Men, cám và cỏ linh lăng (alfalfa): 8.5 g men, 42.5 g cám gạo hay lúa mạch và 42.5 g cỏ.

    Men, cám và phân bò hay bùn: 8.5 g men, 42.5 g cám gạo hay lúa mạch và 142 g phân bò hay bùn.

    Men, hạt bông và phân bò hay bùn: 8.5 g men, 42.5 g hạt bông hay lúa mạch và 142 g phân bò hay bùn.

    Phân bò hay phân ngựa khô hay bùn: 567 g phân khô hay bùn.

    Phân gà hay heo khô: 170 g phân khô.

    Men và bột tảo spirulina: 6 g bột bánh và 3 g bột tảo. Cho bo bo ăn hỗn hợp này trong hai ngày trước khi thu hoạch. Chú ý: trộn nước ấm vào men và bột tảo và để khoảng 30 phút. Khuấy đều và đổ vào bồn nuôi bo bo qua lưới lọc nhuyễn. Lưới sẽ lọc hết cặn bã.

    Phân hữu cơ thường tốt hơn phân hóa học vì cung cấp vi khuẩn, nấm, bã hữu cơ và sinh vật phù du là những thức ăn của bo bo. Có rất nhiều thứ có thể làm thức ăn cho bo bo với kết quả là chúng sinh sôi rất nhanh. Phân hóa học cũng có thể dùng làm thức ăn nhưng tốt nhất nên dùng cho hồ đất hơn là bồn và hồ nhân tạo.

    Phân tươi tốt hơn vì chúng chứa nhiều chất hữu cơ và vi khuẩn. Tuy nhiên, chuồng gia súc cần được chống muỗi để phân không chứa lăng quăng làm ảnh hưởng đến đàn bo bo. Mặc dù không tuyệt đối cần thiết nhưng phân nên để cho khô trước khi sử dụng. Loại phân bò và bùn khô bán ngoài thị trường có thể được sử dụng để nuôi bo bo.

    Mặc dù phân gia súc thường được sử dụng để nuôi bo bo, các loại thức ăn khác như men, cỏ linh lăng (alfalfa) và cám tuy không tốt bằng nhưng cũng dùng được. Bột làm bánh, cám và cỏ linh lăng khô có bán ở các cửa hàng thực phẩm.

    Những chất hữu cơ thô như phân gia súc, bùn, cám và dầu thực vật thường được đựng trong túi lưới. Khăn, vải lọc, bao nylon hay bất loại sợi dệt nào đều có thể được sử dụng tuy nhiên túi nylon và sợi tổng hợp không bị mục như vải và khăn. Với bồn lọc nhỏ, vớ nylon sử dụng rất phù hợp, rẻ tiền và thuận tiện. Sử dụng túi để loại bỏ cặn khi thu hoạch bo bo và cho phép điều khiển việc cho ăn tốt hơn.

    Cho quá nhiều thức ăn có thể làm nước mau dơ. Dù nuôi bằng loại bồn nào thì cũng nên cho ăn nhiều lần, mỗi lần một ít rồi tăng dần một khi bạn đã có kinh nghiệm. Nếu nấm men xuất hiện trong bồn chứa vì nước quá màu mỡ, bao chứa chất hữu cơ nên được lấy ra. Nếu nấm men phát triển quá mạnh, nên xả bồn chứa và làm lại từ đầu.

    Độ pH quá cao (lớn hơn 9.5) do rêu phát triển mạnh và sự gia tăng nồng độ chất độc ammonia (không phân ly) có thể hạn chế sự phát triển của bo bo. Độ pH của bồn nuôi nên điều chỉnh ở mức từ 7-8 bằng dấm ăn (acetic acid).

    Ươm nuôi
    Sử dụng con giống thuần để ươm. Tránh sử dụng con giống yếu hoặc thoái hoá, con giống đẻ trứng tiềm sinh hay con giống có lẫn loài săn mồi. Tỷ lệ gây giống khoảng 100 con bo bo/ 25 lít. Mặc dù trên lý thuyết chúng ta có thể chỉ cần bắt đầu bằng một con bo bo cái nhưng hãy luôn sử dụng một số lượng đầy đủ để phát triển đàn bo bo một cách nhanh chóng. Nếu ươm ít hơn, đàn bo bo sẽ phát triển chậm hơn do vậy số lượng thức ăn lúc đầu phải giảm xuống để tránh làm ô nhiễm nước. Nếu ươm nhiều hơn thì có thể thu hoạch sớm hơn và giảm nguy cơ nhiễm bệnh. Bo bo bắt đầu được ươm sau khi bồn được bón phân khoảng 24 giờ hay lâu hơn. Nhưng nếu bón bằng men bia thì có thể ươm bo bo sau vài giờ sục khí nếu chất lượng nước và nhiệt độ phù hợp bởi vì bo bo có thể ngay lập tức ăn các tế bào men. Một ít vi tảo hiện diện trong nước và bao tử của bo bo giống là đủ để chúng phát triển bùng phát.

    Theo dõi
    Theo dõi bồn nuôi hàng ngày để xác định tình trạng sức khoẻ của bo bo:

    Xác định sức khoẻ của bo bo bằng cách khuấy bồn nuôi, múc một muỗng lớn (15 ml) nước bồn rồi đem quan sát dưới kính lúp từ 8X đến 10X hay kính mổ. Bo bo màu xanh hay đỏ-nâu với bụng căng tròn và chuyển động linh hoạt là dấu hiệu của bầy nuôi khoẻ mạnh. Bo bo màu nhợt nhạt với bụng rỗng hay bo bo đẻ trứng là dấu hiệu của môi trường kém chất lượng hay thiếu thức ăn.

