Nhận Bệnh Và Xử Lý Điều Trị Bệnh Cá Dĩa

Thảo luận trong 'Nuôi - Chăm cá đĩa' bắt đầu bởi MQ-MK, 10/5/08.

  1. MQ-MK

    MQ-MK Well-Known Member

    Tham gia:
    1/8/05
    Bài viết:
    136
    Thích đã nhận:
    6
    Đến từ:
    Q1 TP Hồ Chí Minh
    Đây là tài liệu tiếng anh của TiênTX lúc rãnh đã dịch lại mong có giúp ít gì cho các Bác thì xin cảm ơn.
    NHẬN BỆNH VÀ XỬ LÝ
    P65
    Phương thức cách ly bắt đầu bằng việc tắm thuốc hầu lấy đi các sán lá( dẹp) của thân và mình cá. Việc tắm thuốc nên dùng pragiquantel hoặc dylox( trang 69).
    Một lần tắm thường đủ trừ khử sán cho cá. Sau khi tắm, dần thích nghi cá cho nhiệt độ của bồn cách ly ( Bệnh tật) khoảng 86oF # 30oC- bằng cách nhúng bịch plastic đựng cá vào hồ. Sau 5 phút thêm một ít nước từ hồ vào bịch- khoảng 25% nước của bịch. Thêm số lượng nước như vậy 2 lần nữa trong quá trình làm thích nghi. Việc này cho phép cá đĩa thích hợp dần với pH của hồ mới. Sau khoảng 15 phút thả cá vào hồ tắt đèn cả ngày để cá được thư giản và quen dần với chổ ở mới.
    Thường cá đĩa không hay hoảng loạn vì ánh sáng nhưng ánh sáng nhiều sẽ làm cá căng thẳng, cá bệnh vốn đang bị căng thẳng. Ngòai ra trong tuần lễ đầu, các phiêu sinh vật ăn thức ăn thối rữa ban đêm như Corydor sp., Ancistrus sp không được giữ chung với cá đĩa bởi chúng có thể làm cá đĩa hoảng sợ đâm đầu vào vách hồ và bị tổn thương thêm.
    Trong 1,2 ngày đầu cá thường không chịu ăn, nên ta chỉ cho cá ăn nhẹ từ ngày thứ 2 hay thứ 3. Ngòai ra trong 3 ngày đầu nhiệt độ nên tăng dần đến 96oF (35,5OC). Nhiệt độ ấm hơn sẽ thúc đẩy chu kỳ sinh trưởng của nhiều ký sinh trùng, làm nhanh hơn kết quả điều trị. Hơn nữa việc tăng nhiệt độ sẽ giúp diệt 2 trong các sát thủ của cá đĩa là Capillaria và Hexamita – Sau 13 ngày cách ly - ngày thứ 10 với nhiệt độ 96oF (35,5OC) – nhiệt độ được hạ xuống 88OF (31OC). Nên nhớ giống Corydoras sp cá mè không chịu được nhiệt độ trên 92oF (33OC) Bỏ qua việc tăng nhiệt độ bồn cách ly với cá mè (Catfish).
    Vào ngày thứ 3 thứ 5 thứ 7 của việc cách ly, xử lý với metronidazol liều dùng 250mg/20gallons (75,6l). Sau mỗi lần xử lý (ngày thứ 4,6,8) thay 50% nước . Vào ngày thứ 8 hay thứ 9 cho thang hoạt tính vào hộp lọc để lấy hết metronidazol dư thừa. Điều trị với metronidazol sẽ trừ khử được nguyên sinh động vật Hexamita & Spironucleus.
    Ngay khi cá bắt đầu ăn thức ăn đông lạnh trong hồ, xử lý chúng đối với Capillaria và các giun tròn khác với fenbendazole. Hòa fenbendazol trong thức ăn đông lạnh 1% theo thể tích- Cho thức ăn này vào hồ bằng 1 miếng to hay 2 miếng nhỏ. Nên lặp lại xử lý trên khỏan 3- 4 tuần sau để chắc cá đã diệt được hết loài giun tròn ký sinh này.
    Lượng amonia và nitrite trong hồ nên được kiểm tra mỗi ngày. Thay nước được thực hiện thế nào để giữ lượng amonia dưới 4mg/l và nitrite dưới 2mg/l .
    Sau ba tuần cách ly, cá được tự do ăn như thường lệ và được thả về hồ sinh họat tập thể bình thường.
    CHẤT LƯỢNG NƯỚC TỐT.
    Sau việc cách ly cá mới việc tốt nhất bạn có thể làm để phòng bệnh là luôn giữ chất lượng nước tuyệt hảo. Chất lượng nước thường hoặc nghèo nàn thường làm cá căng thẳng và cá yếu đi vì căng thẳng sẽ không có khả năng đẩy lùi, đề kháng lại bệnh tật như cá ở trong môi trường ổn định.
    Cố gắng giữ lượng amonia & nitrite ở ngưỡng 0 và nitrate <40ppm ( lý tưởng là <20ppm). Dẫu pH đặc biệt hay nước cứng cũng không đáng ngại. Điều quan trọng là giữ các thông số trên ở mức cố định.
