Khảo cứu chuyên đề về chim trĩ

Thảo luận trong 'Gà rừng' bắt đầu bởi ca_vangSG, 5/5/12.

  1. ca_vangSG

    ca_vangSG Well-Known Member

    Tham gia:
    26/3/10
    Bài viết:
    379
    Thích đã nhận:
    766
    Đến từ:
    TP.Hồ Chí Minh
    Hồi trước mình có mở một topic về chim trĩ nhưng thiếu thông tin và chắp vá quá nên hôm nay mình xin mở lại một topic khác .Dịch từ bộ sách : A MONOGRAPH OF THE PHEASANTS của nhà tự nhiên học William Beebe .Hi vọng cung cấp đầy đủ thông tin về các giống chim trĩ các bạn.Vì mình dịch tiếng Anh nên có thể một số câu khó hiểu vì vậy nếu ai đọc tới đoạn nào khó hiểu hoặc chưa tròn câu vui lòng pm để góp ý ho mình để chỉnh sửa nhằm hoàn thiện câu chữ ,cho người đọc dễ hiểu hơn.Bài dịch mình dịch thoát nghĩa cho phù hợp nên sẽ không đúng với từng câu trong sách nhưng vẫn đúng với những nội dung mà tác giả muốn miêu tả .
     
  2. ca_vangSG

    ca_vangSG Well-Known Member

    Tham gia:
    26/3/10
    Bài viết:
    379
    Thích đã nhận:
    766
    Đến từ:
    TP.Hồ Chí Minh
    Lời giới thiệu
    Những tác động từ tự nhiên tạo ra những giống loài trĩ khác nhau ở Đông Nam Á.Trong cuộc hành trình từ miền Đông Ấn Độ cho tới Đông Nam Á đã có nhiều loài mới được biết đến.Mục đích của chuyến đi này bắt nguồn từ việc muốn tìm kiếm thông tin chính xác về những loài chim xinh đẹp và đặc hữu, đang dần trở nên hiếm hoi.Nó giúp ta hiểu rõ hơn về tập tính và môi trường sống của chúng.Đây là điều quan trọng giúp ta hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển loài chim trĩ.Loài chim có thể sẽ sớm biến mất trên hành tinh này.
    Với gần 100 hình minh họa các loài trĩ được in bằng những khuôn in màu . Bởi 6 họa sĩ hàng đầu đến từ Anh Quốc và Hoa Kỳ .Các vùng sinh thái của chim trĩ được thể hiện bằng những hình vẽ in từ các bản in ,chúng được vẽ từ các bức ảnh chụp trong thực tế của tác giả.Từ những ngọn núi cao và dốc đứng của dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ .Cao tới 16.000 dặm so với mặt nước biển.Cho tới những bờ biển nhiệt đới của quần đảo Java .Rất nhiều loài chim mới được bổ sung vào bản đồ phân bố của các loài chim,ta có thêm nhiều hình minh họa vẽ về những loài mới .Ta cũng biết được về lịch sử tiến hóa của loài gà rừng .Thủy tổ của các giống gia cầm chúng ta đang nuôi dưỡng .Và một phần lịch sử của loài gia cầm ,giống loài đã đồng hành cùng lịch sử của loài người qua suốt các giai đoạn từ xưa cho tới ngày hôm nay.
     
  3. tuandr

    tuandr Thành viên chính thức

    Tham gia:
    29/6/11
    Bài viết:
    803
    Thích đã nhận:
    1,284
    Đến từ:
    tphcm
    nghe sao mà hấp dẫn quá à!, sắp thành con ngỗng có cái cổ kỉ lục luôn!:applause::-*:laughing:
     
