MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ RỪNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Thảo luận trong 'Gà rừng' bắt đầu bởi VIPXILIP, 23/11/12.

  1. VIPXILIP

    VIPXILIP Well-Known Member

    Tham gia:
    25/8/12
    Bài viết:
    308
    Thích đã nhận:
    548
    Đến từ:
    ๑۩۞۩๑_CAMPUCHIA_๑۩۞۩๑
    1.BỆNH CẦU TRÙNG
    1.1 Nguyên nhân
    Bệnh cầu trùng do loại ký sinh trùng đơn bào gây ra, có nhiều loại cầu trùng gây bệnh trên gia súc gia cầm, giống cầu trùng gây bệnh trên gà là Eimeria.
    Có 11 loài Eimeria được phát hiện ở gà, trong đó có 5 loài gây thiệt hại đáng kể là:
    - E.acervulina ký sinh ở tá tràng hồi tràng.
    - E. maxima và E.necatrix ký sinh ở phần giửa ruột và bao noãn hoàng.
    - E. brunetti và E.tenella ký sinh ở vùng thấp hơn ở ruột non.
    - Cầu trùng có sức đề kháng cao với các chất sát trùng thông thường và điều kiện ngoại cảnh. Người ta thường sử dụng nhiệt độ cao để tiêu diệt cầu trùng.
    - Gà mắc bệnh do ăn phải kén hợp tử (oocysts) có trong phân của gà bệnh hoặc gà khỏi bệnh thải ra môi trường ngoài.
    1.2 Triệu chứng.
    Gà tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc cầu trùng, nhưng tuổi hay bị bệnh nhất là 2 - 3 tuần tuổi.
    Gà trưởng thành hay bị bệnh ở thể mãn tính.Lúc đầu gà bỏ ăn, khát nước, lông xù, thường ngồi trên hai chân, đi lại loạng choạng. Phân loãng, lúc đầu có màu xanh, sau đó có màu nâu có lẫn máu, đôi khi trong phân có nhiều máu. Lỗ huyệt bẩn do dính phân, cuối thời kỳ bệnh có thể bị liệt. Bệnh ở thể cấp tính gà thường chết nhanh sau 2 - 7 ngày, bệnh cũng có thể kéo dài, khỏi dần nhưng chậm.
    1.3 Bệnh tích
    Mào, tích, cơ bắp nhợt nhạt. Mổ khám nếu là cầu trùng manh tràng thì thấy manh tràng ứ đầy máu, sưng to. Nếu là cầu trùng ruột non thì tá tràng sưng to, ruột phình to từng đoạn, niêm mạc tá tràng viêm, trên bề mặt thấy các ổ tròn xám.
    1.4 Phòng bệnh.
    Không để nền chuồng ẩm ướt, dọn sạch phân và thường xuyên trộn vào thức ăn thuốc chống cầu trùng. Thuốc phòng và chữa cầu trùng cần thay đổi theo từng thời kỳ để tránh cầu trùng thích ứng với loại thuốc đó.
    1.5 Điều trị.
    Dùng một trong các loại thuốc sau để phòng và trị bệnh :
    -Vicox toltra : 1ml/ 1 lít nước uống liên tục trong 2 ngày
    - Vime Anticoc: 1g pha với 1 lít nước hoặc 5g trộn vào 4kg thức ăn dùng liên tục 5 ngày.
    Cần bổ sung thêm :
    - Vimix Plus : 1g pha cho 1 lít nước dùng pha nước cho uống liên tục 3 - 5 ngày.
    - Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ liên tục 5 ngày.
    - Khi gà bệnh cần bổ sung vitamin K, E, A và Selenium vào khẩu phần để làm giảm mức độ chết của gà

    2.BỆNH THƯƠNG HÀN
    2.1 Nguyên nhân.
    Bệnh bạch lỵ gà là một bệnh nhiễm trùng truyền nhiễm do Samonella pullorum gây nên, thường nhiễm cho gà con. Đặc điểm của bệnh là gà ỉa phân trắng đục như vôi, nên gọi là "bạch lỵ". Gà con mắc bệnh thường chết tới 70-80%. Nếu trong thức ăn lại thiếu vitamin, nhất là B1 sẽ gây chết tới 100%. Nhiều vùng chăn nuôi gà coi đây là một bệnh nguy hiểm, làm cản trở đến phát triển chăn nuôi. Đối với gà trưởng thành mắc bệnh bạch lỵ (phân trắng) gọi là bệnh thương hàn gà, do Samonella gallinarum gây nên. Gà mái đẻ mắc bệnh, trứng nở, gà con sẽ mang bệnh bạch lỵ. Vì vậy, trên thực tế hai bệnh này, coi như là một bệnh bạch lỵ do hai loại vi khuẩn pullorum và gallinarum gây nên. Từ đó, sự nhiễm trùng gây bệnh mang tính di truyền là phương thức truyền bệnh phổ biến, mang tính truyền nhiễm dai dẳng, lưu hành trong từng địa phương. Gà là loại cảm thụ bệnh mạnh nhất, gà con mới nở vài ngày tuổi thường mắc bệnh nhiều hơn cả. Gà trưởng thành ít mắc và mắc ở thể mạn tính, trở thành những ổ chứa vi khuẩn. Gà tây, gà gô, vịt con, ngỗng con có thể mắc bệnh này. Gà trống khi giao phối với gà mái mắc bệnh sẽ truyền bệnh cho nhiều gà mái khác.