    Có thể giữ cá đĩa khỏe mạnh ở pH 7,5-5,5, nhưng sẽ không thành công lắm nếu cứ để pH luôn dao động ở 7,5-5,5. Đặc biệt nhiệt độ trong hồ nên giữ ổn định ở mức giữa 82OF-86 OF(27.7-30 OC). Để làm yếu cá đi, một thay đổi nhanh chóng khoảng 3-4 OC có thể đưa đến sự nhiểm bệnh vì ký sinh trùng.
    Mức độ ôxy hòa tan có thể được tăng lên nhờ do nhiều ánh sáng do rong tảo, nhờ giới hạn các vật thừa thải & chất thải, nhờ làm sạch bộ lọc. Bởi vì các chất hữu ở các vật dụng cơ khí sẽ phân hủy, cơ chế phân hủy của vi sinh sẽ hút oxy hòa tan từ nước và như vậy sẽ làm suy giảm đáng kể lượng oxy hòa tan.
    P67 DINH DƯỞNG TỐT
    Cá ăn uống đầy đủ thường khỏe mạnh và cá khỏe mạnh sẽ đề kháng với bệnh tật tốt hơn cá suy yếu. Nếu bạn cho cá ăn uống cẩn thận, dồi dào, chất lượng dinh dưởng cao, cá sẽ chứng tỏ sự đề kháng cao đối với các bệnh tự nhiên.
    Bạn nên tập cho cá đĩa chấp nhận thức ăn đông lạnh càng sớm càng tốt. bởi vì đây là phương tiện tuyệt hảo để vận chuyển thuốc men. Vì cá nước ngọt không uống nước ngọt nhiều cũng như hấp thụ nước qua da ( như đã bàn cãi trước đây). Thuốc men thường không hiệu quả mấy khi hòa tan trong hồ nước. Do vậy ta chỉ nên cho thuốc cá qua thực phẩm. Nhờ cho thuốc qua thực phẩm bạn kiểm soát tốt hơn liều lượng cá nhận được vì phần lớn thuốc sẽ vào trong mình cá. Thực phẩm đông lạnh rất tiện lợi để chuyên chở thuốc, vì thuốc sẽ được hòa tan trộn lẫn với một lượng thuốc thích hợp rồi đông lạnh lại. Nếu lũ cá không được tập quen ăn những thực phẩm đông lạnh đóng cục trước khi chúng còn khỏe, chúng sẽ khó lòng chấp nhận nó khi chúng bệnh và chán ăn,
    THIẾT BỊ LỌC
    Thêm 2 thiết bị lọc vô cùng hữu ích trong việc phòng chóng bệnh tật
    • Khử trùng bằng cực tím: Thiết bị khử trùng bằng tia cực tím dùng để giết vi khuẩn và vài ký sinh trùng bơi tự do trong nước.
    Thiết bị cung ứng UV rất hữu hiệu nên thường được sử dụng. Tốc độ chảy qua thiết bị phải nằm trong một giới hạn nhất định. Bởi nếu nước chảy qua quá nhanh hiệu quả của UV sẽ giảm rất đáng kể. Đèn UV phải được thay 4-6 tháng. Do ánh sáng UV phát ra có thể tổn thương mắt vì vậy bạn không được nhìn thẳng vào một ngọn đèn UV không được che chắn.
    P68
    • Ozone: Khả năng oxy hóa mạnh mẻ của ozone khiến nó trở nên một tác nhân đắc dụng chống lại các sinh thể gây bệnh trong nước. Về mặt lý thuyết ozone thiêu rụi vi khuẩn, siêu vi và khá nhiều ký sinh trùng bơi tự do trong nước. Vì là một chất oxy hóa mạnh, ozone không bao giờ được đưa trực tiếp vào hồ cá. Thường nó được dùng như một tác nhân bên ngoài. Khí ozone sẽ được hòa trong nước của hồ. Nước này sau đó được cho qua than hoạt tính để hút hết khí ozone còn thừa trước khi cho trở lại hồ.
    Ozone gây tổn hại cho mô của mang cá và cũng gây tổn thương cho da của cá đĩa vốn đã mẫn cảm.
    Ozone và UV nói chung không nên sử dụng bừa bãi. Không cần thiết phải sử dụng cả hai phương pháp tiệt trùng này cho cùng một hồ cá.
    Có lẽ Ozone tiện ích hơn vì ngòai lợi ích là một lọc hóa học nhừ khả năng oxy hóa các vi thể, nó còn làm tăng hàm lượng oxy trong nước. Nguồn Ozone cũng không cần họat động thường xuyên như đèn UV-Người nuôi cá đĩa nên cân nhắc một trong 2 phương pháp trên để phòng bệnh.
    Chúng tôi cũng lưu ý các bạn rằng tảo cát (diatom) cũng có thể lọc loại bỏ các ký sinh trùng tự do trong nước, vì thế việc lọc nước bằng tảo cát có thể được xem là 1 phương tiện cơ học hữu hiệu trong việc phòng chóng ký sinh trùng.
