Nguồn gốc và phân loại cá rồng....!

Thảo luận trong 'Các vấn đề xung quanh cá Rồng' bắt đầu bởi scoopy_doobedoo, 27/7/08.

  1. scoopy_doobedoo

    scoopy_doobedoo Member

    Tham gia:
    3/7/08
    Bài viết:
    9
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    hồ chí minh
    Phân loại và địa động vật học

    Họ Cá rồng là họ cá nguyên thủy (cơ sở) có từ hạ Đệ Tam và được đặt trong một bộ cá vây tia có danh pháp Osteoglossiformes. Hiện tại còn 10 loài còn sinh tồn đã được miêu tả: 3 từ Nam Mỹ, 1 từ châu Phi, 4 từ châu Á và 2 từ Australia.
    Họ Osteoglossidae là họ cá nước ngọt duy nhất được tìm thấy ở cả hai bên của đường Wallace.<sup class="reference" id="cite_ref-1">[2]</sup> Điều này có thể giải thích bằng thực tế là cá rồng châu Á (S. formosus) đã phân nhánh ra khỏi hai loài ở Australia từ chi ScleropagesS. jardiniiS. leichardti vào khoảng 140 triệu năm trước (Ma), chứng tỏ một điều rằng các dạng cá rồng châu Á đã được lan truyền tới châu Á theo đường qua tiểu lục địa Ấn Độ.<sup class="reference" id="cite_ref-2">[3]</sup><sup class="reference" id="cite_ref-3">[4]</sup>

    Hành vi

    Họ cá rồng là các động vật ăn thịt, thông thường chuyên ăn nổi bề mặt. Chúng nhảy rất tốt; có thông báo cho rằng các loài trong chi Osteoglossum có thể nhảy cao tới 2 m (khoảng gần 7 ft) trên mặt nước để bắt côn trùng và chim đậu trên các cành cây ở Nam Mỹ, vì thế chúng còn được gọi là "khỉ nước". Người ta cũng đồn đại rằng cá rồng có thể bắt những con mồi lớn như những con dơi đang bay hay các con chim nhỏ. Tất cả các loài đều to lớn, và cá hải tượng (Arapaima) có thể cạnh tranh chức vô địch thế giới cho các loài cá nước ngọt. Các loài cá rồng thông thường dài khoảng 0,9-1,2 m (3-4 ft), nhưng điều này chỉ tin tưởng được trong phạm vi con người nuôi thả.
    Một vài loài trong chi Osteoglossum thể hiện sự chăm sóc tới con cái. Chúng làm tổ và bảo vệ các con non sau khi sinh ra. Một số loài là ấp trứng bằng miệng, cá bố mẹ đôi khi giữ hàng trăm trứng trong miệng của chúng. Các con non có thể thực hiện vài chuyến bơi thăm dò ra bên ngoài miệng của cha mẹ chúng trước khi rời xa vĩnh viễn.

    Trong bể cảnh

    Các loài cá rồng có xu hướng hợp thành bầy khoảng 5-8 con. Nên giữ chúng trong bể với thể tích tối thiểu là 750 lít (240 gallon) cho con đầu tiên với lọc nước tốt, và thêm khoảng 100 lít bổ sung nữa cho mỗi con kế tiếp. Một vài loài cá có thể thích hợp để nuôi cùng cá rồng là cá còm (Chitala ornata), cá chim trắng (vài chi của phân họ Serrasalminae), cá tai tượng Phi châu (Astronotus ocellatus), cá tỳ bà (cá lau kính) (Hypostomus plecostomus), jaguar cichlid (Parachromis managuensis), cá kim cương (Aequidens rivulatus), Cá sấu hỏa tiễn (Lepisosteidae) và bất kỳ loài cá bán-hung dữ nào khác, đủ lớn để cá rồng không thể ăn được.
    Các loài cá rồng từ Australia (S. jardiniiS. leichardti) nên nuôi giữ trong bể riêng.<sup class="reference" id="cite_ref-4">[5]</sup><sup class="reference" id="cite_ref-5">[6]</sup>

    Văn hóa dân gian

    [​IMG] [​IMG]
    Mặt trước cửa hàng tại quận InternationalSeattle, Washington, là một ví dụ về mô tả cá rồng trong nghệ thuật dân gian.