    2.2 Triệu chứng.
    - Gà con mắc bệnh, đứng một chỗ, buồn rầu kêu "chiếp chiếp" liên tục, kém ăn, đi lảo đảo, lông tơ khô, dựng đứng, mắt nhắm, niêm mạc mắt, mào, yếm đều nhợt nhạt. Phân lúc đầu xanh nhạt, sau trắng, đặc, cứng như vôi, có khi lẫn tia máu, phân khô bao quanh và bịt chặt lỗ đít làm gà không ỉa được. Kéo dài vài ngày thì chết, nhiều khi còn thấy gà con biểu hiện đau, sưng khớp, què.
    - Gà trưởng thành, thường mắc chủ yếu ở thể mạn tính, gà mái sẽ đẻ thưa, sau ngừng hẳn do buồng trứng bị viêm, nếu viêm nặng buồng trứng sẽ vỡ gây viêm xoang bụng gà sẽ chết.
    2.3 Phòng bệnh.
    - Thường xuyên dọn vệ sinh, thay độn chuồng, dùng nước vôi 10% tiêu độc.
    - Máng ăn, máng uống, dùng xút 3% để rửa, sau dội lại bằng nước sôi.
    - Tiêu độc lò ấp hoặc phòng ấp, cần dùng formol và thuốc tím (MnO4K2) theo tỷ lệ 2g formol và 1,5g thuốc tím, trộn vào nhau để hơi formol bay ra khử trùng cho một mét khối không khí. Hoặc có thể để formol bốc hơi trong lò ấp mỗi tháng 1 lần kéo dài từ 30-60 phút.
    - Kiểm tra máu gà mái để phát hiện bệnh, cứ 6 tháng một lần, nếu cần, gửi máu gà mái trong đàn nghi có bệnh về phòng chẩn đoán thú y trung ương kiểm tra. Nếu có bệnh, tiêu diệt và vệ sinh tiêu độc chuồng trại, rồi mới nhập gà mái khác.
    2.4 Điều trị.
    Dùng một trong các loại thuốc sau:
    - Chloramphenicol (Tyfomycine) pha nước tỷ lệ một phần vạn đến hai phần vạn (từ 1/10.000 đến 2/10.000) cho gà con uống tự do trong một tuần.
    - Sulfamerazine (hoặc Sulfamethazine) cho uống tự do từ 1-2 ngày.
    - Tetracycline và Nitrofurazolidon, mỗi thứ 25g trộn trong 10kg thức ăn hỗn hợp cho gà ăn tự do 5 ngày rồi nghỉ, mỗi tháng 1 lần. Ngoài ra, còn nhiều thứ thuốc khác như Neomycine, Ampicolifort... đều có hiệu quả phòng và trị bệnh này, trước khi sử dụng đọc kỹ lời chỉ dẫn ở nhãn thuốc.

    3.BỆNH MAREK
    3.1 Nguyên nhân.
    Bệnh do Herpesvirus gây ra, đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh của tế bào lâm ba dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên và các cơ quan nội tạng, da, cơ, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn cơ năng vận động và bại liệt. Gà và gà tây, gà sao đều mắc bệnh, nhất là gà con trên 6 tuần tuổi dễ mắc bệnh hơn. Phổ biến nhất là từ 8 - 24 tuần tuổi. Đường lây lan chủ yếu là đường hô hấp và tiêu hoá.
    3.2 Triệu chứng.
    * Thể cấp tính : Xảy ra chủ yếu trên gà con 4 - 8 tuần tuổi, ít có triệu chứng điển hình, chết đột ngột từ 20 - 80%. Gà bệnh kém ăn, gầy còm, bại liệt chỉ thấy ở cuối ổ dịch, bệnh có thể chuyển sang thể mãn tính. Thể mãn tính Xảy ra ở gà từ 4 - 8 tháng ở thể thần kinh và thể mắt.