    Ông già nam bộ and anxuanloc like this.
  4. ca_vangSG

    ca_vangSG Well-Known Member

    Tham gia:
    26/3/10
    Bài viết:
    379
    Thích đã nhận:
    766
    Đến từ:
    TP.Hồ Chí Minh
    [​IMG]
    (Painted by A. Thorburn, after G. E. Lodge.)
    KUSER'S BLOOD PARTRIDGE (Ithagenes hiseri Beebe)
    "Bức tranh miêu tả một bầy gà gô đang tìm thức ăn trên một dốc núi vào lúc chiều tà.Sau một trận bão tuyết tại một vùng rừng núi phía bắc Yunan. ,con gà gô trống đang đứng ngoài cùng giương cao đầu đang quan sát mọi động tĩnh để cảnh báo nguy hiểm cho cả bầy. Đồng cỏ chết năm ngoái bây giờ đã nhú lên vài bụi măng le nhỏ.Màu lông tối sẫm của gà gô Kuser’s sẽ giúp nó an toàn trước những loài ăn thịt như cáo và chồn.Khi nó ẩn mình trong những bụi cây đỗ quyên rậm rạp. "​
    ---------- Post added at 08:27 PM ---------- Previous post was at 08:22 PM ----------
    Công trình nghiên cứu này kéo dài 17 tháng từ miền Đông Ấn Độ sau đó là các vùng của Đông Nam Á .Tìm hiểu tập quán và nơi cư trú của chúng và tôi đã gặp nhiều may mắn và đã ghi nhận được một loài mới trong quá trình làm việc.
    Bắt đầu từ phía Đông dãy Himalaya.Tại vùng Terai của Nepal, Sikhim và Buhtan đi về phía Nam tới biên giới của Tây Tạng. Tôi đã bắt gặp các loài Black-backed Kaleege, Impeyan, the Satyr Tragopan,Phía trên cao ,nơi những ngọn núi phủ đầy tuyết là vương quốc của Blood Partridges.Tùy địa hình mà tôi sử dụng ngựa hay đôi chân của mình.Và tại đây những người chăn cừu Nepal và Tây Tạng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong chuyến hành trình .Xa xa về phía Tây là vùng Garhwal và Kasmia được che phủ bởi những cây linh sam và thông Himalaya cổ thụ. Tôi tự điều khiển cổ xe ngựa của mình và gặp được những bộ tộc sống ở vùng sơn cước này và họ đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu ở vùng này.Tại đây một lần nữa tôi lại gặp Imperian và cả White-crested Kaleege, Cheer, Koklass, và Western Tragopan.Khi đi xuống dưới vùng đồng bằng ,thời tiết thật sự khó chịu vì nóng bức nhưng bù lại khi thấy những con Công Ấn Độ và gà rừng đỏ mọi nóng nực và mệt mỏi trong tôi dần tiêu tan.Nó như là một phần thường để bù đắp lại cho tôi trong những ngày nóng bức này.. điều này cũng xảy ra tương tự như hành trình nghiên cứu công và gà rừng ở Srilanca ,tôi đã phải tự mình chèo xuồng và tự vượt qua các bãi sình lầy trong các khu rừng rậm.Tại đây tôi đã có chuyến đi săn với người Tamil và những người của bộ lạc Veddahs.Tiếp tục cuộc hành trình là đất nước Miến Điện tại đây tôi đã bắt đầu thấy sự xuất hiện của loài Bar-tailed ,Peacock Pheasants, Horsfield's Kaleege, the Lineated and the Silvers .Rất hiếm khi gặp được giống Sclater's Impeyan và Temminck's Tragopan .Từ Miến Điện đi lên phía biên giới Tây Tạng ,Yunan đã bắt đầu thấy giống Bar-tailed và các loài nhưPeacock Pheasants, Horsfield's Kaleege, Lineated và Silvers.Tại đây, tôi đã phát hiện một loài mới mà tôi gọi là Kuser's Blood Partridge. White-Eared-Pheasant and the Amherst Pheasant thường xuất hiện ở chân núi gần các thác nước.Khu vực này có những bộ lạc sống như thời nguyên thủy và những bộ tộc Kachin,Lolo và những người thiểu số gốc Trung Hoa.Ban ngày họ thường dùng những hòn đá lớn để chắn ngang con đường mòn mà tôi đi qua còn ban đêm họ dùng những mũi tên được tẩm thuốc độc tấn công những người Ghurka đi cùng tôi. Băng qua một eo biển tôi đã đến được bán đảo Mã Lai.NhỮng khu rừng râm ẫm ướt và đầy vắt ở Selangor, Penang và Johore.Tôi đã thấy Ocellated và Great Argus, Công lục, tCrested và loài Crestless Firebacks,những ngọn núi cao bên trên là nơi sinh sống của Bronze-tailedPeacock Pheasants.Ở đây những người thổ dân không giúp được gì cho tôi.Những người Mã Lai ít nhiệt tình với người lạ và người Sakai thường cảnh giác trước những người lạ mặt như chúng tôi nên chúng tọi không nhận được nhiều giúp đỡ tại vùng này.và tôi trong tâm trí của tôi đây là những ngày cô độc và buồn bã nhất trong cả cuộc hình trình, có một mình tôi rảo bước trong chuyến nghiên cứu ở vùng này.