    Xác định mật độ của bo bo bằng cách nhỏ cồn 70 độ vào một muỗng trà nước bồn (3-5 ml) để giết và rồi đếm số lượng bo bo trên đĩa thí nghiệm bằng kính lúp hay kính mổ. Mật độ thu hoạch chứa từ 45-47 con trong một muỗng trà. Bằng kinh nghiệm, mật độ bo bo có thể được xác định thông qua quan sát mà không cần phải đếm.
    Mật độ thức ăn trong nước khi quan sát qua ly thuỷ tinh nên hơi xanh hay nâu nhạt như nước trà. Nước trong là dấu hiệu của sự thiếu thức ăn. Bồn nuôi nên được bón thêm từ 50-100% lượng thức ăn ban đầu nếu độ trong suốt lớn hơn 30-40 cm. Điều này có thể xác định bằng một đĩa nhựa trắng hay viền kim loại đường kính 10 cm, gắn vào một đầu gậy. Độ trong suốt là chiều sâu mà đĩa còn được nhìn thấy khi nhúng trong nước.

    Nếu phát hiện những loài săn mồi (như thuỷ tức, bọ gạo, ấu trùng bọ bắp cày hay cà niễng, ấu trùng chuồn chuồn hay con xin cơm) thì cần xả bồn nuôi, làm sạch và tiêu diệt chúng để khỏi làm ảnh hưởng đến vụ nuôi sau.

    Thu hoạch
    Thu hoạch bằng cách dùng vợt lưới nhuyễn vớt những “đám mây” bo bo nổi trên mặt nước. Cũng có thể thu hoạch bằng cách xả hay hút nước qua lưới lọc kích thước từ 50-150 µm. Tắt máy xục khí và để thức ăn lắng xuống trước khi thu hoạch. Với bồn nuôi bán liên tục, không nên thu hoạch quá 20-25% bo bo mỗi ngày trừ khi bắt đầu nuôi lứa khác. Nếu thu hoạch bằng cách xả nước bồn thì cần phải thay nước trước khi thu hoạch. Thu hoạch mỗi lần một ít và thả bo bo vào bồn nước sạch để giữ chúng sống sót.

    Chất cặn dưới đáy bồn cần được quậy lên hàng ngày cùng với lúc thu hoạch để thức ăn nổi lên và ngăn cản vi khuẩn yếm khí phát triển.

    Bổ xung
    Các loài bo bo khác nhau về kích thước, sinh sản và điều kiện sống tối ưu. Cần điều chỉnh chế độ nuôi dưỡng tùy theo loài và dòng bo bo nhất định. Gia tăng diện tích bề mặt có thể thu được những kết quả tích cực trong sản xuất bo bo. Với rận nước, khi diện tích tăng lên gấp 4 lần nhờ đặt những tấm nhựa thì khối lượng thu hoạch cũng nhiều gấp 4 lần. Không rõ là nhờ chất lượng nước được cải thiện khi vi khuẩn phân huỷ ni-tơ bám trên các bề mặt, hay sự thay đổi phân bố của rận nước hay chế độ dinh dưỡng được cải thiện.

    Không nhất thiết phải sản xuất bo bo dựa trên nhu cầu tiêu thụ của cá bột. Lượng bo bo thu được có thể trữ nhiều ngày trong bồn nước sạch đặt trong tủ lạnh. Chúng sẽ tỉnh lại khi nhiệt độ ấm lên. Chất lượng dinh dưỡng của bo bo trữ lạnh có thể không tốt bởi vì chúng bị nhịn đói một thời gian, vì vậy bo bo nên được nuôi bằng vi tảo hay men bia trước khi đem cho cá ăn.

    Bo bo có thể được trữ lâu dài bằng cách trữ lạnh trong nước muối nồng độ thấp (nồng độ 7 ppt, 1.0046) hay trữ khô. Cả hai phương pháp đều làm bo bo chết vì vậy cần phải xục khí liên tục giữ chúng lơ lửng trong nước để cá bột có thể ăn. Bo bo đông lạnh và bo bo khô không bổ dưỡng bằng bo bo tươi và cá con cũng không chuộng thức ăn này lắm. Tuy nhiên, thành phần dinh dưỡng của bo bo đông lạnh và khô cũng không bị thay đổi nhiều, những chất dinh dưỡng không tan quá nhanh vào nước. Hầu hết những enzyme hoạt động bị phân huỷ trong vòng 10 phút sau khi bỏ bo bo vào nước. Sau một giờ, tất cả những acid amin tự do và acid amin kết hợp đều bị phân huỷ.

    [Nguồn dịch: Click Here]
     
  3. kenshin14488

    kenshin14488 Well-Known Member

    Tham gia:
    9/7/07
    Bài viết:
    456
    Thích đã nhận:
    80
    Đến từ:
    Aquarium City
    Bài này mình sưu tầm được trên 1 diễn đàn khác, nếu trùng hoặc đã có ai post rồi thì cho mình xin lỗi nha, có thể xóa nhưng mình hi vọng là nó có ích cho mọi người!
    Thân!
     

Chia sẻ trang này