    * Thể thần kinh: Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ dần rồi đến toàn thân. Đuôi gà rũ xuống. Gà bị liệt một chân hay cả 2 chân. Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, gà mái bệnh giảm đẻ, gà trống giảm khả năng đạp mái.
    * Thể mắt: Mắt lúc đầu bị viêm nhẹ, gà tỏ ra mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong, dần dần bị viêm màng tiếp hợp, rồi viêm mống mắt, gà có thể bị mù mắt
    Sau 14 ngày nhiễm bệnh, sự suy giảm miễn dịch bắt đầu xuất hiện do virus tấn công vào lách, tuyến ức và Fabricius. Từ 5 đến 6 tuần sau khi bị nhiễm các khối u trong cơ thể gà bắt đầu xuất hiện do nhiều tế bào lymphô T đã biến đổi thành tế bào ung thư.
    3.3 Bệnh tích.
    *Thể cấp tính: Chủ yếu hình thành khối u ở gan, lách thận, phổi, buồng trứng, dịch hoàn, có 2 dạng khối u là Khối u tràn lan: Gan lách có khối u to hơn bình thường, nhạt màu và bở. Khối u hạt: Bề mặt cơ quan sần sùi với những hạt to nhỏ không đều nhau. Một số trường hợp có khối u ở dạ dày tuyến, thành ruột, cơ, da . Bệnh tích ở da thường không rõ, trong vài trường hợp tuyến lông có thể bị nhiễm gây xuất huyết dưới da đùi gọi là "đùi đỏ Alabama".
    *Thể mãn tính: Chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi như: dây thần kinh cánh, hông, dây thần kinh xuất phát từ phần dưới của tuỷ sống, như dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh sinh dục. Ở một số trường hợp còn có thấy tuỷ sống bị sưng to, cơ bị teo, mắt bị mù, con ngươi biến dạng.
    3.4 Phòng bệnh.
    Bệnh không có thuốc điều trị do đó việc áp dụng qui trình phòng bệnh bằng vệ sinh, diệt trùng và tiêm phòng vắc xin cho gà lúc 1 ngày tuổi ngay tại phòng ấp là cần thiết.
    Chú ý: Tất cả các loại vắc xin phòng bệnh Marek đều phải dùng hết trong 2 giờ sau khi pha, tốt nhất là 30 phút. Để quá 2 giờ hoặc đông lạnh trở lại đều làm mất hiệu lực của vắc xin.

    4.BỆNH NEWCASTLE
    4.1 Nguyên nhân.
    Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramyxovirus gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá. Bệnh lây lan nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.Virus dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá, do tiếp xúc gà bệnh
    4.2 Triệu chứng.
    Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, có thể biến động từ 5 – 12 ngày.
    *Thể quá cấp tính:Thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh.
    *Thể cấp tính: Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43 0C, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, từ mũi chảy ra chất nhớt. Gà rối loạn tiêu hoá, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, khi dốc gà ngược thấy có nước chảy ra có mùi chua khắm. Vài ngày sau gà tiêu chảy phân có màu nâu sẫm, trắng xanh hay trắng xám. Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những tia màu đỏ.
    Gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như ở gà giò. Ở gà đẻ sản lượng trứng giảm hoặc ngừng để hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày
    *Thể mãn tính: Xảy ra ở cuối ổ dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan vận động bị tổn thương biến loạn nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi giật lùi, vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm sóc tốt gà có thể khỏi nhưng triệu chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch suốt đời.
    4.3 Bệnh tích.
    *Thể quá cấp: Bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở ngoại tâm mạc, màng ngực, cơ quan hô hấp.
    *Thể cấp tính: Xoang mũi và miệng đều chứa dịch nhớt màu đục. Niêm mạc miệng, mũi, khí quản xuất huyết, viêm phủ màng giả có Fibrin.- Tổ chức liên kết vùng đầu, cổ, hầu bị thuỷ thũng thấm dịch xuất huyết vàng.
    *Thể mãn tính: Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết màu đỏ, tròn bằng đầu đinh ghim, các điểm xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt. Dạ dày cơ xuất huyết. Ruột non xuất huyết, viêm. Trong trường hợp bệnh kéo dài có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo. Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan xuống ruột già, ruột non. Gan có một số đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ có màu nâu xám. Bao tim, xoang ngực, bề mặt xoang ức xuất huyết Dịch hoàn, buồng trứng xuất huyết thành từng vệt từng đám. Trứng non vỡí trong thành xoang bụng.