    ---------- Post added at 08:50 PM ---------- Previous post was at 08:27 PM ----------

    Tại vùng rừng trên đảo Java tôi đang tìm giống wattled Junglefowl ,và đã tìm thấy nó khi nó uống nước ở gần một con sông.Những tuần lễ tôi sống tại đây thật là tuyệt vời,tôi dùng một chiếc xuồng nhỏ để vượt sông và len lõi trong những khu rừng già .Tại Borneo tôi cũng dùng xuồng để vào sâu trong những khu rừng nguyên sinh nơi chưa hề có dấu chân của loài người.Ngôi nhà của White-tailed Pheasant và những bãi múa của loài Grey Argus.
    Ở một đất nước rộng lớn khác . Ba đoàn thám hiểm riêng biệt được thành lập nhằm mục đích thám hiểm những vùng của đất nước Trung Hoa.Đoàn đầu tiên là nghiên cứu ở vùng Foukien đi bằng thuyền.Đoàn thứ hai đi lên vùng Yangtse.Và đoàn cuối cùng sử dụng ngựa và cáng khám phá các khu vực sa mạc bên ngoài Bắc Kinh và đi lên tới Vạn Lý Trường Thành . Chuyến đi tại Trung Hoa này đã mang lại cho tôi những suy nghĩ khó quên và những hiểu biết mới về loài true Ring-necked Pheasants, Chinese Silver, Cabot's Tragopan, the Reeves, và loài Brown Eared-Pheasant . Tại những hòn đảo trên đất nước Nhật Bản , gười Nhật đã phát hiện và nghiên cứu tất cả các loài trĩ sống trên các quần đảo của họ. Green Versicolour, và Copper là 2 phân loài phụ hoàn toàn khác nhau.
     
    Last edited: 6/5/12
  5. ca_vangSG

    ca_vangSG Well-Known Member

    Tham gia:
    26/3/10
    Bài viết:
    379
    Thích đã nhận:
    766
    Đến từ:
    TP.Hồ Chí Minh
    Trong chuyến khảo cứu của tôi đến những vùng của Châu Á có một vấn đề đã làm tôi lo ngại về tương lai của loài này.Tại Ấn Độ người chưa có nhiều ý thức trong việc bảo vệ thiên nhiên .
    Tại Mã Lai và một số nơi khác ở Đông Nam Á ,những cánh rừng cao su bạt ngàn mọc lên lấn át những cánh rừng nguyên sinh và đe dọa tới các quần thể động vật và thực vật tự nhiên ở những nơi đó . Tại Nepal và Yunan những người thợ săn tận diệt những con chim trĩ chỉ để lấy bộ lông của chúng. Tại Trung Quốc sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp từ trồng lúa sang chăn nuôi đã xóa sỗ nhiều nơi sinh sống của chúng và việc săn bắt để xuất khẩu thịt đông lạnh sang Châu  đã làm suy giảm nghiêm trọng một số loài trĩ.Và rất nhiều nơi những hành động săn bắn bất kể thời gian nào trong năm cũng đã làm giảm đi một số lượng chim do chúng không sinh sản kịp. Và hiện nay đã có một số biện pháp được đề ra để nhằm hạn chế sự suy giảm loài này trong thiên nhiên. Nó được bắt đầu ở Châu Âu , những qui định mới được đề ra để bảo vệ những loài hoang dã trong những cánh rừng của Phương Đông. Những đồn điền cao su và những loại thịt chim trĩ đông lạnh dần dần được hạn chế . Những nhà thiết kế thời trang sẽ không thể bán được những món hàng làm từ da và lông động vật có nguồn gốc bất hợp pháp . Những vật liệu mới sẽ dần thay thế các loại gỗ truyền thống trong xây dựng. Một lúc nào đó những tiếng kêu của loài Tragopan và Kaleege lại vọng vang trong những cánh rừng rậm ở Phương Đông.Và các giống chim sẽ quay trở lại nơi mà chúng đã từng phải rời xa.Từ cố gắng của mỗi người và mỗi quốc gia chúng ta sẽ cứu được loài chim xinh đẹp này thoát khỏi thảm họa tuyệt diệt.
     
