Nhận xét chim cu gáy nhằm học hỏi thêm cũng như góp vui../.

Thảo luận trong 'CHIM CU GÁY (Streptopelia)' bắt đầu bởi phuongvando, 5/5/16.

  1. phuongvando

    phuongvando Well-Known Member

    Tham gia:
    19/8/12
    Bài viết:
    783
    Thích đã nhận:
    6,290
    Đến từ:
    hcm
    Quầy nhìn chim ( abc)!




    Chim cu có mỏ có đuôi
    Có mắt có cườm có vảy có qui
    Có lưng có cánh trán đầu
    Có luôn chỉ mép có cằm ngón sau
    Giúp dùm ghi rỏ vùng miền
    Vì chim xuất xứ có nguồn khác nhau
    Dễ gì nhìn được nhiều chim
    Gặp nơi khoản ái ngắm xem mát lòng.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 11:59 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 11:31 PM ----------


    Trên đời sự học vô bờ
    Sức hiểu vô hạn thật hành mau nên
    Con chim Âm ( thanh âm) Tiết đứng đầu
    Lớp lang bài lối tướng hình chung qui.
     
    Last edited: 6/5/16
  2. phuongvando

    phuongvando Well-Known Member

    Tham gia:
    19/8/12
    Bài viết:
    783
    Thích đã nhận:
    6,290
    Đến từ:
    hcm
    Ế ẩm.. Làm vài câu coi có gì mới không..





    Tao sống vì nhân thác vì đời
    Chẳng vướng bận gì lủ dối gian
    Khôn giả khôn oan tao không dạy
    Khôn thật khôn bền ấy tao khuyên.




    Bè lủ bọn bây ấy loại nào
    Dối trá gạc lừa tự cho chăng
    Địa ngục bây ham tao không mến
    Tiêu hoại bây dành ấy tao xa.



    Tiêu hoại bây ham tự bây ham
    Cuộc sống an nhiên tự tại cầm
    Bả lợi mồi danh đầy nhơ nhớp
    Tự cho mạc hạn khổ xoay vòng.



    Xoay vòng khổ sở tự gánh mang
    Đạo hạnh dồi trau khổ vơi dần
    Tự tại an nhiên đâu dể được
    Có được nhờ do tự trị thân.



    Trị thân bởi thấy khổ xoay vòng
    Khổ đời xét thấy mới tu thân
    Tu thân vì bởi nhìn đời khổ
    Đời khổ rỏ xem mới tu thành.



    Tu thành vì bởi tự trị thân
    Trị được giả thân bởi thương đời
    Thương đời vì quá yêu giống loại
    Giống loại thật yêu mới xem đồng.




    Xem đồng chẳng phải bởi lợi danh
    Một loại không hai bởi chung lầm
    Chung lầm biết rỏ nên từ ái
    Từ ái một loài mới an nhiên.



    An nhiên dù chẳng nghĩ yêu thương
    Thương hết yêu chung vẩn không lầm
    Chẳng gì ham hố theo giả tạm
    Mà vì thương sót thí không ham.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:15 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:07 PM ----------






    Bài bản chứ gì!

    Đảng đó em!Từ khi có mặt
    Đả cho người dân Việt tự hào
    Đảng đả mang hơi ấm từng nhà
    Mang tấc cả yêu thương cho khắp.


    Đảng đó em! từ khi thành lập,
    Nước Việt Nam Dân Tộc sáng ngời
    Được Năm Châu vui biết Việt Nam
    Người con Việt được nhiều yêu mến.




    Đảng đó em! Từ khi xây dựng
    Đả sinh ra bao lớp anh hùng
    Cho biết bao ánh sáng cho đời
    Đảng Cộng Sản Việt Nam Vì Nước.




    Đảng đó em! Rất nhiều ưu tú
    Còn tạo ra ưu tú nửa em
    Đảng sản sinh bao lớp nhân tài
    Không có Đảng dân không lớn nổi.





    Đảng đó em! Đảng dành Độc Lập
    Là tự do hạnh phúc đó em
    Đảng là nơi cứu cánh tuyệt vời
    Tư tưởng Đảng sánh cùng Nhật Nguyệt.





    Đảng đó em! Từ khi thành lập
    Người Việt Nam No Ấm ổn an
    Qua bao nhiu khăn khó kinh hoàn
    Đảng cùng với nhân dân là một.




    Đảng đó em! Em nên yêu Đảng
    Yêu Đảng là yêu nước thương nòi
    Đảng vì dân chăm sóc cho dân
    Người con Việt phải yêu quí Đảng.





    Đảng Đó Em! Hy sinh tấc cả
    Vì quê hương gian khó vẩn cười
    Thương quê hương bao lớp hy sinh
    Không lùi bước Đảng là đáng kính!





    Đảng đó em! Người con ưu tú
    Của biết bao lớp lớp con người
    Đả vui lòng không quản khó khăn
    Nhằm đáp ứng văn minh giá trị.




    Đảng đó em! không gì riêng lợi
    Mà chỉ vì Nhân Loại Đại Đồng
    Đảng có đường lối thật sáng trong
    Mang hạnh phúc sáng tươi khắp chốn.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản
    Cộng sản là giá trị đó em
    Mang văn minh văn hoá khắp nơi
    Chọn lọc lại cho nơi còn thiếu.



    Đảng đó em! Con đường giá trị
    Đả giúp cho bao lớp con người
    Bước ra nơi tươi sáng tốt lành
    Mà trước đó ít người dám tưởng.



    Đảng Đó Em! Vì yêu giống loại
    Sống bằng tình khắn khích thanh cao
    Đảng ở trong tim khảm nhiều người
    Chung chí hướng thương yêu giống loại.



    Đảng đó em! Thật thương thật giúp
    Đảng đấp xây bao sự tốt lành
    Văn hoá càng sáng toả nhiều nơi
    Giống loại sớm trở nên tốt đẹp.


    Đảng đó em! Tràn đầy ý vị
    Nên tình yêu rất mực kiên cường
    Chết xem thường khổ khó không nao
    Người cộng sản nặng tình giống loại.


    Đảng đó em! Thực hành của Đảng
    Là thương yêu khắp cả người người
    Nhửng văn minh tiến bộ của đời
    Đảng mang lại nhửng nơi thiếu hụt.





    Đảng đó em! Nêu cao đạo đức
    Xây trong tình nhân cách của người
    Ngoài giúp đời tự trị lấy thân
    Sớm thức tỉnh ở trong khổ ải.