    4.4 Phòng bệnh.
    Virus gây bệnh Newcastle làm tế bào vật chủ sản sinh interferon, vì vậy không tiêm thêm vắc xin virus khác sau khi chủng ngừa Newcastle từ 5 – 7 ngày. Hiện nay thường sử dụng phổ biến vắc xin do Công ty thuốc thú y TW II sản xuất, lịch chủng ngừa như sau:
    - Vắc xin Newcastle hệ 2 dùng nhỏ mắt mũi cho gà lúc 3 ngày tuổi
    - Do miễn dịch không bền nên tiếp tục dùng vắc xin Newcastle hệ 2 nhỏ mắt tiếp cho gà lúc 21 ngày tuổi hoặc dùng vắc xin Lasota pha nước cho gà uống, hoặc nhỏ mắt, nhỏ mũi
    - Phòng lần 3 bằng vắc xin Newcastle hệ 1, tiêm dưới da cho gà khi được 2 tháng tuổi, sau đó định kỳ hàng tháng lấy máu kiểm tra bằng phản ứng HA-HI, khi GMT dưới 20 phải tiêm phòng lập lại. Vắc xin ngoại nhập phòng bệnh Newcastle của hãng MBL & TRI BIO chủng ngừa theo lịch sau:
    - Gà 3 ngày tuổi nhỏ mắt hoặc cho uống bằng vắc xin Inacti/vac B1-M48 ngừa bệnh Newcastle và viêm phế quản truyền nhiễm
    - Gà 21 ngày tuổi ngừa bằng vắc xin BIO-SOTA Bron MM nhỏ mắt, cho uống hoặc phun sương.
    - Gà trên 3 tháng tuổi tái chủng bằng INACTI/VAC ND-BD-FC3 tiêm dưới da 0,5ml/ con.
    4.5 Điểu trị.
    Không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu. Nên bổ sung thêm Vitamin C và Vitamin nhóm B, cải thiện khẩu phần thức ăn có thể làm giảm bớt tỉ lệ tử vong trong giai đoạn cuối ổ dịch. Hiện nay một số công ty thuốc thú y trong nước có giới thiệu sản phẩm kháng thể Gumboro dùng phòng trị cùng lúc các bệnh Gumboro, Newcastle, Viêm khí quản truyền nhiễm.

    5.BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH
    5.1 Nguyên nhân.
    Bệnh gây ra do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Bệnh không làm chết nhanh và nhiều, nhưng làm cho gà chậm lớn, giảm đẻ, trứng gà bệnh không ấp nở được, gây chết phôi. Bệnh lây lan qua đường hô hấp và qua đường sinh dục. Khi gà khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên gọi là hô hấp mãn tính.Gà 2 - 4 tháng tuổi mắc bệnh nhiều nhất, gà nuôi công nghiệp hoặc mật độ nuôi cao dễ mắc bệnh hơn gà nuôi gia đình, mật độ nuôi thấp.
    5.2 Triệu chứng.
    Bệnh thường phát ra vào mùa đông, gà trống thường bị nhiễm nhẹ, tỉ lệ mắc bệnh lên đến 100%. Bệnh thường nặng hơn khi nhiễm thêm các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm và E.coli. Gà bệnh niêm mạc mắt đỏ, xung huyết, chảy nước mắt, nước mắt đặc dần, đóng dày khóe mắt, tích tụ fibrin ngày càng nhiều tạo thành những khối to bằng hạt đậu trong mắt có thể làm cho gà bị mù.
    - Viêm mũi, chảy nước mũi, lúc đầu loãng sau đó đặc có màu trắng sữa bám đầy khóe mũi làm gà nghẹt thở.
    - Vách các xoang nhất là xoang dưới mắt sưng làm cho mặt gà bị biến dạng. Đây là triệu chứng điển hình của bệnh.
    - Niêm mạc họng, hầu các túi khí bị viêm làm cho con vật càng khó thở, mào và yếm tím bầm kiệt sức rồi chết. Ngoài ra một số trường hợp gà bị viêm khớp, viêm bao màng hoạt dịch. Ngoài ra cũng có một số trường hợp gà có triệu chứng thần kinh. Trứng bị nhiểm khuẩn thì phôi bị chết trước khi nở ra, thường khoảng 10 - 30%.
    5.3 Bệnh tích.
    Nếu gia cầm chết ở giai đoạn đầu thì những biến đổi bệnh tích không đặc trưng lắm. Bệnh tích bao gồm các dịch xuất tiết ra từ các xoang khí quản và túi khí.
