Làm sao để có thể lập lên 1 hệ thống gien ổn định qua các đời

Thảo luận trong 'Chăm sóc gà đẻ - gà con' bắt đầu bởi babygirl89, 30/6/10.

  1. babygirl89

    babygirl89 Well-Known Member

    Tham gia:
    6/8/07
    Bài viết:
    318
    Thích đã nhận:
    509
    Đến từ:
    hanoi
    Anh em trên diễn đàn nếu ai có kinh nghiệm có thể cùng bàn luận giúp mình .
    Như anh em biết hiện mình là thành viên trong hội gà MB . Đối với mình bất kể giống gà hay gia cầm nào đẹp nếu mình đủ điều kiện mình đều muốn nuôi . Trong vài năm qua mình cũng đã nuôi phát triển 1 số giống gia cầm và 1 vài giống gà kiểng . Cái mình muốn đề cập ở đây là muốn anh em giúp đỡ và đóng ghóp các ý kiến để có thể duy trì 1 hệ gien mang tính ổn định từ đời này sang đời khác . Tất nhiên để bảo là sự duy trì qua các đời giống nhau hoàn toàn là không thể đc nhưng có thể mang đc 70-80% kiểu hình của đời bố mẹ là tốt nhất . VD như gà thái kiểu hình ổn định của giống là đuôi dựng và mào cờ nhưng mào có thể có 5 hoặc nhiều khía , chân có thể lùn tịt hoặc hơi nhóng , các giống gà khác đều có kiểu hình đặc trưng riêng biệt . Các nghệ nhân trong Nam cũng đã có cách lai tạo đạt đến mức gần hoàn hảo về kiểu hình của gà MLDX . Thực sự vấn đề này mình đang rất quan tâm nhưng do kiến thức về Sinh Học của mình chưa đủ để có thể hoàn thành đc lên rất mong anh em giúp sức .
    Phương pháp của mình hiện tại chỉ đang dùng các kiến thức cơ bản của pp lai thuận nghịch và cách lai đồng huyết để lựa chọn các tính trạng ổn định đối với dòng gà tre. Nhưng 2 phương pháp này để kiểm chứng cần thời gian khá dài nên mình đăng bài rất mong anh em nào đã có quan tâm và tìm hiểu hãy cùng trao đổi để khám phá vấn đề này .
     
    pktuan, PIZARO, hoantraudat and 4 others like this.
  2. nghia_it

    nghia_it Well-Known Member

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,809
    Thích đã nhận:
    2,647
    Đến từ:
    Mỹ Tho
    mình nghĩ dùng Phuơng pháp lai cận huyết sẽ ổn định hơn , vì gà kiểng chủ yếu là định hình ko khó bằng định tính như gà cựa :)
     