    Đảng đó em! Bao nhiu tốt đẹp
    Từ văn minh văn hoá tốt lành
    Đến tâm hồn trong sáng sạch thanh
    Đảng cho cả nhửng ai thiếu hụt.




    Đảng đó em! Đảng là văn Hoá
    Là công bằng hạnh phúc tự do
    Là chổ dựa cho dân cho nước
    Công bằng củng sót thương hèn yếu.





    Đảng đó em! Chủ trương đường lối
    Mang ấm no hạnh phúc cho đời
    "Bằng văn minh tiến bộ Nhân Loài"
    Tư tưởng Đảng sáng trong đạo đức!





    Đảng đó em! Nói cho em hiểu
    Cùng thương yêu chủng tộc giống loài
    Mang an vui hạnh phúc cho đời
    Hưởng hạnh phúc ấm êm mãi mãi!






    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Là người con Hiếu Nghỉa Ngoan Hiền;
    Trong gia đình hiếu thuận chặc gìn,
    Trong xả hội trọn bề Trung Hiếu.



    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Là nhửng người trong sáng ý tình;
    Suốt cuộc đời Hiếu Thuận Hiếu Trung,
    Gìn khí tiết giá danh bất khuất.



    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Là nhửng người học tập tốt lành;
    Hiếu trung trong khí tiết đủ đầy,
    Không ngừng nghỉ dồi trao rộng lớn!





    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Là con lành dân tộc Việt Nam;
    Hiếu trung dù khó mấy chẳng dừng,
    Yêu Đất Nước khó khăn chẳng ngại.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Chịu biết bao thiếu thốn khổ nguy;
    Vẩn kiên trung yêu nước thương nòi
    Chết chẳng ngại khó khăn thường sự!




    Đảng đó em! Việt Nam Thiếu Đảng
    Như Bời rời không thể kết liên;
    Như bèo dạt mây trôi tan rã
    Buồn tủi chẳng thể vui em nhỉ.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Trên môi luôn có sẳn nụ cười;
    Là con lành dân tộc chăng em,
    Em hãy nhớ hoà quang dân tộc.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Nhửng người con Dân Tộc Việt Nam;
    Đại diện cho nét đẹp giống nòi
    Kiên trung với Hiếu Trung tột bực.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Là Con Ngoan trò giỏi đó em;
    Là người con dân tộc tốt lành,
    Là tốt đẹp trọn lành trách nhiệm!




    Đảng đó em! Nhửng người Cộng Sản,
    Luôn sáng trong ý vị tốt lành;
    Dù hôm nay thách thức khác phần,
    Anh tin chắc Đảng trong sáng mãi!



    Đảng đó em! Ngày đầu lập nước,
    Phải vược qua muôn sự khó khăn;
    Đảng vẩn luôn kiên định sắc son,
    Người cộng sản vàng rồng dám sánh!




    Đảng đó em! Đớn đau chẳng ngại,
    Hy sinh luôn kiên định hiếu trung;
    Nhiều Đảng Viên ở tuổi thanh xuân,
    Đả yên nghỉ chết vì dân tộc.




    Đảng đó em! Nhửng người cộng sản,
    Tư tưởng luôn trong sáng sáng ngời;
    Không vì thân vị kỷ vị tư,
    Người cộng sản xem mình công bọc.




    Đảng đó em! Vì dân vì nước,
    Ráng dạy con cho xứng với thời;
    Dạy con mình hiếu thuận trong nhà,
    Hiếu nghỉa trọn lành cùng son sắc.




    Đảng đó em! Luôn vì dân tộc,
    Vược khó khăn gian khổ đến nay;
    Đảng sẻ cùng nhân loại chung bầu,
    Chung sức với bạn bè thương loại.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:29 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:15 PM ----------


    Hoa Sen sinh trụ nơi tâm thức
    Tỏa sắc khoe hương chổ nhuốc nhơ
    Thưởng lãm sắc hương sinh buông bỏ
    Ngọt bùi hà hải chuyển đến nơi



    Xuân qua Đông tới không ngừng nghĩ
    Xin hỏi người người đã thức chưa
    Mau mau ra khỏi căn nhà lửa
    Được nhẹ xác thân thoát luân hồi

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:32 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:29 PM ----------


    Chổ nào mà chửa có nhà
    Đời này chốn chốn quỉ ma dẩy đầy
    Nhà nhiều muôn loại thiếu nơi
    Quỉ ma đầy dẩy khổ nhiều hơn vui

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 10:44 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:32 PM ----------
    Khổ nhiều mấy kẻ nhận ra
    Tự cho sung sướng đủ trò nọ kia
    Rút ra ít kẻ chịu đành
    Dối gian bẩn thiểu tự cho dẩy đầy
     
    Last edited: 6/5/16
  3. Quangiahuynh

    Quangiahuynh Well-Known Member

    Tham gia:
    3/3/13
    Bài viết:
    310
    Thích đã nhận:
    4,313
    Đến từ:
    Tánh Linh
    Thấy topic của bác ế ẩm quá. Thôi thì nhờ bác bói dùm em con này cho vui nhe...Em đang mệt mỏi với nó đây........Chúc bác luôn vui vẻ với niềm đam mê cu cò của mình
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 10:47 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 10:43 PM ----------


    Còn con này nữa. Cám ơn bác nhiều nhiều...

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
     
  4. phuongvando

    phuongvando Well-Known Member

    Tham gia:
    19/8/12
    Bài viết:
    783
    Thích đã nhận:
    6,290
    Đến từ:
    hcm





    Con một ép bổi chung tàn mạnh gù mạnh.. Mệt mỏi hay không do anh.. Con hai chim chủ yếu đấu dưới bổi để bắt bổi thúc kèm chăm gù là chính.. Bài bản đấu từng con bổi thể hiện khác nhau gáy bổi mau về đấu../.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 11:26 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 11:23 PM ----------


    Nếu sau này anh có chim ủng hộ tôi.. Anh có thể yêu cầu tôi dùng thơ trả lời bao gồm nó kêu như thế nào.. Gù rước mấy hơi, dựt kèm thúc kèm lối chơi ra sau miểm là hình rỏ chim đủ lông đủ gốc.. Cảm ơn anh đả ủng hộ.. Chúc anh hạnh phúc. Thân!
     