    Thành các xoang dưới mắt phù, chứa nhiều dịch nhớt màu vàng xám. Viêm cata niêm mạc đường hô hấp: Xoang mũi, khí quản tích đầy chất nhầy như keo dính chặt vào bề mặt niêm mạc. Phổi phù thủng, bề mặt phủ fibrin có những vùng viêm hoại tử. Các túi khí dầy đục, bên trong chứa dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài chất này sẽ khô lại và có màu vàng, bở. Viêm gan, phúc mạc, lách hơi sưng. Vi khuẩn có thể xâm nhập phần trên cơ quan sinh dục gà gây viêm vòi trứng, làm giảm đẻ, vi khuẩn nhiễm thẳng vào trứng, gà ấp nở èo uột
    5.4 .Phòng bệnh.
    Có thể sử dụng vắc xin chết MG để phòng bệnh cho gà bằng cách tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Nhưng để thực hiện qui trình phòng bệnh bằng vắc xin thì trại ấp phải nhận trứng từ những trại gà được kiểm tra là không bị nhiễm bệnh. Trong thực tế một số gà đẻ nhiễm MG vẫn giữ lại làm giống vì MG không ảnh hưởng quan trọng trên năng suất trứng, nhưng tỉ lệ nhiễm bệnh trên gà con từ những gà bố mẹ có thể đến 30% và là nguồn lây lan cho các gà con khác nở cùng lúc. Do đó việc phòng bằng vắc xin tỏ ra không hiệu quả về mặt kinh tế mà nên dùng kháng sinh đặc trị cho gà trong vòng 10 ngày khi nở.
    5.5 Trị bệnh.
    Dùng một trong các kháng sinh dạng bột pha vào thức ăn hay nước uống liên tục 3-5 ngày:
    - Anti-CCRD Plus: Pha 2g thuốc với 1 lít nước cho gà uống.
    - ETS : 1g dùng cho 2 kg thể trọng/ngày.
    - Tylenro 5+5 : 1g dùng cho 3 kg thể trọng/ngày.
    - Vimenro : Gói 10g dùng cho 15-20 kg thể trọng. Hoặc các kháng sinh dạng tiêm để điều trị cho đàn gia cầm bệnh nặng:
    - Tylenro 5+5 : 1ml dùng cho 5kg thể trọng/ngày.
    - Dilog : 1ml/ 5kg thể trọng/ ngày
    Các kháng sinh trên tiêm liên tục trong 3 - 5 ngày. Bên cạnh việc dùng kháng sinh trị bệnh cho gia cầm việc bổ sung các chất điện giải và vitamin cũng rất cần thiết, có thể dùng :
    - Vimevit C 120 : 1g pha cho 2lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.
    - Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống liên tục 3 - 5 ngày.
    - Vitaral : 1ml pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.

    6.BỆNH E.COLI
    6.1 Nguyên nhân.
    Bệnh do E.coli ở gia cầm xuất hiện ở nhiều thể bệnh khác nhau như Colibacillosis, Colisepticemia, Coligranuloma, Peritonitis, Salpingitis, Synovitis,... gây tổn thất kinh tế trong chăn nuôi gia cầm. E.coli là một vi khuẩn gây bệnh kế phát khi gia cầm bị stress hay bị bệnh, gây thiệt hại nhiều nhất trong chăn nuôi công nghiệp.
    2. Triệu chứng.
    Triệu chứng bệnh thường không đặc hiệu. Thời gian đầu ổ dịch gà ăn kém, tăng trọng kém. Ở gà con thường có biểu hiện ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có triệu chứng cảm cúm, sổ mũi, thở khó, phân loãng có màu trắng xanh, chết hàng loạt. Gà thường chết trong 5 ngày đầu. Đôi khi có hiện tượng sưng khớp.
    6.3 Bệnh tích.
    Thường thấy là viêm túi khí, viêm màng bao lá gan, viêm xoang bụng. Ở gà mái đẻ có bệnh tích cục bộ ở vòi trứng, buồng trứng, ống dẫn trứng, viêm khớp. Nếu kế phát sau bệnh CRD thì có thêm bệnh tích ở phổi và thường được gọi là bệnh viêm túi khí.
    6.4 Phòng bệnh.
    Do có nhiều chủng kháng nguyên E.coli nên việc phòng bệnh bằng vắc xin ít có hiệu quả.
    Quản lý tốt làm giảm lượng E.coli nhiễm nên ngừa được bệnh E.coli bộc phát.Vệ sinh trứng ấp bằng thuốc sát trùng trứng, vệ sinh máy ấp, khu chăn nuôi. Tăng cường vệ sinh chuồng trại, nuôi dưỡng chăm sóc nâng cao sức đề kháng, giảm tối đa stress, gió lùa, khí ammoniac từ chất độn chuồng.Việc sử dụng kháng sinh và sulfamid có tác dụng hạn chế bệnh.
    6.5 Điều trị.