  3. Đ_Phu

    Đ_Phu CLB Gà kiểng ABV TP Vĩnh Long

    Tham gia:
    24/8/06
    Bài viết:
    1,960
    Thích đã nhận:
    3,494
    Đến từ:
    Vĩnh Long
    Anh babygirl hỏi khó quá hehehe ! Theo mình nhận thấy thì hiện nay dân chơi gà kiểng Việt Nam chưa chú trọng đến việc này (ổn định gen qua từng đời lai tạo ).Họ chỉ sàn lọc qua từng giai đoạn ,bố mẹ nào đổ ra con đạt thì chừa ko đạt thì bán đi. .Không phải nói vậy có nghĩa là họ chịu hên sui khi chọn giống ,họ cũng có những kinh nghiệp riêng của họ khi chọn giống .Và chúng ta đang sử dụng cách này để "nâng cấp" gen cho gà kiểng của chúng ta qua từng thời kì :D .Đó cũng là 1 cách hay vì cá nhân chúng ta chưa đủ đk để làm những nghiên cứu khoa học về gen con tre kiểng .Mình có 1 số tài liệu có liên quan ít nhiều đến vấn đề này ,anh tham khảo xem có giúp đc anh ko !
    Bảo tồn Nguồn gen Vật nuôi Việt Nam 1990-2004 và định hướng 2005-2010
    Ban Chủ nhiệm Đề án Bảo tồn Quỹ gen Vật nuôi Quốc gia
    I. Mở đầu
    Các giống vật nuôi là một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học nó là tài sản quí giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế như là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống trước mắt và sau này. Không riêng các loài dã thú bị uy hiếp nghiêm trọng do môi trường sống bị thu hẹp và sự săn bắt của con người. Các giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trường cũng đang bị mất dần, bị làm nghèo đi.
    Một trong những niềm tự hào của đất nước ta, đó là dù phải trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, chúng ta vẫn còn giữ được một kho tàng đa dạng sinh học phong phú. Và việc gìn giữ kho báu này là công việc của toàn dân của nhà nước ta.
    Giống như dã thú, các vật nuôi cũng chịu sự huỷ diệt của thiên nhiên và ngay của con người, ngoài các lý do thiên tai hoả hoạn còn do:
    - áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, qua thay đổi giống mới, bỏ giống địa phương.
    - Tác động của các kỹ thuật mới như thụ tinh nhân tạo, tạo ra vô vàn giống lai có năng suất cao hơn, làm các giống nội thuần biến mất.
    Sự tuyệt chủng của nhiều giống vật nuôi địa phương, những giống tuy năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quí giá như thơm ngon, chịu đựng dinh dưỡng thấp, thích nghi với điều kiện sinh thái. Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hoá.
    Chính vì thấu hiểu sâu sắc hiểm hoạ đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trước đây nay là Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện Đề án Bảo tồn Nguồn gen Vật nuôi, một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động thực vật khác. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống gần đây đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất.
    Báo cáo dưới đây thể hiện quá trình và kết quả của công tác Bảo tồn Quĩ gen Vật nuôi từ năm 2000 đến nay. Các phương pháp và bước đi của Đề án và Dự án dựa theo qui trình của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO).
    2. Mục đích của việc lưu giữ quĩ gen vật nuôi
    Bảo tồn nguồn gen có 5 mục đích sau (FAO): kinh doanh, xã hội và văn hoá, bảo vệ môi trường, Giảm sự may rủi, đảm bảo những nhu cầu trong tương lai cho nghiên cứu và đào tạo.
    2.1. Mục đích kinh doanh
    Sự đa dạng về giống sẽ là nguồn vật liệu quí giá trong lai tạo các giống phù hợp với đòi hỏi luôn thay đổi của thị trường.
    2.2. Mục đích xã hội và văn hoá
    Các giống vật nuôi đã góp phần làm phong phú cho các vùng du lịch, lễ hội truyền thống, làm mô hình dạy học và huấn luyện...
    2.3. Mục đích bảo vệ hệ thống chăn nuôi, giảm sự may rủi
    Sự đa dạng vật nuôi sẽ giảm bớt đi sự may rủi, tăng cường sự bền vững trong các hệ thống sản xuất đặc biệt khi môi trường thay đổi, xuống cấp. ‘Mất con này thì còn con khác’.
    2.4. Đảm bảo những nhu cầu trong tương lai
    Nhu cầu của con người về tiêu dùng và sản xuất trong tương lai là chưa biết hết được. Sự bảo tồn nguồn gen chính là biện pháp bảo tồn nguyên liệu sản xuất cho tương lai. Điều này đã thấy ở nước ta qua hai điển hình: lợn Móng Cái và gà Ri cho đến nay vẫn có tác dụng lớn trong sản xuất.
    2.5. Mục đích nghiên cứu và đào tạo
    Sự đa dạng di truyền vật nuôi là vật liệu quí của công tác nghiên cứu và giáo dục nhất là trong các môn như: miễn dịch, di truyền giống, dinh dưỡng, sinh sản.
    3. Nội dung và phương pháp
    3.1.Nội dung
    - Bảo tồn vật nuôi tại nơi sinh (Nguyên vị-insitu) và nơi khác (chuyển vị– exsitu).
    - Bảo tồn vật liệu di truyền: tinh trùng, phôi, tế bào và ADN
    - Điều tra - phát hiện các đối tượng mới
    - Nghiên cứu xác định, đánh giá giá trị các đối tượng
    - Xây dựng hệ thống dữ liệu
    - Tuyên truyền và giáo dục
    3.2.Phương pháp và triển khai
    Các phương pháp bảo tồn cơ bản được dựa trên các hướng dẫn của FAO, của các cấp chính quyền Việt nam, trên năng lực hiện có.
    Vật nuôi chủ yếu được bảo tồn tại các địa phương.
    Một số giống quan trọng, có số lượng ít, hoặc cần nghiên cứu và phát triển còn được nuôi tại Viện Chăn nuôi: như Lợn ỉ, Vịt Bầu quì, Vịt Bầu bến, Vịt Kỳ lừa, Vịt Đốm Lạng sơn, Gà Hmông, Gà Tè. Do tình hình dịch bệnh cúm gia cầm, theo chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và PTNT, một số giống gà khác còn phải được nuôi tập trung, đó là Gà Hồ, Gà Đông tảo, Gà Tre, Ngỗng cỏ.
    4. Thực hiện
    4.1. Tổ chức thực hiện
    Viện Chăn nuôi đã cử một ban điều hành Đề án:
    Chủ nhiệm: GSTS Lê Viết Ly, Phó viện trưởng (1990- 2000); PGS.TS Hoàng Văn Tiệu - Phó Viện trưởng (2001 - đến nay).
    Thư ký: TS Lê Minh Sắt (1990-2000). TS Võ Văn Sự, Trưởng Bộ môn Động vật Quí hiếm và Đa dạng Sinh học làm thư ký (2001-đến nay).
    Một màng lưới được hình thành xuyên khắp đất nước, gồm các chuyên gia ngành chăn nuôi ở các trung tâm trạm trại, sở, viện, trường .. làm chủ trì. Các tổ chức xã hội cũng được huy động tham gia như Hội gà Hồ. Có 28 đơn vị bao gồm các Bộ môn Viện Chăn Nuôi, các Viện, Trường, các Hội Phụ nữ, Câu lạc bộ người cao tuổi, các Sở Nông nghiệp và PTT và Sở Khoa học Công nghệ các tỉnh .v.v..
    Đã xây dựng được một khu chuồng trại tại Viện Chăn nuôi đủ để nuôi 50 lợn, 1000 gà và 1000 vịt.
    4.2 Đề án, dự án
    Đề án Bảo tồn quỹ gen vật nuôi quốc gia: Từ năm 1990 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã đưa ra đề án này và Viện Chăn nuôi đã thực hiện đề án. Đây là đề án thường xuyên.