  5. cugadada

    cugadada New Member

    Tham gia:
    18/12/15
    Bài viết:
    2
    Thích đã nhận:
    1
    Đến từ:
    đồng nai
    Chả hiểu bác đang viết gì nữa.
    Tóm lại: con 1 bài bản dày không? gù khống hay gù rước? khi bổi về tàn thì nó sẽ như thế nào? Đọc bài của bác chán quá nên ế ẩm đó.
     
    phuongvando thích bài này.
  6. phuongvando

    phuongvando Well-Known Member

    Tham gia:
    19/8/12
    Bài viết:
    783
    Thích đã nhận:
    6,290
    Đến từ:
    hcm
    Nơi nhìn chim nầy không có chim để nhìn chính thức tuyên bố đóng cửa./.
     
    Last edited: 16/5/16
    binhthuancu thích bài này.
  7. Thu HY

    Thu HY Hội trưởng cu Hưng Yên

    Tham gia:
    2/4/10
    Bài viết:
    573
    Thích đã nhận:
    6,409
    Đến từ:
    TP. Hưng Yên
  8. huaquoctoan

    huaquoctoan Well-Known Member

    Tham gia:
    23/12/10
    Bài viết:
    255
    Thích đã nhận:
    668
    Đến từ:
    Cà Mau
    nhờ anh Phương cho xin 1 bài thơ về con này, cám ơn anh trước!
    [​IMG]
    [​IMG]
     
  9. phuongvando

    phuongvando Well-Known Member

    Tham gia:
    19/8/12
    Bài viết:
    783
    Thích đã nhận:
    6,290
    Đến từ:
    hcm
    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.

    Phần Vạn Niên Huynh Đệ (.. Trang 166..)


    .. Và riêng em khá bớt ưu bi,
    Cây một cội chung qui nhiều trái.
    Còn cơ duyên xác còn tồn tại,
    Dù trải qua đèo ải bao phen;
    Chớ ngại chi thân thế yếu hèn,
    Trong hèn yếu có chen cứng mạnh.
    Đừng nệ khó cũng đừng than bịnh,
    Máy Trời kia đã định từ lâu;
    Lúc em vừa mười sáu tuổi đầu,
    Đã thấy bóng nhiệm mầu có phải?
    Có một vật sáng xanh hình thái,
    Thường đêm bay qua lại trong màn;
    Đẹp như sao sáng sắc dịu dàng,
    Nhìn lâu mấy không chang chói mắt.
    Em đã lắm lần đưa tay bắt,
    Nhưng không hề nắm được một lần;
    Kỳ diệu thay vật thấy rất gần,
    Vói lấy mãi bao lần không đụng.
    Tuy quái lạ em không kinh khủng,
    Trái lại cho PHật dụng phép mầu;
    Khi ấy lòng em rất tin sâu,
    Sự đạo lý bắt đầu tin tấn.
    Tâm thường sáng hơn thường muôn bận,
    Đêm đêm tai nghe nghe giảng đủ lời;
    Lẽ thạnh, suy bĩ, thới trong đời,
    Đâu chánh giáo đâu nơi tà đạo.
    Nghe không sót những lời châu báu,
    Chơn Thần luôn đi dạo khắp phương
    Như nào là Địa ngục Thiên đường,
    Cảnh vui khổ đã từng thấy rõ.
    Điều ấy rất ít người tìm có,
    Em há không cho nó phi thường;
    Vật sáng kia là Định Minh Cương,
    PHật dùng để ngăn đường tà quái.
    Hộ em lúc xác còn thơ dại,
    Mà lòng tu sớm lại phát sinh;
    Để khỏi loài yêu quỉ trá hình,
    Hại mạng hoặc dắt khuynh đường ác.
    Còn đến chuyện khi ngâm khi hát,
    Em thường nghe giéo giắt bên tai;
    Cũng là do nơi đức PHật Ngài,
    Mượn lời ấy để khai đạo khí.
    Có nhuần thắm được mùi đạo lý,
    Giúp cho em thần trí sớm khai;
    Để em dìu bá tánh sau nầy,
    Được tỉnh giấc mê say lầm lạc.
    Người của em từ hồn lẫn xác,
    Hầu hết nhờ đức PHật săm soi;
    Giúp cho em tức giúp cho đời,
    Bởi em với mọi người hữu thệ.
    Lúc ấy PHật rõ ngày hậu thế,
    Dùng Định Minh Cương vệ thân em;
    Có phải chăng mỗi lúc em xem,
    Vừa hớn hở vừa thêm tin tưởng.
    PHật khéo giúp sâu xa ảnh hưởng,
    Đạo sớm nên tâm lượng sớm khai;
    Kẻ thọ ân to lớn thế này,
    Há chẳng nhớ đêm ngày lo trả.
    Nghe đến đây bồi hồi trong dạ,
    Nhớ lại khi thấy quả minh châu;
    Mỗi đêm thường bay múa trên đầu,
    Sáng chẳng chói xem lâu thấy mến.
    Mỗi ngày ta chờ cho đêm đến,
    Để cùng vui với ánh sáng xanh;
    Lòng mộ tu càng gặp điềm lành,
    Ta không xiết kính tin mừng rỡ.
    Chuyện lạ tự lòng mình hiểu nhớ.
    Ta vừa cúi đầu vừa lời mở,
    Vật lạ kia thật có như lời;
    Đây không nhờ vật ấy đến nơi,
    Chưa ắt trở nên người tu niệm.
    Thêm được có những lời chỉ điểm,
    Tai đây thường nghe đến ngày đêm;
    Khiến cho lòng tin tấn càng thêm,
    Trọng đạo đức hơn trên vật tạm.
    Ân ấy khiến lòng đây quá cảm,
    Sớm hôm lo bái sám không rời;
    Nói đến đây Đạo sĩ ngăn lời,
    Rằng: em nhớ đang khi hồi ấy.
    Em có viết một bài tấu khải,
    Đã gởi cho thập giới PHật Tiên;
    Chứng cho em có những lời nguyền,
    Ghánh bớt khổ dân trên quả đất.
    Nôi Thất Tổ chỉ đường tu PHật,
    Nguyện đến loài súc vật côn trùng;
    Nghe tiếng em hoặc thấy hình dung,
    Liền cảm mến phát lòng mộ đạo.
    Ngày nào còn có người khổ não,
    Em còn lo chỉ giáo không thôi;
    Thà vui lòng cõi PHật mất ngôi,
    Không vui bỏ một người nào khổ.
    Em còn nguyện mẹ, cha, tông tổ,
    Bảy đời qua được độ siêu thăng;
    Khi nguyện rồi em có nhớ chăng,
    Một ánh sáng bay băng ngang mặt.
    Lại có mùi thơm tho nồng nặc,
    Lúc ấy em rởn óc cả người;
    Vừa mừng vừa sợ cái oai Trời,
    Không hình ảnh vô hồi mầu nhiệm.
    Ánh sáng ấy PHật Ngài chứng điểm,
    Những lời em đã nguyện đấy ư;
    Chẳng thành tâm nguyện đến bao chừ,
    Cũng khó thấy được nơi điềm quí.
    Ta liền thưa thật là trúng lý,
    Tâm của đây lúc ấy thật nguyền;
    Nên cảm lòng của các PHật Tiên,
    Sau khi nguyện thì liền ứng chứng.
    Từ ấy đây hằng lo bổn phận,
    Sao vẹn tu? Sao trọn lời nguyền?
    Rồi bỗng nhiên nầy đến bỗng nhiên,
    Nhờ các đấng thiêng liêng chỉ bảo.
    Đạo sĩ rằng thời cơ đã đáo,
    PHật Tiên thường mật giáo chư duyên;
    Mượn xác phàm hoặc mượn bút nghiêng,
    Tuỳ cơ để dạy khuyên trần thế.
    Mau hơn việc đầu sanh cơ thể,
    Độ chúng sanh khỏi trễ thời Trời;
    Mượn một tay đã độ một người,
    Mượn nhiều xác tỉnh hồi nhiều kẻ.
    Vừa phương tiện cũng vừa mau lẹ,
    Đạo sĩ liền ngâm kệ như vầy:



    "Hiện tại ở trên quả đất nầy,
    Bất kỳ thông dốt gái hay trai;
    Có duyên PHật, PHật sang dìu dắt,
    Còn nghiệp ma, ma đến phủ vây.
    Gieo giống xưa lâu nay vẩn nở,
    Tạo nhân xa trước hiện đền ngay;
    Lành thì lành đến, hung hung tới,
    Quái lạ có nhiều cuộc trả vay.


    Đạo sĩ luôn tiếp lời nhẹ bảo:
    Nhân ngàn năm quả đáo nhứt thời;
    Người lành duyên sẽ lắm vui tươi,
    Thương kẻ ác vô hồi khổ nạn.
    Sổ vay trả cuối năm thanh toán,
    Nghiệp dử lành rốt hạn chia phân;
    Có duyên Thần thì được gặp Thần,
    Có duyên PHật sẽ trông thấy PHật.
    Duyên ma quỉ tất ma quỉ dắt,
    Giống nào thì nấy gặp không sai;
    Cảnh trần gian quá đỗi vần quay,
    Nhiều sanh lạ nhiều người chết lạ.
    Buổi Mạt thế quái kỳ nhân quả,
    Để mắt vào há dễ không kinh,
    Thêm có nhiều tà phép hữu linh,
    Kẻ đã chết kêu tên sống lại,
    Không đớn đau không chảy máu me;
    Chúng có nhiều quỉ thuật bài khoe,
    Kẻ mê tín nếu nghe thì khổ.
    Nhiều kỳ chứng kể thôi vô số,
    Thương bá gia không chổ nào an;
    Kẻ hiện sanh trên cõi trần hoàn,
    Ai cũng phải nạn mang nhiều ít.
    Trò văn vật càng nhiều khuyến khích,
    Sự ác gian càng chất thêm cao;
    Càng ăn sang mặc sướng chừng nào,
    Hố tội lỗi thêm sâu chừng nấy.
    Bên sau lẽ cạnh tranh thắng bại,
    Chẳng ai lo lợi hại xác hồn;
    Nhiều kẻ mưu thân được sanh tồn,
    Trái lại tự làm hồn tiêu diệt.
    Tuy đang sống mà người đã chết,
    Nhưng họ không tự biết chi đâu;
    Bữa tiệc ngon dễ bị lấy đầu,
    Chẳng tìm hiểu cứ bâu cười múa.
    Đem muôn kiếp đổi vui một bữa,
    Lại tự cho sáng sủa khôn ngoan;
    Giòi dụt chui trong đống xương tàn,
    Đâu bền bỉ đâu rằng êm ấm.
    Nếu sanh chúng lấy lòng suy gẫm,
    Thấy chán đời hơn đắm cảnh đời;
    Chán lớp tuồng giả dối gạc người,
    Chán thời cuộc lửa vùi mái trại.
    (..171..)



    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần vạn niên huynh đệ ( trang 136..)