    TỦ THUỐC CỦA NGƯỜI NUÔI CÁ ĐĨA:
    Đây là những loại thuốc mà bạn cần có sẵn với số lượng đầy đủ cho những bệnh dịch đặc trưng của cá đĩa. Lưu ý rằng phần lớn thuốc này chỉ tìm thấy nơi thú y sĩ vài bạn không gặp chúng nơi các cửa hàng cá cảnh. Hầu hết các thú y sĩ đều vui lòng cung cấp các thuốc này khi bạn có yêu cầu. Nếu bạn thấy phiền phức trong việc mua thuốc nơi thú y bạn cứ thử món này đến món kia nơi các cửa hàng cá cảnh nhưng xin báo trước là không hữu hiệu bằng đâu.
    Nên nhớ ngưng mọi cách lọc hóa học( than hoạt tính, các miếng nhựa, nhựa hấp thu phân tử…) khi cho thuốc vào hồ cá. Cũng nên nhớ khi bạn mua thuốc ở các hiệu cá cảnh, bạn phải tuân theo những chỉ dẩn về liều lượng của họ dẫu nó có thể không khớp với những liều lượng mà chúng tôi đề nghị sau đây. Bởi vì nồng độ của chế dược thương mại có thể không như những dược phẩm được đề cập trong chương này. Hãy cẩn thận khi cầm giữ thuốc men và cất nơi an toàn cho trẻ con và các vật nuôi đụng đến. Ghi rõ ràng từng món thuốc và cất giữ nơi khô mát tối.
    FORMALIN/ XANH MALACHITE:
    Formalin là dung dịch 37-40% formaldehyde trong nước- Xanh malachite là 1 thuốc nhuộm. Chúng có thể được dùng riêng lẻ, nhưng một dung dịch pha trộn formalin và xanh malachite co một hiệu quả tổng tiếp( hiệu quả hơn từng món dùng riêng) trong việc kiểm soát cả các nguyên sinh động vật bên ngoài và các sán dẹp (lá) đơn tính. Formalin thường được dùng riêng lẻ như xanh malachite. Nhưng xanh malachite(một chất dễ gây ung thư) được chứng minh là gây căng thẳng (Sress) ở nồng độ 1ppm ngang với formalin ở nồng độ 100ppm. Xanh malachite còn nhuộm xanh các silicol ở hồ cá, và lượng xanh malachite còn lưu giữ trong hồ cá chỉ ở nồng độ 1ppm. Vậy thì ta có thể kết hợp dùng formalin đơn độc hay kết hợp với xanh malachite thành 1 hỗn hợp-Hỗn hợp được thực hiện nhờ một chế phẩm pha sẵn bán ở các cửa hiệu bán cá vùng nhiệt đới có khắc vạch đo lường, Ta tạo một dung dịch gồm.
    Tắm 1 giờ với formalin rất tốt để diệt sán lá gan ở mang và mình cá. Tắm 3 ngày 1 lần là điều trị chọn lọc cho các nguyên sinh động vật như costia chilodonella và các tác nhân khác gây bệnh “nhớt xanh” . Malachite/formalin là xử lý được chọn cho “ick”
    Formalin làm sụt giảm nghiêm trọng lượng oxy hòa tan, ta phải sụt khí suốt trong một giờ tắm. Nên nhớ khả năng cầm giữ oxy càng giảm khi nhiệt độ càng tăng, thành ra ta không cho formalin vào hồ nếu nhiệt độ cao hơn 80OF nếu không sụt khí. Ngoài ra chúng ta cũng không tắm formalin nếu cá bị lở, loét vì formalin sẽ là cá mất nước nghiêm trọng.
    DYLOX(TRICHLOROFON):
    Dylox là 1 phosphate hữu cơ, có sẵn như các chế phẩm pha sẵn dưới các tên Life Bearer, Dilox, Clout hay Macoten. Dược phẩm này có tác dụng lên nguyên sinh động vật, sán lá ở mang và ở mình cá và tác dụng hạn chế trên lên capillaria( giun , sán chỉ). Tuy vậy nó rất gây căng thẳng và khí độc đối với cá. Việc điều trị bằng Dylox làm cá trở nên cáu bẩn và thở dồn dập. Dylox, một độc chất đối với thần kinh dễ gây thương tổn cho người, nó dễ hấp thụ qua da và niêm mạc phải cẩn thận mang găng cao su và tránh hít thở mạnh.
    Phải chú trọng đến chất lượng của Dylox- nó phải còn mới, bột phải trắng tươi. Không nên dùng Dylox đã ngã màu, vốn cục không còn mịn màng vì khi đó Dylox đã bị ẩm, ít tác dụng và độc hơn. Đặc biệt cá chụi đựng Dylox còn tươi tốt nhiều hơn kém chất lượng.-Như thế ta nên bỏ các gói hút ẩm vào bao đựng Dylox,- Dylox rất hiệu quả, tuy vậy vẫn có 1 số dòng sán lá có thể kháng lại nó. Do đó sự hiệu quả của nó có thể thay đổi. Như thế để thay thế bạn có thể dùng Praziquantel.
    PRAZIQUANTEL:
    Có thể mua ở thú y dưới thương hiệu Droncil, sán lá nơi cá đĩa mới bắt được từ thiên nhiên sẽ bị giết ngay bởi Dylox, nhưng các cá đĩa nuôi thuần có thể mang các sán lá đã kháng lại Dylox. Các khảo sát gần đây chứng minh một sán lá có khả năng kháng lại liều lượng Dylox còn cao hơn liều tử cho cá. Hơn nữa nhưđã nói, Dylox vốn rất độc đối với người khi hít phải hay hấp thu qua da nên praziquantel được ưa dùng( giới thiệu) hơn Dylox.