    Dự án Bảo tồn quỹ gen vật nuôi khu vực Đông Nam á - TCP/RAS/144/JPN- (100 triệu VND) của FAO tiến hành với sự hỗ trợ kinh phí từ Nhật bản. Được tiến hành từ 1994 đến 1997. Dự án này chủ yếu bảo tồn và phát triển hai đối tượng: Gà ác - Long an và Ngựa bạch - Thái nguyên.
    Dự án “Bảo tồn các giống vật nuôi có vốn gen quí hiếm ở Việt nam” với tổng đầu tư là 3 tỷ do Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư, Viện Chăn nuôi thực hiện trong 2 năm: 2001 và 2002. Mục đích của dự án này là tạo nên một “cú hích” cho công tác bảo tồn nước ta. Một khu chuồng trại đủ nuôi 2000 gà - vịt và 50 lợn được xây dựng tạo điều kiện bảo tồn các giống “sách đỏ”, nghiên cứu và phát triển ra thương trường. Một số thiết bị cho phòng nghiên cứu ADN và bảo tồn vật liệu di truyền cũng được đầu tư.
    Dự án sản xuất thử “Hoàn thiện quy trình sản xuất gà H’mông và Vịt Bầu quỳ” Dự án này đang được tiến hành (2003-2004). Bên cạnh mục đích nêu ra trong tiêu đề Dự án cũng đòi hỏi người thực hiện đưa thử ra thương trường hai giống vật nuôi nói trên.
    So sánh với thế giới
    Hiện nay trên thế giới có ít nhất 20 dự án liên quan tới bảo tồn quỹ gen đang hoạt động.
    FAO đang tiến hành dự án (Đại dự án): “Xây dựng báo cáo đầu tiên về hiện trạng nguồn gen vật nuôi toàn cầu” (First Report on the State of the World’s Animal Genetic Resources). http://dad.fao.org/cgi-dad/$cgi_dad.dll/WhatsNewI?110
    Tại ấn độ, đã xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo tồn quĩ gen vật nuôi, đặt tại bang Haryana. Tại nước này đang có các dự án sau:
    + Đa dạng nguồn gen vật nuôi (Animal Genetic Resource Biodiversity)
    + Hệ thống thông tin nguồn gen quốc gia (Integrated National Agricultural Resources Information System.
    + Nghiên cứu các đặc điểm di truyền và bảo tồn các giống cừu – dê vùng sa mạc. (Genetic characterization and conservation of important sheep and goat breeds of arid zone).
    + Nghiên cứu tín hiệu phân tử dựa vào kiểm định di truyền các gen mắn đẻ ở các giống cừu và dê bản địa (Molecular marker based pilot genetic test for fecundity genes in indigenous sheep and goat breeds).
    + Nghiên cứu đặc điểm và đánh giá các giống dê Beetal, bò Shahiwall và trâu Nili-Ravi. (Characterization and evaluation of Beetal goat, Sahiwal cattle and Nili-Ravi buffalo breeds) http://www.icar.org.in/nbagr/animalgr.htm
    + Nghiên cứu đặc điểm giống trâu Mehsanal (Characterisation of Mehsana Buffalo).
    Tại Mỹ có dự án: Chương trình germplasma vật nuôi quốc gia (National Animal Germplasm Program (Nagp). http://www.ars.usda.gov/research/projects/projects.htm?accn_no=405957
    5. Kết quả bảo tồn nguồn gen đến nay
    5.1 Cứu vãn các giống đang ở trạng thái tối nguy hiểm
    1. Lợn ỉ những năm 1970 có 2 triệu con, năm 1989 tại Thanh Hoá thì không còn nhiều lợn đực, lợn ỉ gộc (chịu ẩm ướt, chịu kham khổ, sử dụng thức ăn nghèo dinh dưỡng, tuổi sử dụng dài). Việc khôi phục đàn lợn này tiến hành từ năm 1993. Hiện nay đã có một đàn ở Thanh Hoá với 100 con và tại Viện Chăn nuôi có 50 con.
    2. Gà Hồ (giống gà to, gắn với văn hoá làng Hồ). Gà Hồ đã phát triển đến hàng nghìn con, cung cấp cho nhiều vùng trong các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên. Việc thi gà Hồ được tổ chức đều đặn hàng năm.
    3. Bò U đầu rìu (Nghệ An) đây là một giống bò đặc biệt tầm vóc lớn hơn hẳn so với bò vàng Việt Nam và có một ít ở Quì Châu, Quì Hợp - Nghệ An.
    4. Ngựa bạch do sinh sản kém, khai thác để làm thuốc nên số lượng không còn nhiều. Dự án TCP/RAS/104/JPN đã đề xuất lưu trữ giống ngựa này nhưng không được nhiều chỉ có 6 con. Hiện đã tiếp tục đầu tư thu thập và nuôi dưỡng tại TTNC và Phát triển Chăn nuôi miền Núi (Thái Nguyên). Hiện nay đã có 9 con và đã phát hiện có hàng trăm con tại Lạng sơn.
    5. Gà Tè (Lào Cai - Yên Bái), Viện Chăn nuôi, Thanh hoá là 2000 con nhưng trong dịch cúm gia cầm đã bị diệt mất 150 tại Yên Bái và Thanh Hoá.
    6. Vịt Bầu Bến (Hoà Bình): đây là một giống nổi tiếng thịt ngon, tuy nhiên năng suất thấp. Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên cùng với Sở NN và PTNT tỉnh Hoà Bình đã gây dựng và hiện nay đã có 100 con.
    7. Vịt Kỳ lừa (Lạng Sơn): đây là một giống nổi tiếng thịt ngon, tuy nhiên năng suất thấp. Phòng Khuyến nông huyện Bình gia và Viện Chăn nuôi đã phói hợp bảo tồn giống này. Đã đã có một đàn 500 con.
    8. Gà Đông cảo.
    9. Vịt Nàng (Vịt Đốm Lạng sơn)
    5.2. Đầu tư và bảo vệ các giống đang ở trạng thái nguy hiểm
    1. Gà Đông Tảo: hiện nay đã có một trại giống đàn 500 con gà giống nuôi tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc và Khoái Châu.
    2. Vịt Bầu quì (Nghệ An)
    5.3. Đầu tư bảo vệ các giống đang ở trạng thái vẫn nguy hiểm hoặc có xu thế giảm số lượng
    Lợn Mường khương (Sở NN Lào Cai), Lợn Mẹo (Kỳ Sơn-Nghệ An), Lợn Sóc (Buôn Mê Thuột - Đăk Lắc), Lợn Vân pa (Quảng trị), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn Ba Xuyên (Sóc Trăng). Bò H’mông (Hà Giang), Dê Cỏ (TT Dê và thỏ Sơn Tây), Thỏ Việt Nam đen và xám (Sơn Tây), Gà Đông Tảo (Khoái Châu-Hưng Yên), Gà ác (Viện Chăn Nuôi), Gà Okê (Hà Giang), Gà Tàu Vàng (TP. HCM), Gà H’mông (đen, trắng, nâu), (Sơn La), Vịt Bầu Quì (Quì Châu-Nghệ An).
    5.4. Bảo tồn ex-situ vật nuôi
    Những giống đang ở tình trạng cực kì nguy hiểm, hoặc cần chọn lọc hoặc phục vụ các nghiên cứu khác hoặc cần phát triển tại Hà Nội cung cấp giống cho thị trường đều được bảo tồn ex-situ.
    Lợn ỉ (4 cái và 2 đực - nuôi tại Hà Nội)
    Gà Đông tảo (nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Vạn phúc)
    Gà ác, Gà Tè, Hmông (tại Viện Chăn Nuôi).
    Lợn Vân Pa (Quảng trị) nuôi tại Trường Trung học Nông nghiệp Quảng trị
    Dự án Bảo tồn quĩ gen vật nuôi của Bộ Nông nghệp đã chú trọng hơn việc bảo tồn này: gồm 3 giống vịt quý (Bầu quì, Bầu bên, Kì lừa) 5 giống gà đặc sản (Gà H’mông thịt đen, trắng, gà Okê và gà Tè).
    5.5.Bảo tồn ex-situ nguyên liệu di truyền
    Tinh bò: Bò U đầu rìu, Bò H’mông
    ADN: Các giống Lợn Móng Cái (20 mẫu), Lợn ỉ (12 mẫu), Lợn Cỏ Nghệ An (8 mẫu); Gà Hồ (25 mẫu), Gà Mía (35 mẫu), Gà Ri (20 mẫu), Gà Đông Tảo (15 mẫu), Gà ác (20 mẫu), Bò Vàng (20 mẫu), bò Cóc (15 mẫu) và Hươu Sao (18 mẫu).
    5.6.Điều tra phát hiện các giống