    Có nhiều loại thuốc được dùng để trị E.coli, để biết loại nào hiệu quả nhất nên làm kháng sinh đồ để xem độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với thuốc. Dùng một trong các loại kháng sinh thông dụng như:
    -Vime-Apracin : 10g dùng cho 30-40kg thể trọng pha nước, cho uống trực tiếp hoặc trộn thức ăn, liên tục 3 ngày.
    -Vime-S.E.C : 10g dùng cho 40kg thể trọng , cho uống trực tiếp hoặc trộn thức ăn, liên tục 3 ngày.
    -Dilapat:1g/ 5-7kg thể trọng, 1-2gram pha với 1 lít nước uống Trường hợp bệnh nặng có thể dùng những kháng sinh tiêm bắp:
    - Spectylo : 1ml/5kg thể trọng , dùng liên tục từ 3-5 ngày.
    - Colinorcin : 1ml/5kg thể trọng , dùng liên tục từ 3-5 ngày.
    - VimexysoneC.O.D: 1ml/5kg thể trọng, dùng liên tục từ 3-5 ngày. Bên cạnh việc dùng kháng sinh trị bệnh cho gia cầm, nên bổ sung các chất điện giải và vitamine, có thể dùng : Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ pha nước cho uống tự do.
    -Vime C Electrolyte : 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.
    - Vimevit Electrolyte : Gói 100g pha cho 200 lít nước uống cho uống tự do

    7.BỆNH GUMBORO
    7.1 Nguyên nhân.
    Do Birnavirus gây ra, đặc trưng bởi sự phá huỷ túi Fabricius . Mầm bệnh có thể sống hàng tháng trong chuồng trại, hàng tuần trong nước uống, thức ăn, phân. Lứa tuổi gà mắc bệnh cao nhất là từ 3 - 6 tuần tuổi, gà nhỏ hơn có thể mắc bệnh ở thể tiềm ẩn, không biểu hiện triệu chứng, nhưng ảnh hưởng rất quan trọng vì nó làm ức chế miễn dịch, gà dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác
    7.2 Triệu chứng.
    Thời gian nung bệnh từ 2 - 3 ngày, bệnh xảy ra thình lình, gà bệnh suy nhược, ủ rũ, lông xù, đi loạng choạng, tiêu chảy, phân có màu trắng xám, xanh lá cây, có nhiều nước, gà thường quay đầu lại mổ vào hậu môn, hậu môn dính đầy phân, gà bỏ ăn, suy nhược trầm trọng, và có thể chết. Tỉ lệ gà mắc bệnh có thể lên đến 100%. Gà bắt đầu chết từ ngày thứ 3 sau khi phát bệnh, tỉ lệ chết tăng nhanh, sau 5 - 7 ngày thì ngưng, những con còn sống sót khỏi bệnh. Tỉ lệ chết thường thấp, nhưng nếu điều kiện chăn nuôi kém tỉ lệ chết có thể lên đến 30% hoặc cao hơn.
    7.3 Bệnh tích.
    Cơ ngực và cơ đùi xuất huyết thành từng vệt dài, nơi tiếp xúc dạ dày tuyến và dạ dày cơ bị xuất huyết. Niêm mạc ruột bị tăng tiết dịch. Lách có thể hơi sưng, có những chấm xám nhỏ trên bề mặt. Bệnh tích điển hình của bệnh tập trung ở túi Fabricius: Ngày thứ ba sau khi nhiễm trùng, túi Fabricius bắt đầu tăng kích thước, thủy thủng và có màu đỏ, bề mặt phủ một lớp gelatin, có thể xuất huyết. Ngày thứ 4, túi Fabricius tăng gấp đôi về kích thước và trọng lượng, sau đó bắt đầu teo dần. Ngày thứ 5 túi Fabricius trở lại kích thước bình thường và bắt đầu teo lại. Ngày thứ 8 có kích thước bằng 1/3 so với bình thường
    7.4 Phòng bệnh.
    Tiêm phòng vắc xin cho gà 1 tuần tuổi bằng BIO-Burs I, nhỏ mắt mũi hoặc cho uống, lập lại lần 2 khi gà được 3 tuần tuổi. Gà 3 tháng tuổi chủng lần 3 bằng INACTI/VAC BN-ND tiêm dưới da 0,5ml/ con. Nếu sử dụng vắc xin phòng bệnh Gumboro do Công ty TW 2 sản xuất thì chủng ngừa vắc xin 2 lần:
    - Lần 1: gà 5 - 10 ngày tuổi (nhỏ mắt, mũi)
    -Lần 2: gà 20 - 25 ngày tuổi (uống hoặc nhỏ mắt, mũi) Cần tiêm phòng cho đàn gà bố mẹ để tạo miễn dịch thụ động cho gà con trong những ngày đầu mới nở.