    .. "Đây diệu dược để mà trị chữa,
    Chứng bịnh con đang buổi kinh nguy;
    Con nghiêng qua tay mặt mau đi,
    Để uống món thần y nầy đấy.
    Em liền cựa mình qua bên phải,
    Thuốc đưa ngay vào tại miệng em;
    Thuốc thì em chính mắt đã xem,"
    Còn người gọi thì em không thấy,
    Nầy em ơi! Tiến người gọi ấy,
    Chính cụ hìa thường dạy bảo em;
    Lúc ấy vừa khoảng giửa trời đêm,
    Dùng thiền quán nên anh đã biết,
    Trong lòng lấy làm mừng chi xiết,
    Được thấy em đạo nghiệp đã thâm;
    Có Thần Tiên có PHật giáng lâm,
    Cứu độ lúc xác thân thọ bịnh.
    Nếu em khéo " Tu hành chơn chính",
    Quả Bồ Đề đạt đến rất mau;
    Giống lành thêm phân tốt bón vào,
    Thì bông trái thế nào cũng sớm.
    Vì thấy khó rửa đời sạch bợn,
    Và còn nhiều gai bớm chông chênh;
    Bước đạo mầu khó tiến rộng lên,
    Nên em muốn huỷ mình khách thổ.
    Để trở gót về nơi Tịnh Độ,
    Việc trần gian để phó thiên cơ;
    Điều nầy anh chẳng nhận bao giờ,
    Bởi nó chẳng hiệp cơ từ quảng.
    Phải vui chịu mọi điều khổ nạn,
    Để cứu đời qua đặng sông mê;
    Riêng thân dù muôn vạn ủ ê,
    Xem thường sự chớ hề thối chí.
    Xuôi ngược vẩn trương câu đạo lý,
    Nghe hay không cũng chỉ phép tu;
    Đâu hơn khi bị đụng kẻ mù,
    Há trách phá thuyền tàu lúc gió.
    Nên tha thứ tánh phàm xiên xỏ,
    Hảy lặng chờ buổi khó đi qua,
    Vì muốn cho nguồn đạo rộng xa,
    Cái phàm xác phải là bảo trọng.
    Khi qua sông thuyền bè tạm dụng,
    Lên bờ rồi sẽ cắm bỏ ngay;
    "Đạo muốn thành" không mượn xác thây,
    Thì chẳng khác đốn cây mong trái.
    Là một việc hiểu lầm có hại,
    Em nghĩ xem có phải vậy chăng?
    Ta cúi mình và mới thưa rằng;
    Ngài dạy ấy trăm phần rất đúng,
    Nhưng đây đã nguyện thiền hoá chúng,
    Phí phàm thân gọi khống mấy năm;
    Nhửng kẻ nghe cố để vào tâm,
    Nhìn kỹ số đôi trăm có một.
    Còn bao nhiêu bay theo gió trốt,
    Chẳng còn lưu được chút hảo hoà;
    Lòng đã quên hẳn chử Di Đà,
    Trở lại thói xấu xa hơn trước.
    Ham danh lợi thích điều bạo ngược,
    Ruột nỡ đành cắt ruột không đau;
    Mất tinh thần yêu mến lẫn nhau,
    Ai cũng chỉ lo giàu phần nấy.
    Khắp nơi tiếng bất lành vang dậy,
    Càng nghe càng thêm áy ruột rà;
    Chủ trương đường lối PHật Thích Ca,
    Đâu xúi việc tà ma ngoại giáo.
    Lẽ chơn chánh bị đời ngược đảo,
    Hễ nghe ra bắt não nề lòng;
    Thêm vào đang cảnh ngộ chưa thông,
    Nơi đất khách chờ trông mỏi mắt.
    Mọi việc vẫn còn đang trái mặt,
    Bề hiếu nhi chầu chực vẫn không;
    Nội bao nhiêu cũng đủ đau lòng,
    Thân xác lại còn chồng lắm bịnh.
    Làm cho kẻ thật lòng thành kính,
    Vì thân nầy lo lắng đủ điều;
    Khiến lòng đây nghĩ đến bấy nhiêu,
    Muốn bỏ xác hơn điều muốn sống.
    Chẳng ngờ chốn non mây Tiên động,
    Ngài được hay hoá bóng đến đây;
    Đạo Sĩ bèn ngâm lớn như vầy;
    Ánh sáng mặt trời trong một giây,
    Đi cùng Nam Bắc khắp Đông Tây;
    Thần Tiên huệ cảm mau hơn bội,
    Một sát na thông khắp vạn loài.
    Vạn loài gói giữa cái hư không,
    Không ấy thần cơ vẫn nhứt đồng;
    Động tịnh thăng trầm đâu chẳng biết,
    Chớ ngờ cách núi với ngăn sông.
    Sông núi đâu ngăn được tấm lòng,
    Tấm lòng trùm phủ cả non sông;
    Muốn đi ai cấm về ai cản,
    Kim cổ bao giờ vẩn chủ ông.
    Ông chủ tạo ra được các loài,
    Thánh phàm tự nắm lấy nơi tay;
    Quyền năng không hạn cùng Trời đất,
    Ứng dụng nhiệm mầu chữ bế khai.
    Khai bế mấy thần mỗi khắc canh,
    Cũng duyên xưa cũng cảm căn lành;
    Mượn cầu quang tịnh thông đường đệ,
    Giáp mặt cạn bày lẽ tử sanh.
    Sanh, tử nhà tu phải hợp thời,
    Sanh vì độ chúng tử vì đời;
    Tử, sanh đặt dưới từ bi chủ,
    Bĩ thái không quyền buộc dứt hơi.
    Hơi dứt sau ngày cửa đạo minh,
    Nước non trở lại cuộc thanh bình;
    Chợ quê đâu cũng dân An Lạc,
    Yên giấc nhà tu chốn Thứu Linh.
    Linh Thứu đâu dung khách yếm trần,
    Việc người không độ, độ riêng thân;
    Hẹp hòi trái thuyết Như Lai dạy,
    Chẳng ích lợi gì khắp thế nhân.
    Thế nhân bị nghiệp xấu từ xưa,
    Việc quấy hay làm, tốt chẳng ưa;
    Kẻ bịnh lại còn dùng độc dược,
    Nên đến khuyên hơn giận lánh đừa.
    Đừa lánh con người sắp đuối chơn,
    Sát sanh cùng một thứ đâu hơn;
    Thời cơ ngang trái dù cho mấy,
    Độ chúng hằng lo độ chớ sờn.
    Tiếng ngâm như chuông ngân trong trẻo,
    Mổi câu đều khéo léo sâu xa;
    Rồi tự nhiên lòng thấy ngầy ngà,
    Tiếng ngâm dứt mà ta chưa biết.
    Ngồi trân trói như người câm điếc,
    Kỳ bí thay! Những việc Thần Tiên;
    Dực nhớ ra ta cúi đầu liền,
    Đội ơn đức Ngài khuyên cặn kẽ.
    Đây với chúng duyên đâu muốn bẻ,
    Nhưng lý do các lẽ đã bày;
    Sống không làm đạo pháp rộng khai,
    Sống không gọi khắp ai nghe tới.
    Sống cái xác ốm đau mệt mỏi,
    Khiến đồng môn lắm nỗi lo lường;
    Nên muốn lìa sớm cõi trần dương,
    Hơn lòng muốn lâu nương hạ giới.
    Đạo sĩ chận lời và mạnh nói;
    Nếu muốn cho rộng lối đạo mầu;
    Cần sống lo đến lúc bạc đầu,
    Nửa chừng khó định câu đắc, thất.
    Đạo càng lớn càng nhiều giờ khắc,
    Cứ truyền khai chớ đặt hạn kỳ;
    Huống nhằm thời PHật pháp suy vi,
    Trong khoảng ngắn dễ gì quảng đạo.
    Nếu các vị tương truyền Tam Bảo,
    Hễ kém khai liền cáo tạ trần;
    Sẽ khiến cho cửa đạo hẹp lần,
    Cho đến lúc không còn vết tích.
    Làm như thế lỗi đường PHật Thích,
    " Nguyện độ cho đến hết chúng sanh;
    Nếu còn người khổ sở hôi tanh,
    Còn ở thế gian hành bồ tát"
    Đò sáu chiếc đưa người bến giác,
    Kiếp trãi qua như các sông Hằng;
    Mổi đời đều mỗi gặp khó khăn,
    Vẫn tiếp tục con đàng cứu thế.
    Gương lành ấy muôn đời soi để,
    Đời đáng tôn làm mẹ làm cha;
    Độ một người căn đạo sâu xa,
    Bỏ thân cũng vẫn là hoan hỷ.
    Tình thương ấy chúng phàm khó nghĩ,
    Thâm dường bao hương vị dường bao!
    Điều đó em há chẳng hiểu sao?