    Trong quá trình thực hiện Đề án Bảo tồn Quĩ gen đã phát hiện ra các nguồn gen mới, gồm: Bò U Đầu Rìu (Nghệ Tĩnh), Bò H’mông (Hà giang), Gà H’mông (Sơn La), Gà Tè (Yên Bái), Gà Okê (Lạng Sơn).
    5.7.Phát triển và tăng cường hiệu quả sử dụng Quỹ gen vật nuôi nuớc ta
    a. Phát triển và tăng cường hiệu quả sử dụng
    1.Góp phần khắc phục tình trạng thoái hoá của giống lợn Móng cái thông qua tuyển chọn đực giống.
    2.Góp phần khôi phục và phát triển các giống cừu Phan Rang (từ 1000 con những năm đầu 90 lên gần 5000 con hiện nay tại Ninh thuận, Miền nam.
    3.Phát triển thử nghiệm giống cừu Phan rang tại Miền bắc. Hiện nay số lượng đàn cừu nuôi tại TTNC Dê và Thỏ Sơn tây đã tăng lên 300 con. Đàn này đã sinh sản và phát triển tốt.
    4.Phát triển dê Bách Thảo, giống dê kiêm thịt sữa ra các tỉnh phía Bắc.
    5.Hỗ trợ sự phát triển đàn hươu sao ở các tỉnh Nghệ an và Hà Tĩnh.
    6.Góp phần phát triển giống gà ác một giống gà thuốc tại miền Bắc. Năm 1999 Viện Chăn Nuôi và các gia đình khu vực Viện Chăn Nuôi cung cấp cho thị trường khoảng 15 000 con.
    7.Gà Mía: Trung tâm NC Gia cầm Vạn Phúc và xã Đường Lâm- Sơn Tây.
    8.Vịt cỏ: Trung tâm chăn nuôi vịt Đại Xuyên và các địa phương.
    9. Bò H’mông: Sau khi phát hiện, Đề án đã cung cấp kinh phí để mua bò đực, khai thác tinh để phối với các đàn bò vùng Hà Giang.
    10. Gà H’mông và Vịt Bầu quỳ: Với Dự án “Bảo tồn các giống vật nuôi có vốn gen quí hiếm của Việt nam” và Dự án Sản xuất thử nghiệm đã nhân giống giống gà H’mông và Vịt Bầu quỳ ra nhiều nơi tại Hà nội, Nghệ an, Thanh hoá, Hà Tây.
    11.Vịt Mốc Bình định: đã được đưa ra Hà nội để nuôi thích nghi và thử nghiệm.
    b. Góp phần cung cấp các vật liệu di truyền phục vụ nông nghiệp như lai kinh tế với các giống gà nhập nội
    Gà: Đông Tảo x Tam Hoàng (Trung Quốc); Rốt-ri x Tam Hoàng (Trung Quốc); Mía x Kabir (Israel); H’mông x Ai Cập…
    Vịt: Cỏ (trắng) x Khaki Campbell; Cỏ x Anh Đào + Super M; Cỏ x Anh Đào; Bầu x Anh Đào.
    Bò: Vàng x Sind; Vàng x Sind x Holstein Friz;
    Lợn: ỉ x Đại Bạch; Móng Cái x Landrace; Móng Cái x Yorkshire; ỉ x Yorshire; ỉ x Petrain.
    Nhiều con lai có giá trị kinh tế cao vì thích ứng với chăn nuôi chăn thả và thịt thơm ngon phù hợp với sở thích của người tiêu dùng.
    5.8. Điều tra phân loại mức độ an toàn của các giống theo tiêu chuẩn của FAO
    Vật nuôi nước ta gồm 11 loài. Tình trạng sử dụng, trạng thái phát triển và mức độ an toàn của nguồn gen vật nuôi được thể hiện trong Bảng 1:
    Bảng 1: Các giống gia súc nội địa Việt Nam, mục đích sử, mức độ an toàn, khuynh hướng tăng/giảm
    Giống Quê hương Mức độ sủ dụng trong sản xuất Mức độ an toàn Tăng/Giảm
    Các giống lợn
    Lợn ỉ mỡ Nam định Không sử dụng Tiệt chủng (1)
    Lợn ỉ gộc (năn) Nam định, Thanh Hoá Có sử dụng con cái làm nền Nguy kịch (2) Giảm/dễ mất
    Lợn Móng cái Quảng Ninh Sử dụng rộng rãi Không bền vững (5) Giảm/dễ pha tạp
    Lợn Lang Hồng Bắc Giang Bị lai tạp Tiệt chủng (1)
    Lợn Ba Xuyên Ba xuyên Sử dụng ít Dễ bị nguy hại (4) Giảm/dễ mất
    Lợn Thuộc Nhiêu Thuộc nhiêu Sử dụng ít, bị lai tạp, đực thuần rất ít Dễ bị nguy hại (4) Giảm/dễ mất (ít đực)
    Lợn Phú Khánh Khánh Hoà Bị lai tạp Tiệt chủng (1) )
    Lợn Mường khương Hà Giang Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) Giảm
    Lợn Mẹo Kỳ Sơn - Nghệ An Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) Giảm
    Lợn Sóc Buôn Mê thuột Đăk Lắc Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) Giảm
    Lợn Cỏ Nghệ An Tiệt chủng (1) Mất do không có lợn đực
    Lợn Sơn vi Vĩnh phú Tiệt chủng (1)
    Lợn Vân Pa Quảng trị Dễ bị nguy hại (4) Giảm
    Các giống bò
    Bò Vàng Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Giảm do chủ trương Sind hoá
    Bò H’mông Hà Giang Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định
    Bò U đầu rìu Nghệ An Sử dụng hẹp do ít Dễ bị nguy hại (4) Giảm do chủ trương Sind hoá
    Các giống dê, cừu, hươu, nai
    Dê Cỏ Miền bắc Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định
    Dê Bách Thảo Ninh thuận Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Tăng
    Cừu Phan Rang Ninh Thuận Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Tăng
    Hươu Sao Quỳnh Lưu - Nghệ An, Hương Sơn -HT Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Giảm
    Nai Trường ĐH Tây Nguyên Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) Tăng
    Ngựa Bạch Vùng núi phía Bắc Sử dụng hẹp do ít Dễ bị nguy hại (4) Giảm
    Ngựa Màu Thái Nguyên Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) ổn định
    Thỏ Việt Nam đen và xám
    Miền bắc Sử dụng tương đối rộng rãi Bình thường (6) ổn định
    Các giống gà
    Gà Ri Miền bắc Sử dụng rộng rãi Bình thường (6) Giảm/dễ pha tạp
    Gà Hồ Bắc Ninh Sử dụng hẹp do năng suất Bình thường (6) Phục hồi
    Gà Mía Sơn Tây Sử dụng hẹp do năng suất Bình thường (6) ổn định ở mức hẹp
    Gà Đông Tảo Khoái Châu-Hưng Yên Sử dụng hẹp do năng suất Không bền vững (5) Giảm/dễ pha tạp
    Gà ác Vĩnh Long Sử dụng rộng Bình thường (6) Tăng
    Gà Okê Hà Giang Sử dụng hẹp do năng suất Dễ bị nguy hại (4) Giảm/dễ mất
    Gà Lùn (Tè) Yên Bái Sử dụng hẹp do năng suất Dễ bị nguy hại (4) Giảm/dễ mất
    Gà Tàu Vàng Miền nam Sử dụng rộng Bình thường (6) Giảm
    Gà H’mông Sơn La Sử dụng tương đối rộng Dễ bị nguy hại (4) Tăng
    Gà Văn Phú Vĩnh phú Tiệt chủng (1) Chưa tìm thấy
    Các giống vịt, ngan, ngỗng, Bồ câu
    Vịt Cỏ Hà Tây Sử dụng rộng Bình thường (6) Giảm/dễ pha tạp
    Vịt Bầu Bến Hoà Bình Sử dụng hẹp Dễ bị nguy hại (4) Giảm
    Vịt Bầu Quì Nghệ An Sử dụng hẹp Bình thường (6) Tăng
    Vịt Kỳ Lừa Sử dụng hẹp Dễ bị nguy hại (4) Giảm/dễ pha tạp
    Vịt Mốc Bình định Sử dụng tương đối rộng Bình thường (6) Tăng
    Ngan Trâu Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng tương đối rộng Bình thường (6) Giảm/dễ pha tạp
    Ngan Dé Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng rộng Bình thường (6) Giảm/ pha tạp
    Ngỗng Cỏ Đồng bằng Bắc bộ Sử dụng hẹp Nguy kịch (2) Giảm
    Bồ Câu ta Cả nước Sử dụng rộng Bình thường (6) ổn định
    Ghi chú: 1: Extinct; tiệt chủng 2: Critical; nguy kịch 3: Endangered; nguy hiểm
    4: Vulnerable; dễ nguy hại 5: insecure; không bền vững 6: Normal: bình thường
    5.9. Xây dựng hệ thống tư liệu
    - Lập hồ sơ và tư liệu hoá cho từng đối tượng