    Hiện nay có chế phẩm kháng thể Gumboro do một số công ty thuốc thú y trong nước sản xuất được giới thiệu là có hiệu quả phòng trị bệnh Gumboro, Newcastle, Viêm khí quản truyền nhiễm.
    7.5 Điều trị.
    Bệnh không có thuốc trị bệnh, khi đàn gà phát bệnh biện pháp chủ yếu để giảm tỉ lệ chết là tăng cường sức đề kháng bằng việc nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc, cung cấp đầy đủ chất điện giải, vitamin có thể làm giảm tỉ lệ chết. Khi gà mắc bệnh Gumboro, việc dùng kháng sinh để điều trị càng làm bệnh trầm trọng và tăng tỉ lệ chết. Khi gà bệnh cần cho uống đường gluco và một trong các loại thuốc hỗ trợ sức đề kháng sau:
    - Vime C Electrolyte: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
    - Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ.
    - Vimix Plus : 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
    - Vemevit Electrolyte : Gói 100g pha cho 200 lít nước uống.
    - Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống.
    - Vitaral : 1cc pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.

    8.BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
    8.1 Nguyên nhân.
    Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida, thường xảy ra ở gà từ 3 tháng tuổi trở lên, hiện nay tuổi mắc bệnh thường sớm hơn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tất cả các loài gia cầm đều cảm thụ bệnh. Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa, hô hấp, vết thương ngoài da, tiếp xúc với gia cầm bệnh.Vi khuẩn gây bệnh dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng, ánh nắng và nhiệt độ cao. Tuy nhiên, chúng có thể tồn tại hàng tháng trong xác gia cầm chết nên cần chú ý xử lý xác gia cầm chết trong thời gian bệnh bộc phát
    8.2 Triệu chứng.
    Bệnh thường xảy ra ở đàn gà đang đẻ. Thời gian nung bệnh 1- 2 ngày, có thể kéo dài 4 – 9 ngày.
    *Thể quá cấp: Diễn biến nhanh, khó quan sát kịp triệu chứng, chỉ thấy con vật ủ rũ cao độ. Sau đó 1-2 giờ gà chết.
    *Thể cấp tính: Đây là thể bệnh phổ biến, con vật sốt cao 42 – 43 0C, ủ rũ, bỏ ăn, xù lông, đi chậm, từ mũi, miệng chảy ra chất nhớt, có bọt lẫn máu. Tiêu chảy phân màu nâu. Thở khó, mào và yếm tím bầm.
    *Thể mãn tính: Gà gầy còm, mào và tích sưng, thuỷ thủng, hoại tử.
    Viêm khớp mãn tính ở đầu gối, viêm phúc mạc mãn tính , ngẹo cổ
    8.3 Bệnh tích
    *Thể quá cấp:Bệnh tích không điển hình chỉ thấy xuất huyết và tụ huyết ở xoang và các phủ tạng.
    *Thể cấp tính:Tụ huyết và xuất huyết ở các tổ chức liên kết dưới da và các cơ quan phủ tạng. Bụng chứa nhiều dịch tiết
    *Thể mãn tính:Viêm hoại tử mãn tính đường hô hấp và gan. Viêm phúc mạc mãn tính. Ống dẫn trứng sưng màu vàng nhạt, chứa dịch xuất có Fibrin. Viêm khớp, khớp sưng to chứa nhiều dịch màu xám đục.
    8.4 Phòng bệnh.
    Tiêm phòng bằng vắc xin tụ huyết trùng gia cầm cho gà 2 tháng tuổi hoặc vắc xin INACTI/VAC-FC3 0,5ml/con cho gà khi 45 ngày tuổi, lặp lại lần hai cho gà trên 3 tháng tuổi. Đây là loại vắc xin chết dạng nhũ dầu tạo miễn nhiễm cao, nhưng nên lưu ý khi chủng ngừa chỉ chủng dưới da cổ. Nếu chủng vào bắp thịt cổ sẽ tạo nốt sưng nơi chỗ tiêm làm giảm giá trị quày thịt, còn chủng vào cổ gần đầu sẽ làm sưng đầu
    Khi bệnh tụ huyết trùng gia cầm xảy ra , nên phân lập vi khuẩn để biết được type huyết thanh của chúng mà chọn vắc xin phòng bệnh hữu hiệu.Việc sử dụng kháng sinh và sulfamid định kỳ trong khẩu phần ăn hàng ngày cũng có tác dụng hạn chế bệnh tụ huyết trùng.
    8.5 Điều trị.