    (Hết trang 140)




    Trích rằm tháng mười của Ngài Thanh Sĩ.


    (Tiếp theo)

    ...Thương sanh chúng nhiều bề khổ não.
    Mẹ đấy con! Ngồi trên sen báo,
    Nhìn chúng sanh không ráo hột châu;
    Từ trẻ thơ cho đến bạc đầu,
    Cũng chung chịu một bầu lao lý.
    Mẹ đấy con! Đày trong tục luỵ,
    Khổ suốt đời đâu nghĩ phút nào;
    Người sang hèn hoặc kẻ nghèo giàu,
    Đều chịu khổ như nhau tấc cả.
    Mẹ đấy con! Khổ thân hoạn hoạ,
    Khổ về bề giặc giã thù hềm;
    Lòng sợ lo không phút nào êm,
    Nghèo củng thế có tiền cũng thế.
    Mẹ đấy con! Luống mưu trăm kế,
    Chẳng làm sao thân thể không già;
    Hoặc bịnh này tậc nọ sinh ra,
    Bao nhiu đó cũng là thấy khổ.
    Mẹ đấy con! Của tiền muôn hộ,
    Thân cũng huờn lại thổ khác đâu;
    Mưu làm chi những kế độc sâu,
    Cho kẻ khác chịu sầu chịu khổ.
    Mẹ đấy con! Nay gần đến chỗ,
    Đức Ngọc Hoàng bôi sổ loài người;
    Nếu không làm hiền đức tốt tươi,
    Hồn xác chẳng còn nơi cứu rỗi.
    Mẹ đấy con! Đời như ổ mối,
    Chừng gặp khi nước dội khỏi bờ;
    Thì chỉ trong giây lác phút giờ,
    Cả thành quách đều xô theo nước.
    Mẹ đấy con! Rán mà tích phước,
    Chớ làm điều bạo ngược lung lăng;
    Sẽ thoát qua cuộc đại biến nàn,
    Được xem thấy hội hàng Tiên PHật.
    Mẹ đấy con! mẹ thương vạn vật,
    Đang sanh trong thế mạc đời cùng;
    Vui một hai khổ thảm muôn trùng,
    Nhưng ít kẻ để lòng nghĩ tới.
    Mẹ đấy con! Bản đồ thế giới,
    Đang nằm trên lũ mối tham tàn;
    Con hãy xem chỉ một khắc gian,
    Bản đồ ấy rã tan từ mảnh.
    Mẹ đấy con! Xót thương bá tánh,
    Bị lửa nhà bên cạnh cháy lan;
    Cả gia đình sự nghiệp tiêu tan,
    Một kẻ trút muôn ngàn người khổ.
    Mẹ đấy con! Xác cây pháo nổ,
    Nó tan ra mảnh nhỏ thế nào;
    Quả đất này đến lúc tiêu hao,
    Cũng như thế khác nào ớ trẻ.
    Mẹ đấy con! Con ghi lời mẹ,
    Vẹt góc gai tìm kẻ hữu tâm;
    Chỉ dạy lời đạo lý thâm trầm,
    Kẻo việc đến không làm sao kịp.
    Mẹ đấy con! Chơn tu một kiếp,
    Siêu PHật Đài thoát nghiệp luân hồi;
    Thường lúc nào cũng được an vui,
    Không nạn khổ không nơi phiền não.
    Mẹ đấy con! Tu là quí báu,
    Nợ trần gian càng tạo càng sâu;
    Sự lợi danh như miếng mồi câu,
    Say mê nó ngắn thâu số kiếp.
    Mẹ đấy con! Thấy ai nghèo đói,
    Lòng cũng nên biết nhói biết đau;
    Lượng sức mình giúp họ với nào,
    Chớ tiếc của làm màu xa lạ.
    Mẹ đấy con! Gặp người rách rã,
    Mà không đem lòng dạ xót thương;
    Đến khi mình vướng lấy tai ương,
    Sẽ bị kẻ mở đường nói lảng.
    Mẹ đấy con! Hẳn con đả thấu,
    Lúc thuận thì cậu cậu, ông ông;
    Thoảng một khi có việc trái lòng,
    Kêu tên tộc chửi không ngại miệng.
    Mẹ đấy con! Bình thời lặng tiếng,
    Hữu sự thì kiếm chuyện khó khăn;
    Người đời nay lòng biết mấy ngăn,
    Phải dè dặt cách ăn thói ở.
    Mẹ đấy con! Hùm beo không sợ,
    Sợ thế gian kẻ ở hai lòng;
    Kẻ vì tiền vì muốn lập công,
    Tình thân mấy họ không hề tưởng.
    Mẹ đấy con! Lo thân sung sướng,
    Nở làm cho người vướng nạn tai;
    Sự có thường trong cuộc đời nay,
    Mẹ càng ngắm càng cay đôi mắt.
    Mẹ đấy con! Khi thời thế đắc,
    Nỡ xuống tay làm ngặc cô thân;
    Cũng đang nhiều trên khắp cõi trần,
    Thương hại kẻ tay chân hụt hạt.
    Mẹ đấy con! Tiếc cho kẻ ác,
    Xài quá dư số phước đã dành;
    Trong nhất thời mất cả liệt oanh,
    Thân ấy khác nào nhành lìa cội.
    Mẹ đấy con! Đòn cân phước tội,
    Trên hai vai của mỗi người đời;
    Rất công bằng lắm ớ con ơi,
    Rằng không có là người lầm đấy.
    Mẹ đấy con! Cũng vì lẽ ấy,
    Mẹ muốn cho cả thảy nhơn sanh;
    Hãy bình tâm chọn lấy điều lành,
    Sang trọng thế rách tanh cũng thế.
    Mẹ đấy con! Biết chừa biết để,
    Cùng PHật, Tiên đồng bệ khác đâu;
    Lấy từ bi hai chử làm đầu,
    Nghiệp oan khỏi và đâu khỏi kiếp.
    Mẹ đấy con! Chúng sanh bị nghiệp,
    Lôi kéo vào trong kiếp phù sanh;
    Nghiệp ấy là nghiệp tạo bất lành,
    Bằng ý tưởng hoặc bằng hành động.
    Mẹ đấy con! Giống gieo lên mộng,
    Mạnh thì mau yếu gấm hơi lâu;
    Hưởng đương đời hoặc đến đời sau,
    Đều do nghiệp cạn sâu ra đấy.
    Mẹ đấy con! Thứ mau ăn trái,
    Thứ đợi lâu mới nảy bông ra;
    Giống nghiệp kia củng thế ấy là,
    Chớ cho chốn bao la không mắt.
    Mẹ đấy con! Trâu không ai dắc,
    Mà tự nhiên nó biết về chuồng;
    Bởi mỏi ngày đi lại thường luôn,
    Nên nó đả thuộc quen đường sá.
    Mẹ đấy con! thế đâu còn lạ,
    Nghiệp mê là do cả thói quen;
    Quen thấp hèn sanh chốn thấp hèn,
    Lạ đường PHật khó lên cõi PHật.
    Mẹ đấy con! Say mê vật chất,
    Phải đi theo đường đất thế gian;
    Lòng không ưa mến cõi Niết Bàn,
    Thì đâu hướng chân lên đường PHật.
    Mẹ đấy con! Đấy là tóm tắt,
    Nghiệp lực hay dẩn dắt thế nào;
    Vậy con ơi gán liệu làm sao,
    Đừng để nghiệp trần lao lôi cuốn.
    Mẹ đấy con! Lựa cho phải luống,
    Thân không như rau muống ớ con;
    Rán tìm cho ra lối thường còn,
    Lầm một kiếp khổ luôn nhiều kiếp.
    Mẹ đấy con! Thân nên uổng tiếc,
    Chớ ném vào nhửng kẹt hôi tanh;
    Nên hy sanh vào chổ cao thanh,
    Cho nhơn loại hoặc nền trung hiếu.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:17 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:15 PM ----------