  6. ca_vangSG

    ca_vangSG Well-Known Member

    Tham gia:
    26/3/10
    Bài viết:
    379
    Thích đã nhận:
    766
    Đến từ:
    TP.Hồ Chí Minh
    Những ghi chép từ khoảng 2500 năm về trước.Loài chim tuyệt đẹp này sống rất nhiều ở dọc các dòng sông từ Caucasus tới tận biển Đen . Aeschylus nhà soạn kịch cổ người Hi Lạp có nói về một nơi gọi là Cochis và một dòng sông linh thiêng tên là Phasis . Người La Mã và Hy Lạp cổ đã biết đến loài chim trĩ . Và chúng thường được nhắc đến bằng câu “ao-Lauos cpvis hoặc Phasianus avis—the bird of the Phasis” . Ngày hôm nay khi nói về giống loài này này chúng ta vẫn gọi chúng là bằng từ Pheasant, Người Pháp gọi nó là Faisan , cũng như người Đức gọi là Fasan , hay người Ý gọi là Fagiano . Loài chim trĩ đã được mô tả qua những bức tranh và những tấm lụa thêu từ rất lâu tại đất nước Trung Quốc Khoảng một ngàn năm trước khi người Hy Lạp biết đến loài trĩ và các giống khác. Như là Golden và Silver Pheasant . Nhưng những hiểu biết của chúng ta về chúng rất hạn chế và mơ hồ .Mặc dù chúng đã sống từ kỷ Miocen cùng thời kỳ với những động vật có vú như con chuột chù bé nhỏ cho tới voi ma mút khổng lồ , đó là thời kỳ của những con hổ răng kiếm và chó sói cổ đại săn bắt những con heo vòi hay những loài hưu nhỏ tại vùng đất bây giờ thuộc miền Nam nước Pháp , trãi dài từ Garonne cho tới Pyrenees . và tất cả đều đột ngột biến mất nhưng từ những mẫu xương hóa thạch mà chúng để lại , ngày hôm nay chúng ta biết nhiều hơn về cuộc sống xưa kia và nó cũng cung cấp cho ta bằng chứng về nguồn gốc cũa loại chim trĩ hiện nay.
    Tổ tiên của loài chim trĩ có lẽ bắt nguồn từ Châu Á.Tại gần vùng Himalya , nhưng trong kỷ Miocen một làn sóng di cư từ Châu Á Sang Châu ÂU . Và các hóa thạch tìm thấy đã chứng minh cho điều này , Nhưng tại Châu Âu có lẽ do môi trường sống không phù hợp nên chúng dần biến mất và quay trở về lại vùng đất Châu Á . Ngày nay kiến thức của chúng ta về chim trĩ tuy đã biết nhiều hơn nhưng vẫn còn rời rạc.Bốn mươi năm trước tiến sĩ Daniel Giraud Elliot đã tổng hợp các nghiên cứu của mình về loài chim trĩ trong cuốn sách “ Monograph of the Phasianidae ” có thể nói đó là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu về loài trĩ . Trong năm 1872 và những năm tiếp theo không có một công bố mới nào được nói tới về loài này..Một công trình duy nhất nhưng được mô tả chi tiết và bao quát hơn đó là cuốn ''The Game Birds of India, Burma and Ceylon," của hai nhà nghiên cứu Hume and Marshall được xuất bản bản và giới thiệu vào năm 1879 . Kể từ đó công việc nghiên cứu rất ít được chú ý . Từ những thông tin và kiến thức học được của những người đi trước , tôi đã cố gắng hình dung và mô tả về đời sống của loài chim.Với những thành công mà tôi đã có và còn nhiều việc đang chờ tôi phía trước như nghiên cứu về sự tiến hóa của hình dáng và sắc màu trên lông , những bản năng trong tự nhiên , thói quen và các kẻ thù của chúng… sẽ được tôi trình bày như những phác thảo còn mơ hồ chưa được nghiên cứu rõ ràng . Quan điểm về sự tiến hóa của loài chim trĩ của tôi trở nên rộng lớn hơn các nghiên cứu đã mang lại cho tôi nhiều hiểu biết hơn.Những giải thích của tôi ít khi dựa vào lý thuyết mà hoàn toàn dựa vào thực tế .Một lần nữa chúng tồi có thể nhấn mạnh .Trong thực tế không có sự phát triển thành một bộ mới khi có một loài mới được tách ra từ bộ cũ.Tuy nhiên mọi thứ đều có thể thay đổi theo một đường tròn . Các loài sẽ phải biến đổi để phù hợp và thích nghi với môi trường sống của mình .Ví dụ như loài True Pheasant (Trĩ đỏ khoang cổ) hay còn gọi là English Pheasant. Với sự đa dạng về hình dáng bề ngoài không ngừng thay đổi do đó không có ai đặt câu hỏi về nguồn gốc của chúng mà chỉ quan tâm tới các biến thể của loài này .Đối với loài Black-throated Golden và Black-shouldered Peafowl không nghi ngờ gì nữa đây là trường hợp đột biến.Trong trường hợp về bộ lông của loài White-tailed Wattled Pheasant ở đảo Borneo , bộ đuôi dài của loài công và đôi cánh của loài Argus.và bộ lông của những con trĩ mái trái ngược với sự lộng lẫy của con trống.Đây là điều tôi chưa thể lý giải được .
     
    Last edited: 8/5/12

Chia sẻ trang này