    Cần điều trị sớm khi bệnh mới phát. Bệnh có thể tái phát khi ngưng điều trị và nếu bệnh chuyển sang thể mãn tính thì điều trị không hiệu quả. Pha vào nước uống hoặc trộn vào thức ăn một trong các loại thuốc sau: ETS, Vimenro, Genta-Colenro, Erco-Sulfa, Genroflox, Tylenro 5+5, Cospicomplex, Norgencin,... Trường hợp bệnh nặng, gà không ăn uống được cần cấp thuốc qua đường tiêm bắp. Dùng một trong các loại thuốc sau: Ticotin, Erytialin , Colidox GV, Tylenro 5+5, Kampico, Genta-Colenro, … theo chỉ định.
    Bổ sung các vitamine, để tăng cường sức đề kháng của đàn gia cầm. dùng một trong các loại thuốc sau :
    - Vimix Plus: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
    - Vime C Electrolyte: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
    - Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống.
    - Vimeperos: 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ.

    9.BỆNH ĐẬU GÀ
    9.1 Nguyên nhân.
    Do virus thuộc nhóm Avipox gây ra. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân, lúc tiết trời khô. Gà con 1 - 3 tháng rất cảm nhiễm với bệnh.
    9.2 Triệu chứng.
    Thể ngoài da mụn đậu thường hình thành ngoài da như mào, yếm, khoé mắt, khoé miệng, mặt trong cánh, quanh hậu môn và da chân.Lúc đầu là những nốt sần nhỏ, có màu nâu xám hay xám đỏ, sau đó to dần như hạt đậu, da sần sùi. Nốt đậu mọc ở mắt làm gà khó nhìn, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, nước mũi, làm gà khó thở. Nốt đậu từ từ chuyển sang màu vàng, mềm, vỡ ra có chất mủ giống như kem. Mụn đậu khô đóng vảy, vảy màu nâu sẫm rồi dần dần tróc đi để lại nốt sẹo nhỏ màu vàng xám, mụn đậu lành nhanh chóng. Thể niêm mạc ( yết hầu) Thường xảy ra trên gà con. Gà có biểu hiện khó thở, biếng ăn do niêm mạc hầu và họng bị đau. Gà sốt , từ miệng chảy ra nước nhờn có lẫn mủ, màng giả. Trong niêm mạc hầu họng, khoé miệng, thanh quản phủ lớp màng giả màu trắng. Khi lớp màng giả tróc đi thấy lớp niêm mạc màu đỏ. Sau đó là quá trình viêm lan ra ở mũi và mắt. Thể hỗn hợp: Xảy ra ở cả 2 thể là ngoài da và yết hầu, tỉ lệ chết cao, thường xảy ra trên gà con. Ngoài ra còn có thể nhiễm trùng huyết con vật không có bệnh tích ở da chỉ sốt cao, bỏ ăn, tiêu chảy, thể trọng sa sút nghiêm trọng. Bệnh diễn biến trong 3 - 4 tuần, phần đông gia cầm lành bệnh, nhưng nếu vệ sinh không tốt thì khi có kế phát của vi trùng, bệnh sẽ nặng hơn, tỉ lệ chết có thể đến 50%. Gà con mắc bệnh nặng hơn gà lớn, gà nuôi tập trung tỉ lệ chết cao hơn gà nuôi gia đình.
    9.3 Bệnh tích.
    Gà ốm gầy, nổi mụn đậu trên da, viêm cata ở niêm mạc miệng , thanh quản . Các vết viêm này loang dần thành các nốt phồng, dày dần lên cuối cùng tạo thành lớp màng giả dính chặt vào niêm mạc. Niêm mạc ruột có thể tụ máu đỏ từng đám. Phổi tụ máu và tích nước. Khí quản chứa nhiều dịch xuất lẫn bọt
    9.4 Phòng bệnh.
    Chủng ngừa cho gà con từ 7 – 10 ngày tuổi bằng vắc xin. Dùng kim đâm qua màng cánh, sau 5 ngày cần kiểm tra lại vết chủng, nếu thấy vết chủng không cương to như hạt tấm thì phải chủng lại lần hai.
    9.5 Điều trị.
    Không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu, chỉ điều trị triệu chứng hoặc dùng các loại kháng sinh để phòng bội nhiễm Đối với mụn đậu ngoài da có thể bóc vảy, làm sạch các mụn đậu rồi bôi các chất sát trùng nhẹ như Glycerin10%, CuSO4 5% Thể niêm mạc có thể lấy bông làm sạch màng giả ở miệng rồi bôi các chất sát trùng nhẹ hay kháng sinh . Nếu đau mắt có thể dùng thuốc nhỏ mắt.
     

Chia sẻ trang này

Từ khóa tìm kiếm:

  1. ga rung bo an