    - Đã tiến hành xây dựng một hệ thống dữ liệu trên trang WEB của Viện Chăn nuôi, truyển tập kết quả nghiên cứu…
    - Đã xuất bản 4 cuốn sách liên quan đến bảo tồn nguồn gen vật nuôi:
    + Kết quả nghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam (NXB Nông nghiệp 1994).
    + Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam tập I: Phần gia súc (NXB Nông nghiệp 1999).
    + Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam tập 2: Phần gia cầm (NXB Nông nghiệp 2001).
    + át lát các giống vật nuôi ở Việt nam (NXB Nông nghiệp 2004).
    Nhiều bài báo đăng trên tạp chí FAO, tham gia đóng góp số liệu cho cuốn World Watchlist của FAO).
    Đã xây dựng 4 bộ phim phát trên TV2 (Gà, Vịt, Lợn, bò)
    5.10. Xây dựng quy trình nuôi dưỡng nhân giống cho từng đối tượng
    Tất cả mọi đối tượng trong phạm vi bảo tồn đều được nuôi dưỡng và nhân giống theo một qui trình mà Ban chủ nhiệm Đề án cùng với đội ngũ chuyên gia dề ra. Các qui trình bảo tồn này dựa theo sự hướng dẫn của FAO.
    6. Tồn tại
    Đối chiếu theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn của FAO về việc bảo tồn nguồn gen vật nuôi nội địa, thì công việc của chúng ta ‘hẹp về bề rộng, nông về độ sâu’.
    6.1. Còn sót nhiều giống chưa có điều kiện điều tra và bảo tồn
    Có nhiều giống gà, bò của các địa phương nhất là miền núi chưa có điều kiện xác định và đánh giá.
    6. 2. Nhiều giống vẫn chưa được bảo tồn ở mức độ an toàn thể hiện ở các mặt sau
    * Có thể bị chủ nhân bán bất kỳ lúc nào: Do kinh phí có hạn, chúng ta chỉ hỗ trợ tiền cho các gia đình nuôi bảo tồn. Tài sản vẫn là của họ. Chính vì thế họ có thể “liều” bán đàn vật đi khi có lãi hoặc cần tiền.
    * Một số giống được nuôi ở một địa bàn hẹp - điều này rát khó an toàn khi dịch bệnh xảy ra. Qua dịch cúm gia cầm cuối năm 2003, đầu năm 2004 một vấn đề nảy sinh là việc nuôi trong dân hết sức nguy hiểm vừa cho tính mạng người dân vừa cho vật nuôi. Sau dịch cúm gà này, có nguy cơ là một số giống gia cầm bị giảm số lượng và liệt vào nguy kịch.
    * Có thể bị lai tạp: Vì phần lớn các giống này nuôi trong dân lẫn với các giống khác nên rất dễ bị pha tạp với các giống khác.
    * Khả năng đồng huyết cao: Một số giống chỉ có rất ít đực giống - dẫn đến sự đồng huyết rất cao lợn ỉ, lợn Ba Xuyên….
    6.3. Việc phát hiện các giống mới bằng công nghệ ADN chưa có
    * Hiện nay chưa có hệ thống phân tích microsatellies để xác định khoảng cách di truyền giữa các giống. Năm 2004 Dự án Biodiva - hợp tác Pháp - Việt đã bắt đầu triển khai. Hy vọng dự án này sẽ hỗ trợ việc phân biệt các giống bằng công nghệ phân tích ADN.
    * Kỹ thuật lấy phôi từ vật nuôi cũng còn gặp nhiều khó khăn.
    * Chưa có một hệ thống chuồng trại bảo tồn ex-situ vật nuôi đủ lớn và an toàn.
    6.4. Thiếu kinh phí để đẩy mạnh việc khai thác
    - Việc khai thác đi theo 2 cách, một là sử dụng thuần, hai là dạng cung cấp nguyên liệu lai tạo.
    - Để khai thác được một đối tượng, cần phải có những dự án sản xuất thử và một đối tượng như vậy cần hơn 1 tỷ đồng, kéo dài trong 2 -3 năm.
    7. Định hướng 2005 -2010
    7.1. Đường lối
    a. Vừa bảo tồn vừa khai thác và phát triển, biến các giống nội địa thành hàng hoá đặc biệt xuất cho các nhà tạo giống Việt Nam và thế giới.
    b. Phát hiện các giống mới: Hiện nay ở các tỉnh miền núi phía bắc và dọc dãy Trường sơn còn nhiều làng mạc hẻo lánh chăn nuôi các giống bản địa lâu đời của họ. Việc phát hiện các giống này đòi hỏi nhiều công sức và kỹ thuật phân tích ADN, mà hiện nay chúng ta chưa làm được.
    c. Tạo một hệ thống từ Trung ¬ương tới địa phư¬ơng với hình thức ‘nhà nư¬ớc và nhân dân cùng làm’. Xã hội hoá hơn việc bảo tồn quỹ gen đưa cơ chế chia sẻ nguồn lợi và trao quyền sử dụng cho các đối tác.
    d. Hiện đại và qui mô hoá.
    e. Về mặt tổ chức: xem xét việc thành lập một trung tâm bảo tồn và khai thác nguồn tài nguyên vật nuôi quốc gia. Có thể kết hợp với hệ thống các vườn thú trong nước.
    7.2. Mục tiêu cụ thể 2005 - 2010
    1. Nâng số lượng các giống đến mức an toàn: mỗi giống có ít nhất 20 con đực và 1000 con cái giống.
    2. áp dụng kỹ thuật nhân giống đối với quần thể bé - nhằm đảm bảo sự đa dạng, tránh cận huyết và bảo vệ các đặc điểm giống điển hình.
    3. Tìm kiếm tiếp các giống còn tiềm ẩn trong n¬ước.
    4. Đư¬a nhanh các giống có khả năng ‘thị trường’ quay lại sản xuất.
    5. Tạo điều kiện chọn lọc, thí nghiệm lai tạo nên các giống lai kinh tế mới phát huy các đặc điểm chất lư¬ợng thịt, trứng.
    6. Tạo một hệ thống bảo tồn từ Trung ương tới địa phương. Xây dựng một Trung tâm (cấp trung ương) nuôi các giống có nguy cơ mất hoặc cần khai thác tinh, phôi, hoặc cần nghiên cứu kỹ hơn, cung cấp con giống cho các cơ sở khác, làm cơ sở trình diễn cho các nhà chuyên gia trong và ngoài nước.
    7. Bắt đầu nghiên cứu trao quyền tác giả cho các đối tác trong điều kiện có thể.
    8. Nghiên cứu các đặc điểm kinh tế - di truyền - bên trong ở các mức số lượng và chất lượng (nhiễm sắc thể, gen, các chỉ tiêu sinh lí - sinh hoá) đánh giá sự sai khác di truyền bằng kỹ thuật phân tích microsettiles.
    9. Hoàn chỉnh một hệ thống thông tin đa dạng vật nuôi theo yêu cầu và tiêu chuẩn của FAO trên mạng Internet.
    10.Mở rộng việc bảo tồn tinh, trứng, phôi và ADN.
    11.Xây dựng một vài phòng thí nghiệm tương đối hiện đại phục vụ nghiên cứu BTQGVN ở mức phân tử.
    11. Tăng nguồn kinh phí để triển khai những nhiệm vụ đề ra…
    www.vcn.vnn.vn
    ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Một số tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi gia cầm
    ________________________________________
    Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc, nhiều kỹ thuật mới được hình thành và phát triển. Các nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực như giống, dinh dưỡng, trang thiết bị, môi trường chăn nuôi.
    1. Tiến bộ kỹ thuật trong giống gia cầm
    - Tạo ra nhiều giống có khả năng sản xuất thịt cao cũng như các giống có khả năng sản xuất trứng cao như gà Leghor, Browrick, Avian, Hubbard, Cobb...