    Praziquantel được dùng để tắm trong 1h-4h với liều lượng 15-20ppm(mg/l) hay 60-75mg/gallon(3,8l). Nó có thể được dùng qua thức ăn để điều trị các giun tròn (capilaria) với liều lượng 10-150mg/kg(2,2 lbs) trọng lượng cơ thể cá.
    Dùng praziquantel khá an tòan= cá hấp thụ quá liều sẽ bơi không điều hòa, nhịp thở không đều- Hai dấu hiệu trên sẽ biến mất khi ta thả cá lại bồn khôn có thuôc. Nên biết cá chạch rất nhạy cảm với praziquantel, không được để chúng tiếp xúc với thuốc.
    Praziquantel không tác dụng với rận cá( Argulus) và sán mỏ neo (anchor worms) đối với chúng Dylox lại đắc dụng. Vì thế chỉ dùng praziquantel để tắm 1-4h hay cho vào thức ăn thôi.
    METRONIDAZOL:
    Được biết dưới thương hiệu flagyl và thuốc cho cá với thương hiệu Hexout và Hexamit.
    Metronidazol được dùng điều trị các nguyên sinh động vật có roi độc hại sống bên tron cá có tên Hexamania và Spirononudeus.
    Metronidazol được dùng với liều 250mg/20gallon (75.6l) mỗi ngày cho 3 đợt điều trị, nhớ thay 50% nước giữa các đợt điều trị. Thuốc được thấm qua mang và lan tỏa khắp cơ thể cá. Khi bệnh tình cá được cải thiện, thuốc được dùng qua thức ăn với liều lượng 1% Metronidazol (1g/4ouncs thức ăn). Chất đường trong viên metronidazol có thể nuôi dưỡng vi khuẩn sinh sôi vì thế nên thay nước ở mỗi ngày thứ 2 ( sau 1 ngày)
    FENBENDAZOL:
    Được tìm thấy nơi thú y với thương hiệu Panacur. Rất hữu hiệu đối với capillaria và các giun trong khác trong mình cá. Đây là 1 phương thuốc khá an tòan, được dùng theo 2 cách:
    • Hoặc trộn thực phẩm đông lạnh 1% thể tích thực phẩm(1g/4ounce thức ăn)
    • Hoặc trong trường hợp cá nhưng ăn, dùng ống tiêm bơm vào miệng cá với liều 75-100mg/kg(2,2lbs) trọng lượng cơ thể cá (xem cách làm ở trang 71)
    • Panacur thường được chế biến dưới dạng huyết học.(surpension)10%. Như vậy liều dùng nên được nhân lên( khi dùng dung dịch pha loãng 10%)
    Một cục lớn hay 2 cục nhỏ thức ăn trộn với thuốc là đủ để trừ khử bọn giun tròn khỏi cá. Tuy nhiên cá sẽ được điều trị lại sau 3 tuần.
    Thường thường cá ngưng ăn sau khi nhiều giun tròn trong ruột, lúc đó cần phải cho cá uống thuốc qua miệng. Ivermectin cũng hữu hiệu cho điều trị giun tròn. Tuy nhiên liều điều trị nguy thay cũng gần bằng liều sát thương, do đó người ta vẫn thích dùng febendazole hơn.
    Flubendazole hiện đang được dùng để điều trị giun tròn nơi cá nhưng chúng tôi chưa thể giới thiệu vì ở thời điểm này chúng tôi chưa thu thập đủ dữ liệu về nó.
    THUỐC TÍM:
    Cách điều trị cổ điển nhưng vẫn còn là một trong những xử lý hiệu quả nhất cho việc nhiểm nấm bên ngòai là thuốc tím. Tắm mỗi ngày trong dung dịch 1/5000 theo cân nặng-khoảng 75mg/gallon(3,8l). Các tinh thể màu tím này trong nước rất hiệu quả để chống nấm. Luôn luôn pha mới dung dịch thuốc tím để dùng, bởi nó rất mau mất tác dụng, Bể tắm phải thật sạch, vì thuốc tím là 1 chất oxy hóa và nó sẽ bị hao mòn bởi chất hữu cơ có trước khi dung dịch có tác dụng lên nấm.
    MUỐI:
    Hiển nhiên phương thuốc xưa đời nhất để điều trị các bệnh về cá là muối ăn được ion hóa. Một muỗng canh/1gallon(3,8l) nước đủ sức để điều trị các trường hợp nhiểm nấm trung bình trong2-3 ngày. Cá đĩa có thể chịu đựng lượng muối thêm vào này trong khoảnh khắc thời gian cần thiết. Lượng muối này sẽ giết rong tảo và hầu hết ốc trong hồ. do vậy nên điều trị riêng.