    Đối với người Trung Hoa và các nền văn hóa tương tự, rồng là biểu tượng của may mắn và thịnh vượng. Trong mắt của người Trung Hoa, cá rồng là biểu hiện và sự uy nghi của rồng, đặc biệt là các vảy lớn và râu.
    Cá rồng cũng được sử dụng trong phong thủy nhằm mang lại may mắn và giàu có.

    Các loài

    Họ này chứa hai phân họ là Heterotidinae (2 loài) và Osteoglossinae (8 loài) đã biết.

    Nghiên cứu di truyền học gần đây chỉ ra rằng nhánh dẫn tới cá hải tượng và cá rồng châu Phi đã phân nhánh vào khoảng 220 Ma, trong Hậu Trias; nhánh dẫn tới ngân long và hắc long của Nam Mỹ đã rẽ nhánh khoảng 170 Ma, trong Trung Trias. Nhánh dẫn tới các loài cá rồng Australia phân nhánh ra khỏi nhánh dẫn tới các loài cá rồng châu Á vào khoảng 140 Ma, trong Tiền Phấn Trắng.<sup class="reference" id="cite_ref-6">[7]</sup>

    Hóa thạch

    Có ít nhất là 5 loài cá cổ, chỉ được biết đến từ các hóa thạch, cũng được phân loại vào họ Osteoglossidae; chúng có niên đại vào khoảng cuối kỷ Phấn Trắng. Các hóa thạch khác có niên đại xa hơn tới cuối kỷ Jura hay đầu kỷ Phấn Trắng nói chung được coi là thuộc về siêu bộ cá rồng (Osteoglossomorpha). Các hóa thạch của cá dạng cá rồng được tìm thấy trên mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực.<sup class="reference" id="cite_ref-guo_7-0">[8]</sup>

    Chi Brychaetus

    Brychaetus muelleri (Agassiz, 1845) được biết có từ cuối kỷ Phấn Trắng tới đầu thế Paleocen. Các hóa thạch của nó được tìm thấy tại châu Âu, Bắc Mỹ, và Bắc Phi. Loài cá nước ngọt này có các răng rất dài và cùn. PlatopsPomphractus là các danh pháp đồng nghĩa.<sup class="reference" id="cite_ref-frickhinger_8-0">[9]</sup>

    Chi Joffrichthys

    Chi tại Bắc Mỹ này có 2 loài là J. symmetropterusJ. triangulpterus. Loài thứ hai có từ thế Paleocen tại tằng hệ Sentinel ButteNorth Dakota, Hoa Kỳ<sup class="reference" id="cite_ref-newbreya_9-0">[10]</sup>

    Chi Phareodus

    Chi này có ít nhất 2 loài là P. testis (Leidy, 1873) và P. encaustus. Các đại diện được biết đến có từ giữa thế Eocen tới thế Oligocen ở Australia và Bắc Mỹ, bao gồm tằng hệ sông Green tại Wyoming, Hoa Kỳ<sup class="reference" id="cite_ref-frickhinger_8-1">[9]</sup>
    P. testis là loài cá nước ngọt với bề ngoài hình ô van, đầu nhỏ, mõm hơi nhọn. Vây lưng và vây hậu môn nằm ở phía sau, với vây hậu môn lớn hơn. Vây đuôi hơi chẻ. Vây bụng nhỏ nhưng dài còn vây ngực thì hẹp. Từ đồng nghĩa Dapedoglossus.<sup class="reference" id="cite_ref-frickhinger_8-2">[9][​IMG]</sup>


     
  2. huygia

    huygia Member

    Tham gia:
    12/7/07
    Bài viết:
    5
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    Tuy Hoà, Phú Yên
    hay! 11 điểm cho chất lượng-bạn cũng khổ công tìm tòi quá ha....thật vất vả cho bạn quá...
     

Chia sẻ trang này