    - Sử dụng kỹ thuật Gene trong công tác giống như việc sử dụng gene lùn đưa vào gà mái ở dòng nặng cân để giảm trọng lượng gà mà không làm ảnh hưởng đến năng suất trứng. Mặt khác gene này còn có tác dụng giúp sự phát triển hệ cơ (cơ đùi và cơ lườn). Sử dụng gene chống Stress cho gà trong điều kiện nuôi công nghiệp. Hiện nay ở Nhật Bản, người ta sử dụng kỹ thuật chuyển đổi gene ở gia cầm. Với kỹ thuật này, nó giúp con người có thể cải tiến gene ở gia cầm thông qua việc cấy chuyển gene. Mặt khác, kỹ thuật này còn giúp bảo tồn các giống gia câm mà không phải trực tiếp nuôi dưỡng chúng thông qua việc bảo tồn tế bào (germ cells) và có thể kiểm soát tỷ lệ đực mái. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc sản xuất gà đẻ trứng. Trong kỹ thuật này, nuôi cấy phôi gà bằng phương pháp nhân tạo là một trong những khâu đặc biệt quan trọng. Trứng gà sau khi thụ tinh 2 giờ (trứng ở giai đoạn tế bào đơn , các tế bào dĩa phôi chưa biệt hóa) được lấy ra khỏi cơ thể gà mái và nuôi trong ống nghiệm. Qúa trình nuôi này được chia làm 3 giai đoạn . Giai đoạn 1 với thời gian là 24 giờ, trứng được nuôi trong ống nghiệm với nhiệt độ là 410C. Sau đó, trứng được chuyển sang giai đoạn 2, ở giai đoạn này, trứng được chuyển vào trong một vỏ trứng cắt 1/3 đầu và ấp nhân tạo ở nhiệt độ 370C - 380C thời gian 3 ngày. Giai đoạn thứ 3 bắt đầu từ ngày thứ 4, trứng được chuyển sang vỏ trứng khác lớn hơn và ấp nhân tạo ở nhiệt độ 380C với thời gian đến lúc nở. Kỹ thuật này cho tỷ lệ nở đạt 34,4% và gà con sau khi nở ra, chúng sinh trưởng và sinh sản bình thường.
    Trong điều kiện nước ta, việc nhập các giống gia cầm mới là cần thiết để tạo nguồn gà hạt nhân (giống ông bà bố mẹ). Tuy nhiên, cần phải xem xét giống nào cần nhập và khi nhập phải có hệ thống kiểm định, đánh giá. Song song với việc nhập này, chúng ta cũng vẫn phải cần làm tốt công tác giống nhằm duy trì và phát triển nguồn gene gia cầm trong nước (Ở Nhật, giống gà Nagoa là giống địa phương, qua chọn lọc đã trở nên khá nổi tiếng). Mặt khác, công tác giống còn phải tiến hành thử nghiệm các tổ hợp lai để tạo ra các giống gà phù hợp nhất và có năng suất cao trong điều kiện chăn nuôi của Việt Nam.
    2. Tiến bộ trong dinh dưỡng gia cầm
    Khuynh hướng nghiên cưú về dinh dưỡng gia cầm trong khoa học gia cầm Anh, khoa học gia cầm Nhật và khoa học gia cầm thế giới tập trung vào lĩnh vực sau:
    - Khả năng sử dụng tập đoàn thức ăn mới như ngô có hàm lượng dầu cao, lúa mạch
    - Đánh giá chức năng của một số loại thức ăn có thể làm giảm Cholesterol trong thịt và trong trứng.
    - Giảm thiểu sự ảnh hưởng môi trường trong sản xuất gia cầm: tập trung vào photpho
    - Nghiên cứu sự tương tác của Vitamin trong khẩu phần (A,C,D và E)
    - Vitamin D và sự phát triển xương
    - Anh hưởng của thuốc đối với vi khuẩn đường ruột
    - Canxi trao đổi và chất lượng vỏ trứng
    - Anh hưởng của nhiệt độ môi trường đối với việc sử dụng dinh dưỡng.
    - Hạn chế thức ăn và sự sinh trưởng
    Ngày nay, chăn nuôi gia cầm đã trở thành một ngành công nghiệp, chăn nuôi với qui mô lớn – do vậy một số nghiên cứu tập trung về nghiên cứu khẩu phần ăn của gà trong điều kiện chống stress. Trong điều kiện Stress , nhu cầu axit amin (aa) tăng , nhu cầu năng lượng tăng và chuyển hóa Protein giảm. Khẩu phần ăn trong điều kiện stress có khuynh hướng giảm năng lượng của tinh bộ, tăng năng lượng của chất béo (mỡ động vật hay thực vật), không tăng hàm lượng Protein thô mà tăng hàm lượng Axit amin (aa), lưu ý đến tỷ lệ Ca/P và Fe/Zn .
    Các nghiên cứu còn tập trung vào việc làm giảm lượng cholesterol trong thịt và trứng xuống tới mức cần thiết. Việc sử dụng men Phytase để tăng sự tiêu hóa photpho trong khẩu phần ăn của gia cầm và giảm thiểu lượng photpho thải ra trong phân được tập trung nghiên cứu để giảm sự ô nhiễm môi trường.
    3. Tiến bộ về trang thiết bị, quản lý và chăm sóc trong chăn nuôi gia cầm
    Trong nền công nghiệp gia cầm ở Nhật hiện nay , kiểu chuồng kín (window less house) được sử dụng khá phổ biến . Kiểu chuồng này có những ưu điểm như sau :
    - Đảm bảo tối ưu các điều kiện trong chăn nuôi như nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ... vì thế mà năng suất có thể đạt tối đa.
    - Cải tiến tiêu tốn thức ăn . Trong điều kiện khí hậu lạnh, khi nhiệt độ giảm 10C thì gà sẽ ăn thêm 1,5% thức ăn. Điều này có nghĩa là nếu gà đẻ ăn 120 gr thức ăn ở 100C thì nó chỉ cần ăn 100 gr thức ăn ở nhiệt độ 200C (điều kiện trong nhà windowless house) mà năng suất trứng gà không thay đổi.
    - Năng suất trứng ổn định quanh năm mà không bị chi phối hay ảnh hưởng điều kiện mùa vụ , thời tiết .
    - Giảm thiếu tỷ lệ chết của gà đẻ
    - Không cần phải cắt mỏ gà. Việc cắt mỏ gà là stress lớn nhất đối với gà đẻ giai đoạn gà con
    - Rất dễ dàng trong việc kiểm soát bệnh tật, Đặc biệt là dịch cúm gia cầm H5N1.
    - Tiết kiệm tối đa diện tích chăn nuôi . Đối với nuôi gà trong hệ thống nhà mở thì tỷ lệ nuôi là 6 con/m2 nhưng trong điều kiện nhà windowless house thì có thể nuôi 30 con/m2 chuồng
    - Giảm thiểu nhân công chăn nuôi. Với hệ thống chuồng nuôi này thì mỗi công nhân có thể nuôi 50.000 gà đẻ
    - Kiểu chuồng này là một trong những biện pháp giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường
    Đối với chăn nuôi gà thịt, loại chuồng kín, hoàn toàn tự động (Automated broiler house) cũng đã được đưa vào sử dụng ở Nhật. Với loại chuồng này, gà nuôi thịt không cần phải sử dụng bất kỳ một loại thuốc kháng sinh nào, thậm chí cả chương trình vắc xin. Gà có tỷ lệ nuôi sống cao và sản phẩm thịt gà rất an toàn, sạch sẽ.
    Trong chăn nuôi gia cầm, hệ thống máng uống tự động cũng đã góp phần tiết kiệm đến 40% lượng nước và đảm bảo vệ sinh tối đa nguồn nước cũng như ngăn ngừa sự lan truyền mầm bệnh.
    www.khuyennongvn.gov.vn
    Mình chơi gà rất đơn giản chỉ dùng con mắt quan sát và thời gian để kiểm định từng thế hệ .Tuy mất nhiều thời gian nhưng nằm trong khả năng của mình ,còn chuyện nghiên cứu để ổng định gen 1 loài thì coi bộ phức tạp và đó ko còn là chuyện của chúng ta mà của các nhà khoa học ,sinh vật học rồi !Bởi vì ko phải chúng ta muốn làm là đc ,nó mất nhiều thời gian ,tiền bạc và sức lực nữa !Nếu anh em ,cá nhân đơn vị nào có điều kiện bỏ ra để làm 1 công trình nghiên cứu về con gà tre kiểng của Việt Nam ,để nó có thể được thế giới công nhận ,sánh ngang với các giống gà của THaiLan ,Nhật Bản thì đó là điều hết sức đáng mừng ko chỉ cho chúng ta những người yêu quí con gà tre Việt mà còn là niềm kiêu hãnh cho cả Việt Nam thân yêu !:x
     