    CEFTAZIDINE:
    Được dùng dưới thương hiệu Tazicef, ceftazidine. Tỏ ra hiệu nghiệm phi thường trong điều trị các bệnh nhiểm do vi khuẩn. Các vết thương hở miệng, rĩ máu tưởng đâu bất trị thường sẽ kết sẹo vài ngày sau khi được điều trị với ceftazidin. Điều bất tiện, ceftazidine thường được tiêm thịt 2 bên lưng ngay dưới vây lưng. Một muổi tim mỗi 3 ngày, tổng cộng 3 muỗi tim: 1mldung dịch/ kg (2,2lbs) của trọng lượng cá. Chích thuốc cho cá thực ra chả tốn bao nhiêu công sức, nhưng nếu muỗi tim chích có thể cứu cá đĩa trưởng thành 1 cái chết trong thấy, chỉ phiền phải trả một giá không cao lắm.
    Ceftazidine tương đối mới mẻ với các người nuôi cá, nhưng hiệu quả của nó gần như điều kỳ diệu cho một số người chúng ta bao năm ra từng chứng kiến cá đĩa quý báo của minh phải chết đi trong mấy ngày vì nhiểm vi khuẩn. Ceftazidin quá đắt nên thường không dùng để tắm cá . Ngòai ra vì ceftazidine mau giảm hoạt tính sau khi pha nên dung dịch còn lại chữa dùng sẽ được cho đông lạnh.
    NITROFURAZONE:
    Nơi nào không thể chích ceftazidine, Nitrofurazone là kháng sinh được chọn cho các vấn đề mắt đục, vây đuôi bị sứt mẽ, nhiễm trùng bên ngòai thân hay những xây xát thương tích nhỏ.
    Nitrofurazone không tiêu diệt được các vi khuẩn có khả năng nitro hóa, do vậy cá sẽ được điều trị trong các hồ cá phơi trần nếu cần. Một lợi điểm nữa của Nitrofurazone nó vẫn an tòan khi dùng liều gấp 3 trong những trường hợp khó. Nitrofurazone sẽ nhuộm vàng nước trong thời gian điều trị. Nhưng màu vàng này sẽ biến mất nhanh chóng khi nước lọc qua than họat tính
    Pha nitrofurazone vào nước trong hồ với liều 50mg/gallon(3.8l) mỗi ngày trong 7 ngày liền ( 4 buổi điều trị) – với việc thay 25% nước giữa mỗi liều. Nồng độ thuốc trong bồn suốt diễn biến điều trị bất chấp việc thay nước.
    Nitrofurazone cũng có thể được cho vào thức ăn ở liều 6mg/4ouces.( 0,5mg/gramme thức ăn) 2 lần mỗi ngày trong 9 ngày. Nếu bạn nhận thấy nitrofurazone không hiệu quả trong một bệnh nhiểm đặc biệt nào đó hãy thử tetracyline tùy theo chỉ dẩn của nhà sản xuất.
    FURAZOLIDONE:
    Một kháng sinh có liên quan sát với nitrofurazone là furazolidone. Nó được dùng chung với thức ăn cho cá với liều lượng 0,5g/1g trọng lượng cá trong sáu ngày. Công thức này dựa tiêu chuẩn phỏng địng 1 con cá sẽ ăn lượng thức ăn bằng 3% trọng lượng cơ thể của nó mỗi ngày. Rõ ràng phải cân cá thay vì phỏng định trọng lượng của nó để địng liều furazolidone phải trộn trong thức ăn.
    Trước hết phải thiết lập trọng lượng của cá: để cân cá nhất thiết phải gây tê cá với Ms222 tìm ra 3% của khối lượng này đó là lượng thức ăn cần phải trộn với thuốc, nhân lượng này cho 6 ngày chuẩn bị điều trị 6 ngày liền. Hóa lỏng thức ăn xong trộn vào 3mg(0.5x6 ngày)/1g trọng lượng cá vào thức ăn đông lạnh lại có nhiều thương phẩm hổn hợpnitrofurazone và furazolidone với thương hiệu Furan II, furazone light. 1viên furan II chứa 60mg nitrofurazone và 25 furazolidone. Kết hợp nitrofurazone và furazolidone được xem là rất hữu hiệu cho điều trị bệnh nhiểm. Làm 1 liều 250mg cho 1 pound thức ăn đông lạnh cho 1 ngày ăn liên tiếp 6 ngày.
    MS222:
    MS222 là chất an thần dùng để vận chuyển và nắm bắt lấy cá . Ta dùng liều 10mg/lit nước để vận chuyển cá, 50mg-100mg/l trong bồn riêng để gây tê cá cho việc bắt cá. MS222 cũng là cách dùng để làm mất căng thẳng khi ta buộc cá phải ăn thực phẩm có thuốc, để cân cá hoặc để quan sát nó kỹ hơn, gần sát hơn.
    Một loại thuốc tê thông dụng nữa là quinaldine sunfate nhưng vì nó dễ làm thương tổn cá hơn nên không được dùng.
    NHẬN BỆNH VÀ XỬ LÝ NHỮNG BỆNH LÝ THÔNG THƯỜNG CỦA CÁ DĨA BỆNH NHIỄM
    1. Mục nát vây và đuôi:
    a.Nhận bệnh: Bệnh “mục nát vây” bao gồm các bệnh nhiễm của vây và đuôi gây ra bởi một số vi khuẩn bao gồm Pseudomonas, aeromonas và vibrio. Đó là các vi khuẩn hình que nhuộm gram âm thường gây ở mô vốn bị tổn thương do nước kém chất lượng, chấn thương hay hậu quả của bệnh ký sinh trùng. Bờ vây trở nên đục rồi trắng và bắt đầu sờn rách. Vây bắt đầu đỏ và sưng lên, sau cùng cá sẽ bị gục ngã nếu không được điều trị.