    Last edited: 1/7/10
  4. babygirl89

    babygirl89 Well-Known Member

    Tham gia:
    6/8/07
    Bài viết:
    318
    Thích đã nhận:
    509
    Đến từ:
    hanoi
    Chào bạn rất cám ơn bạn về nguồn thông tin bổ ích trên . Nhưng cái mình đề cập đến đây không phải là việc bảo tồn nguồn gene hay dùng các tác nhân khoa học tác động để lai tạo ra 1 giống mới . Cái mình muốn đó là những gì thực tiễn mà anh em ta có thể bắt tay vào thực hiện đc . Ý nghĩ trên cũng bắt đầu từ kinh nghiệm nuôi gà của mình . Như anh em biết các giống gà có độ ổn định về hình dáng và màu sắc hiện nay đều là các giống gà cảnh ngoại nhập . VD như gà thái về kiểu hình thì anh em đều đã biết nhưng về màu sắc tại sao gà bên nhật hay thái có những nơi nuôi gà trắng chỉ có ấp nở ra gà trắng , đen ra đen , gà phoenix hay recomse cũng vậy . Còn gà thái ở VN bố mẹ gà nhạn vẫn có thể ra gà màu .....? Mình đã từng nuôi 1-2 cặp gà nhạn đc sinh sản tại Vn khi cặp đó sinh sản thì đời F1 cũng toàn gà nhạn và đời F2 của chúng cũng vậy mặc dù bản thân trước đó có thể các đời trước đó là gà màu . Mình nghĩ nguyên nhân duy nhất là do qua nhiều thế hệ lai tạo đồng huyết mà ra thôi .
    Mình không đi sâu vào để nghiên cứu để được công nhận bởi mình chưa đủ kiến thức và trịnh độ . Mình chỉ muốn làm sao để tự mình có thể cho ra những đời gà con mà tỷ lệ gà đẹp nhiều hơn thôi .
    Ông nội và bố mình vẫn hay nói với mình " Nếu muốn có kết quả thì phải bắt tay vào làm " bởi vì không làm thì mãi mãi vẫn chỉ dậm chân tại chỗ
    Như bạn nói hiên nay ae chơi gà kiểng chưa chú trọng lắm về vấn đề này vì có thể nó mất khá nhiều thời gian nhưng chắc anh em cũng đã tự hỏi cùng 1 con bố tại sao lai với con mẹ này ra con đẹp , với con mái khác lại không ra đc . Nếu đã có câu hỏi sao ta không bắt tay tìm ra câu trả lời nhỉ .
     
    Last edited: 1/7/10
  5. quachnguyen

    quachnguyen Chủ nhiệm CLB GK Q6

    Tham gia:
    1/10/08
    Bài viết:
    550
    Thích đã nhận:
    8,201
    Đến từ:
    Saigon
    Còn gà thái ở VN bố mẹ gà nhạn vẫn có thể ra gà màu .....? Mình đã từng nuôi 1-2 cặp gà nhạn đc sinh sản tại Vn khi cặp đó sinh sản thì đời F1 cũng toàn gà nhạn và đời F2 của chúng cũng vậy mặc dù bản thân trước đó có thể các đời trước đó là gà màu . Mình nghĩ nguyên nhân duy nhất là do qua nhiều thế hệ lai tạo đồng huyết mà ra thôi .
    Mình không đi sâu vào để nghiên cứu để được công nhận bởi mình chưa đủ kiến thức và trịnh độ . Mình chỉ muốn làm sao để tự mình có thể cho ra những đời gà con mà tỷ lệ gà đẹp nhiều hơn thôi .
    Ông nội và bố mình vẫn hay nói với mình " Nếu muốn có kết quả thì phải bắt tay vào làm " bởi vì không làm thì mãi mãi vẫn chỉ dậm chân tại chỗ
    Như bạn nói hiên nay ae chơi gà kiểng chưa chú trọng lắm về vấn đề này vì có thể nó mất khá nhiều thời gian nhưng chắc anh em cũng đã tự hỏi cùng 1 con bố tại sao lai với con mẹ này ra con đẹp , với con mái khác lại không ra đc . Nếu đã có câu hỏi sao ta không bắt tay tìm ra câu trả lời nhỉ .[/QUOTE]

    ý của Giang là chú hiểu,gà Việt Nam mình như hiện nay nếu mà dùng từ bảo tồn thì thật sự không đúng, nếu muốn dùng chính xác thì phải gọi là lai tạo thôi, tại bản thân hiện giờ những con gà của Việt Nam mình có nguồn gien ổn định đâu mà bảo tồn như ý muốn, tại sao gà thấy ở nước ngoài nguồn gien rất ổn định, nhưng sau khi vào Việt Nam thì lại xảy ra trường hợp như Giang nói...còn nếu như Giang muốn đỗ ra gà có tỷ lệ đẹp nhiều hơn thì Chú có mấy cách này Giang áp dụng thử xem nhé
    -trước tiên cho lai đồng huyết, nếu ra con không chuẩn thì cha hoặc mẹ không chuẩn
    -kế tiếp ta lấy trống cản với 2 hoặc 3 mái khác xem tỷ lệ ra đẹp nhiều hơn không
    - nếu không có kết quả khả quan thì ta có thể thay trống cho lai với những em mái trên xem sao?
    cái này cũng rút kinh nghiện từ chơi bồ câu Bi đó, tại sao chơi bồ câu bi thấy ra con đẹp người đòi mua luôn bố mẹ là vậy đó, mặc dù bố mẹ không đẹp nhưng được cái nó hơp gien cho ra thế hệ sau đẹp hơn
    theo mình nghĩ cách lai này là đơn giản mà có hiệu quả nhanh nhất đó
     
    Last edited: 1/7/10
  6. babygirl89

    babygirl89 Well-Known Member

    Tham gia:
    6/8/07
    Bài viết:
    318
    Thích đã nhận:
    509
    Đến từ:
    hanoi
    Ý của chú nguyên chính là cách cháu đang sử dụng đó . lai đồng huyết hay lai cận huyết nhằm duy trì tính trạng tốt hiện có ở cùng bố mẹ nhưng có nhược điểm là hay xảy ra hiện tượng đột biến nếu lai quá gần .
    Cách lai thuận nghịch chính là như chú nói Aa - Bb = Ab - Ba ( A,B là trống ; a,b là mái và Aa , Bb là cặp trống mái cùng bố mẹ đc chọn ) sau đó xét đời F1 của 2 hệ trên nếu gà con có nét tương đồng về 1 kiểu hình thì đó là gene trội có thể phát huy tốt vào đời sau . Đúng không chú ?
     
    quachnguyen thích bài này.
  7. hoantraudat

    hoantraudat Well-Known Member

    Tham gia:
    1/2/10
    Bài viết:
    282
    Thích đã nhận:
    934
    Đến từ:
    Hà---Nội
    bố mẹ đẹp chưa chắc ra con đã đẹp , nhưng bố mẹ xấu , hợp nhau lại ra con đẹp :D
     
  8. PIZARO

    PIZARO Well-Known Member

    Tham gia:
    16/1/10
    Bài viết:
    195
    Thích đã nhận:
    179
    Đến từ:
    Thanh Hóa
    theo mình cách lai cận huyết ở góc độ nào đó có thể tạo được tính ổn định gen ở cặp gà bố mẹ đối với gà con. Tuy nhiên gà đồng huyết con rất yếu, rất khó để sử dụng cho thế hệ sau. Có lẽ hiện giờ chỉ có cách chọn lọc bằng cách tuyển những cặp gà đẹp để từ đó lựa chọn ra những thế hệ tiếp theo đẹp (tuy chỉ được có khoảng 30%), cách làm này khá tốn công và mất thời gian.
     
    quachnguyen and babygirl89 like this.
  9. quachnguyen

    quachnguyen Chủ nhiệm CLB GK Q6

    Tham gia:
    1/10/08
    Bài viết:
    550
    Thích đã nhận:
    8,201
    Đến từ:
    Saigon
    sau đó xét đời F1 của 2 hệ trên nếu gà con có nét tương đồng về 1 kiểu hình thì đó là gene trội có thể phát huy tốt vào đời sau . Đúng không chú ?[/QUOTE]
    chính xác là vậy, chỉ có cách này dễ thực hiện và cho kết quả nhanh hơn
     

Chia sẻ trang này