    Với cá đĩa bệnh “mục nát vây” thường xảy ra do lúc bắt cá hoang ở thiên nhiên ta cầm quá chặt tay. Hoặc do độ Ph quá cao làm bỏng vây cá gây tổn hại vậy lý. Trong những trường hợp này nấm thường tấn công mô chết làm vấn đề rắc rối hơn. Trong những trường hợp này cần liên kết điều trị nấm và kháng sinh trị liệu.
    b.Điều trị: Bệnh mục nát vây được phòng ngừa tốt nhất bằng cách giữ gìn nước thật sạch. Nước ô nhiểm bởi các chất thải của cá sẽ làm thuận lợi sự tăng trưởng của vi khuẩn và khi vi khuẩn gây nhiểm phát triển đầy đủ trong nước chúng sẽ tìm khe hở đâu đó trong hàng rào đề kháng của cá.
    Sự điều trị lựa chọn là nitrofurazone hay kết hợp nitrofurazone với furazolidone. Trong những trường hợp quá nặng, liều dùng của Furan II có thể nhân đôi, nhân 3 lên hoặc bỏ cá vào bồn tắm kháng sinh với liều gấp 10 lần liều thông thường lên đến 500mg/gallon(3.8l). Nếu Nitrofurazone không cải thiện tình hình trong 5 ngày, ta có thể dùng tetracyline, kanamycine sunfate hay một kháng sinh phổ rộng khác.
    2. Tổn thương do vi khuẩn:
    a.Nhận bệnh:Tổn thương do vi khuẩn cũng thường thấy nơi cá. Thường là do vibrio hay các vi khuẩn khác. Tổn thương đầu tiên xuất hiện là một đốm trắng trên da làm xù vẩy lên, sau đó mau chóng trở nên đỏ và nhiểm khuẩn. Không điều trị tổn thương loét sâu, rĩ máu và nhanh chóng nhiểm đủ loại vi khuẩn và nấm. Những vấn đề này có thể phòng tránh dễ dàng nếu ta giữ nước trong hồ cá được tốt. không kể các trường hợp tổn thương do chấn thương.
    b.Điều trị: Nhiểm khuẩn nhẹ chưa qua giai đoạn tổn thương trắng da được điều trị với nitrofurazone đơn độc. Nhiểm khuẩn nặng dùng ceftazidine chích tăng cường với liều vừa phải nitrofurazone trong nước.
    3. Nhiểm nấm:
    a.Nhận bệnh:Người nuôi cá kiểng chưa từng thấy nấm không biết nấm ở cá ra làm sao. Thường nhầm lẫn các đốm trắng ở nhiểm ngòai thân cá hay nhiểm nguyên sinh động vật với nấm cá.
    Nhiểm nấm ở bên ngòai( thường là saproleznia)có dạng tơ sợi trông giống búi chỉ. Nấm thân phát triển đầu tiên ở mô chết, thức ăn thừa và các trứng cá chết nhiểm nấm vì thế xuất phát từ các mô hư hại thối rữa. Các bào tử nấm hiện diện trong nước của hồ cá phát triển trên thức ăn thừa, cặn cáo của các chất thải. Như vậy một hồ cá sạch sẽ được lọc kỹ có số bào tử nấm ít hơn ở một hồ cá bỏ bê, quản lý kém.
    b.Điều trị: Nhiễm nấm phải được điều trị ngay vì khi các tổn thương dạng búi chỉ xuất hiện lên da, các sợi nấm đã sẵn sàng tấn công vào nội tạng. Các trường hợp nhẹ có thể điều trị bằng muối (NaCl) không ion hóa hay thuốc tím. Cá nhiểm nấm phải được cách ly.
    4. Bệnh do nguyên sinh động vật:
    a.Nhận bệnh: Hexamita Đây là bệnh đáng sợ nhất của cá đĩa. Tuy nhiên việc xử lý các ly tất cả các cá đĩa mới làm nhẹ công việc điều trị đi rất nhiều. Hexamita là những nguyên sinh đường ruột, chúng tấn công đoạn ruột cuối. Nhiễm nguyên sinh động vật hexamita thường dễ lẫn lộn với hội chứng “Tổn thương đầu và hai bên trán”(HLLE) vốn gây nên bởi các yếu tố môi trường. Khi bị nhiểm hexamita, cá thường trốn vô góc, đầu chúi xuống. Phần đầu phía bên hai mắt trán teo lại, màu trở nên đen, bơi thụt lùi và bài tiết phân nhớt màu trắng. Phân nhầy nhớt là triệu chứng đầu tiên của hexamita- lúc này cá vẫn còn ăn và cư xử bình thường.
    Mọi cá đĩa cá la hán cá mè corydoras đều có mang trong mình hexmaita đều được xử lý ở bồn cách ly trước khi bỏ vào bồn nuôi.
    b.Điều trị: May thay việc điều trị hexamita đúng cách đã được nhiều chuyên gia cá cảnh thiết lập . Metronidazone hòa tan trong nước bồn cũng đủ phòng ngừa các trường hợp nhẹ. Những bệnh nhiểm nặng hơn được xử lý với metronidazon trộn trong thức ăn. Trong những trường hợp nặng nhất tất cả cá đều bỏ ăn chỉ còn cách bơm thuôc vào miệng cá qua ống. Cá được gây tê (mê) với MS222 ở liều 50-100mg/l nước trong từng xô nhỏ(gáo) riêng lẻ để dễ bắt gây ít hoảng loạn. Pha 250mg Metronidazole trong một tách nước và rút dung dich vô ống chích vitamins nước bột thức ăn khô hay thức ăn đông lạnh đều có thể cho vô hỗn hợp này. Gắn 1 đoạn ống nhỏ bằng platic vô ống chích quấn cá bằng 1 khăn ướt đặt lên bàn, bơm vô miệng cá mỗi ngày 1-3ml thuốc liên tiếp trong 5 ngày.Sau mỗi lần bơm để một thời gian ngắn cho cá nuốt thuốc vào bụng rồi bỏ cá lại vào hồ. Nếu cá còn nôn ra một ít thuốc khi trở lại hồ thì cũng là chuyện bình thường. Lưu ý vì bị tổn thương ở ruột nên cá chỉ bắt đầu ăn lại từ 7-10 ngày sau loại bỏ xong hexamita.
    *spironucleus = spironucleus tương tự như hexamita, tương tự như octonucleus cũng cho những triệu chứng giống nhau. Về mặt thực hành spironucleus và hexamita đều giống nhau.
    4. Bệnh nhớt xanh (Costia, Chilodomella.etc..):
    a.Nhận bệnh:Costia và chilodomella là các ký sinh trùng thường được đề kháng bởi cá khỏe mạnh. Chỉ những cá yếu đi mới mắc bệnh: xuất hiện nhiều đốm nhày dày đặc, thở nhanh, lờ đờ rồi da tróc từng mảng.Cơ thể phủ một lớp màu xám thường có những đốm máu trên mình. Thông thường có nấm kèm theo.
    b.Điều trị: Formalin 2 giọt/gallon(3.8L) Mỗi 3 ngày x 3 lần là đủ. Nhớ sụt khí khi dùng formalin. Các thương phẩm chứa sunfate đồng(phèn xanh) và trypaffavine cũng dùng được.
    5. Nhiểm ký sinh trùng - giun:
    A Giun dẹp đơn tính / Gyrodactylide (sán mình cá)
    Các loại giun dẹp đơn tính là các giun sông ký sinh mà không cần ký chủ(sinh vật trung gian) do vậy chúng phát triển rất nhanh chóng trong hồ cá.
    a.Nhận bệnh:Giống Gyrodactilus sống bám trên mình cá thường hay tấn công cá đĩa. Chúng sinh trưởng rất nhanh. Mỗi con giun này mang trong cơ thể thêm 3 thế hệ nữa. Phôi thai trong 1 con giun trưởng thành mang sẵn một phôi thai đã mang 1 phôi thai khác nữa. Như vậy một con giun thông thường có thể cho ra một triệu hậu duệ chỉ trong vòng một tháng. Bọn giun ký sinh này lấy nguồn thực phẩm từ da và máu cá. Mỗi cá thể giun này gây thiệt hại nhỏ nhưng với số lượng lớn cá bị tàn phá nhanh chóng. Cá khỏe mạnh trong một hồ cá sạch sẽ thường có thể chịu đựng tổn hại này. Nhưng giun tạo tổn thương trên da mở đường cho vi khuẩn gây nhiểm làm phức tạp thêm tình hình. Giun lấy ra từ cá có thể sông trong 10 ngày mà không cần ký chủ.
    Triệu chứng bao gồm co rúm( vây nhăn nheo) và trầy sướt, nhưng không có các chấm trắng vốn đặc trung của “ck”
    Trong các bệnh nhiễm nặng xuất hiện các đốm nhỏ trên thân và vi và vi có thể bị sơ nhẹ.
    b.Điều trị: Thuốc chọn lọc là praziquantel, cho tắm 1g-2g. Nó hữu hiệu hơn dylox và an tòan hơn cho người nuôi trong việc cầm nắm( Tắm với Dylox thường cũng đủ tẩy hết bọ giun dẹp khỏi cá mặc dù 1 số dòng giun thân cá đề kháng với Dylox). Điều trị kèm trong 14 ngày với Praziquantel sẽ loại trừ hẳn giun ký sinh khỏi hồ cá.
    B. Giun dẹp đơn tính/Dactylogyridae( Giun mang)
    a.Nhận bệnh: Lọai giun mang đẻ trứng có thể sống sót tới 8 ngày mà không cần ký chủ. Cá nhiều giun mang thường chỉ thở độc một bộ mang tùy lúc. Cá đĩa nhiều giun mang thường hay cọ chà xát đến bị trầy xước vào các vật dụng trong hồ cá để cho văng bọn giun mang trong nổ lực trục xuất bọn giun, cá đĩa mang bệnh trông giống như khạc nhổ lung tung.
    b.Điều trị: Tắm với praziquantel là điều trị chọn lọc cho giun mang. Vì praziquantel loại bỏ được vừa giun trên mình cá và giun mang, an tòan nên nó được sử dụng thường hơn Dylox. Nếu không có sẵn praziquantel, ta có thể dùng Dylox tắm cho bọ cá đĩa hoang mới bắt.
    B. Giun tròn( Capillaria )
    a.Nhận bệnh: Capillaria được đưa vào bồn cá cùng cá hoang dại mới bắt. Bệnh nhiễm nhẹ được cá đĩa khỏe mạnh chịu đựng được, nhưng những trường hợp nặng làm teo tóp sống lưng, tiếp theo là tất cả cá có thể bị gầy xẹp đi. Cá bệnh tìm chổ núp và sau đó bỏ ăn. Thường bao tử cá phìn to vì giun . Bệnh nhiểm lan tràn vì trứng capillaria trong phân cá bị những con cá khác ăn vào. Trứng sẽ không nở bên ngòai cơ thể cá nên chỉ một bồn cá được chăm sóc kỹ sẽ phòng ngừa bệnh trong thời gian lâu dài.
    b.Điều trị: Mọi cá đĩa mới bắt, cá la hán (pteropryclum sp) và corydoras sp, cá mè đều phải cô lập và nếu có bất cứ nghi ngờ nào về nhiểm capillaria dùng fenbendazol trộn trong thức ăn đông lạnh và biện pháp được chọn cá nên được tái điều trị trong 30 ngày để đảm bảo tiêu diệt tận gốc.
    praziquantel trộn trong thức ăn cũng được dùng cho capillaria với hiệu quả kép.
    B. Các hội chứng do môi trường( “Lổ đầu”)
    a.Nhận bệnh: Sự kết hợp giữa hội chứng thủng lổ ở sầu và bệnh hexamita khiến một số người nuôi cá lúng túng. Ngọn nguồn là do ta thấy cùng lúc 2 bệnh chứng nơi cùng một con cá. Từ các lổ đầu và sự hiện diện các tua roi. Tuy vậy có những loại giun roi không ký sinh thường hiện diện trong hồ cá và thường gây bệnh ở các mô (phơi trần). Hexamita không bao giờ gây bệnh “thủng lổ ở đầu”. mà chỉ gây chứng “HLLE”
    Cá thủng lổ ở chổ đầu và mặt được mổ ra và ta không thấy các giun roi ở ruột, Cũng có những trường hợp vừa có HLLE vừa có Hexamita trên một con cá mà Hexamita bị loại hầu hết còn HLLE thì tệ hơn. Ngược lại có trường hợp HLLE được chữa khỏi theo các chỉ dẫn sau đây trong khi Hexamita không chữa thì xấu hơn.
    HLLE bắt đầu bằng các lổ thủng nhỏ ở mặt và đầu thường nằm trên đôi mắt. Nếu không kiểm soát kịp thời. HLLE tạo lổ thủng trên đầu, loan lổ đầu dọc theo bên hong. Đáng ngạc nhiên cá vẫn sông suốt diễn biến bệnh, trong vài trường hợp hiếm hơn cá xuất hiện như một xác chết bơi vòng quanh như không có gì xảy ra. Cuối cùng nhiểm khuẩn ở các mô trần sẽ dẩn đến chết.
    b.Điều trị: HLLE hiện nay được cho là do thiếu 1 trong các chất chính sau đây: Vitamin C,D, Calcium và photpho. Hậu quả của việc lựa chọn nghèo nàn về thực phẩm, không thay nước thường xuyên một phần hay việc lọc quá kỹ với các hóa chất như than hoạt tính. HLLE sẽ bị đảo nghịch (thoái trào) bởi một trong xử lý sau:
    Tăng tầng số thay nước bán phần, thêm các sinh tố vào thức ăn đông lạnh, tăng lượng trong khẩu phần ăn của cá ( vì thức ăn rất giàu sinh tố) Thêm thức ăn xanh lá cây, tảo (hoặc rau xanh nguyên lá hay nghiền nhỏ trộn với thức ăn) giảm bớt lượng tim bò trong khẩu phần thức ăn cá ( bởi vì tim bò thiếu rất nhiều chất nuôi dưỡng cần thiết) và lấy đi các lọc bằng than hoạt tính. Một điều thú vị là HLLE ít khi xảy ra trong hồ cá có trồng cây( rong cỏ,…) có lẽ nhờ cá bổ sung nguồn nuôi dưỡng bằng cách gậm nhấm rong tảo, cây cỏ vốn là nguồn cung cấp vitaminc và các chất tươi khác.
     
  2. nhoc ti

    nhoc ti Member

    Tham gia:
    23/9/06
    Bài viết:
    22
    Thích đã nhận:
    6
    Đến từ:
    Tp HCM
    Bài viết hay quá, cảm ơn anh rất nhiều. Lâu quá rồi không gặp anh, mong gặp anh ở kỳ off chủ nhật 18-05 tới, thân!
     
  3. n-b

    n-b Well-Known Member

    Tham gia:
    16/4/06
    Bài viết:
    330
    Thích đã nhận:
    514
    Đến từ:
    SÀI GÒN GIÓ BỤI
    úa em tưởng clb off vào ngày 11/05 vừa rồi mà, vậy mình off hàng tuần phải không anh nhocti?
     

Chia sẻ trang này