    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..224)
    .. Khác nào hoa mất hết mùi hương;
    Xả hội nào không kẻ hiền lương,
    Xả hội đó mất đường thạnh trị.
    Em khéo giúp người thông đạo lý,
    Tất nước nhà trở lại an ninh;
    Và chừng khi có cuộc vang thinh,
    Khổ hoạ cũng chẳng sanh ra lớn.
    Dân còn bước chân hài chân hớn,
    Phần lớn do thiếu thốn đức tin;
    Ấy là mầm tai hoạ đáng kinh,
    Khéo giúp họ được" minh nơi trí".
    Dân trong nước không thông chơn, nguỵ,
    Sẽ rối luôn khó trị cho yên;
    Dân trí khi được mở sáng lên,
    Đâu hư với đâu nên thấy rõ.
    Cố nhiên nẻo tà liền tự bỏ,
    Tự xếp mình vào ngõ chánh chơn;
    Muốn thế là theo lẽ trước hơn,
    Phải phát mạnh tin thần đạo đức.
    Lấy đạo đức để tri giả thật,
    Như địa bàn chỉ Bắc với Nam;
    Độ được ngay tấc cả việc làm,
    Giúp đỡ chẳng gian tham là chánh.
    Lợi dụng hoặc gạc lừa bá tánh,
    Ấy phải nên quyết định là tà;
    Cứu mình rồi lo cứu người ta,
    Ấy đúng thuyết Thích Ca đã dạy.
    Độ mình chẳng độ người hoặc hại,
    Quả quyết rằng tông phái của tà;
    Cứ lấy đây mà xét rộng ra,
    Sẽ biết được đâu tà đâu chánh.
    Tà là phải mau lo xa lánh,
    Chánh thì nên phát mạnh lòng tin;
    Nào luật nghi qui củ chặt gìn,
    Xấu mấy cũng trở nên người tốt.
    Trừ những kẻ chỉ mang có lốt,
    Không chịu mang lòng thật hành y;
    Dù bao lâu cũng chẳng nên gì,
    Cây không uống hình chi chẳng giống.
    Người vốn lấy tánh quen mà sống,
    Cả món chi đều cũng do quen;
    Dù tanh hôi dù quá thấp hèn,
    Người ta có thể quen được cả.
    Ví dụ sợ Trời khi quen dạ,
    Không bao giờ dám hả miệng kêu;
    Đến uống ăn cử động các điều,
    Do quen tánh phần nhiều thành tật.
    Thói quen rất là quan hệ nhứt,
    Cho nên cần lựa tập thói quen;
    Đừng cho quen những thói hư hèn,
    Nên tập sửa tánh quen "nhơn đức. "
    Quen tha thứ quen lời chơn chất,
    Quen thương người quen giúp gần xa;
    Lòng cho quen thờ mẹ kính cha,
    Thấy ai khổ cũng là quen cứu.
    "Quen niệm PHật" như người quen rượu,
    Quen thế này tội lỗi đâu sanh;
    Đời cứ quen những việc bất lành,
    Do đó tạo muôn ngàn tội ác.
    Đã quen dữ đổi lành khó thật,
    Nhưng cố lòng tập riết sẽ quen;
    Em khá mau đem hết lời khuyên,
    Khuyến người sớm lòng quen đạo lý.
    Chớ thấy khó khăn mà nản chí,
    Thú tập lâu còn múa ra nghề;
    Thì loài người từ chổ vụng về,
    Tập mãi sẽ nên bề khéo léo.
    Nay sự thế đả là mỏng mẻo,
    Khá rèn lòng quen nẻo thiện lương;
    Nếu không tin như giặc cùng đường,
    Xác hồn chẳng còn phương cứu gở.
    Chớ vội nói việc chi không sợ,
    Việc đến nơi hồn vỡ mật tan;
    Quả địa cầu chỉ một tiếng vang,
    Nhơn loại đủ xương tan, thịt nát.
    Bần với phú điều ra tro mạt,
    Mái tranh cùng nốc gạch ra bùn;
    Kiếp trần gian như ấm nước đun,
    Không thấy hết mà lần khô cạn.
    Kẻ lớn nhỏ nên suy cho hản,
    Để lo tu càng sớm càng nên;
    Trên sen đài khi được đề tên,
    Châu báu há dám đem so sánh.
    Mỗi khi nghĩ đến Tây Phương PHật,
    Anh còn nôn muốn đến ở ngay;
    Tại sao người trong cõi trần ai,
    Chẳng lo trở gót hài về đó.
    Chừng ngày Hội Long Hoa mở ngõ,
    Đức Thế Tôn hiện rõ cảnh nầy;
    Để cho người mong ước lâu nay,
    Được thấy rõ ở ngay trước mắt.
    Ngày ấy cũng không còn xa xắc,
    Anh đang chờ góp mặt vào đây;
    Cùng chư tiên thi thố phép tài,
    Rõ công đức của ai nhiều ít.
    Có nhiều Tiên ẩn nơi u tịch,
    Muôn triệu năm cách biệt hồng trần;
    Ngày ấy đều giá hạc đằng vân.
    Xuống thế để chúc mừng Thánh đức,
    Kể sao xiết mùi hương nồng nực,
    Mây đủ màu chói rực mười phương;
    Các Thần Tiên dung mạo khác thường,
    Mây đở gót long lân chầu chực.
    Em cũng gán tạo nên công đức,
    Để cùng anh hiệp mặt chốn nầy;
    Khi ấy em khéo độ gái trai,
    Được đi tới hội nầy cho phỉ.
    Kẻ trung hiếu với người liêm sỉ,
    Cùng hạng người thành ý tu hành;
    Và những người làm phước làm lành,
    Đều có thể đồng sanh tới đó.
    Phần thưởng ấy để dành cho họ,
    Nhắc nhở cho họ nhớ kẻo quên;
    Nói đến đây Đạo sĩ ngâm lên:

    Đến được hội này có mấy ai?
    Nóc đền lợp lấy ngủ tường mây;
    Bên mình Tiên trưởng ra muôn phép,
    Trước ngỏ Thần Tiên hiện đủ oai.
    Thú nói tiếng người không vấp váp,
    Sân chầu sen mọc ngát hương bay;
    Khéo dìu Thiện tín về nơi ấy,
    Em sẽ gặp anh ở hội nầy.

    Đạo sĩ dứt xong bài thơ ấy,
    Ta rằng: xin nhớ lấy y lời;
    Quyết đưa thân nầy với mọi người,
    Đồng đi đến tận nơi hẹn ấy.
    Dù cho có khó khăn đến mấy,
    Vẩn không nao tâm chí đã nguyền;
    Riêng lòng đây sau trước đồng nhiên,
    Chỉ ngại chúng không nguyền một lối.




    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..228..)

    .. Chỉ ngại chúng không nguyền một lối.
    Thảng như thế ngày Rồng mây hội,
    Một thân nầy trơ trọi đến nơi;
    Mặt mũi nào dám ngó chín Trời,
    Và thẹn hổ những lời Ngài dạy.
    Vừa nghe Đạo sĩ liền chận lại,
    Rằng: Em đừng lấy đó làm lo;
    Nếu không thành như sự hẹn hò,
    Lẽ ấy cũng là do người đấy.
    Nếu em đã tận tâm khuyên dạy,
    Chẳng nghe theo lỗi ấy tại người;
    Em lỗi chi mà thẹn chín Trời,
    Cùng anh ngại trước nơi gặp gỡ.
    Nhưng việc ấy chẳng bao giờ có,
    Vì còn nhiều người nhớ đến em;
    Họ đang lo rửa chổ luốc lem,
    Kẻ ấy sẽ cùng em đi tột.
    Nước nhà họ cũng là rường cột,
    Việc tu hành lại rất kỹ cang;
    Họ sẽ đeo cho tới Niết Bàn,
    Em chớ ngại một thân trơ trọi.
    Rất nhiều kẻ có căn thượng cõi,
    Họ nhờ em được hối phần đông;
    Những kẻ nầy trung hiếu đầy lòng,
    Họ sẽ vẹn thỉ chung với đạo.
    Theo anh thấy khí lành tiên báo,
    Ngày chung qui thành đạo nhiều người;
    Em gặp anh với vẻ vui tươi,
    Chớ chẳng phải sầu vơi đâu nhỉ!
    Vậy em chớ quá nên xa nghĩ,
    Nghe hay không tự ý người đời;
    Lòng từ bi cứ nhắc chiều mơi,
    Quên bụi cát quên trời mưa nắng.
    Lấy đạo vị bán mùi cay đắng,
    Thấy thương đời chớ chẳng thấy đau;
    Xưa thơm tho nay vẫn ngọt ngào,
    Tình bác ái chẳng bao giờ mỏn.
    Câu thệ hải sơn minh gìn trọn,
    Quyết độ người khỏi chốn nàn tai;
    Lời thệ kia chẳng kết hình hài,
    Vẫn còn phải chuyển lay không nghỉ.
    Em dụng hết tinh thần ý chí,
    Kiếp nầy dìu hết kẻ thiện duyên;
    Để sau khi qua cuộc biến thiên,
    Em đến động anh thiền một lúc.
    Cõi thế mặc cho người chen chúc,
    Ngày vui qua đến phút khổ sang;
    Đời Thượng Nguơn muôn tuổi lạc nhàn,
    Hạn kỳ hết cũng lần đến khổ.
    Chỉ khi nào về nơi Tịnh độ,
    Mới không còn sự khổ tái hồi;
    Thế nên dù sau cuộc lập đời,
    Đạo PHật vẫn khắp nơi truyền giáo.
    Tuy no ấm tuy đời quí báu,
    Nhưng không ai bận bịu tâm vào;
    Gái cùng trai bất luận người nào,
    Tinh thần cũng vượt cao thường tánh.
    Nhờ đó chẳng ai thèm tranh cạnh,
    Đời sống trong phong cảnh Thần Tiên;
    Cũng lầu vàng các ngọc muôn thiên,
    Chỉ tạo để mà xem chẳng mến.
    Bề trí đạo rất là cao viễn,
    Nên chẳng ai gây chuyện sai lầm;
    Đây thật là thế giới Minh Tâm,
    Người người vẫn nói làm một rập.
    Sẵn hiền đức thêm lòng tu tập,
    Cho nên siêu về PHật phần đông;
    Buồm to thêm gió thuận xuôi dòng,
    Đưa thuyền đến bến trong chóc lát.
    Muốn hái trái có than sẵn bắc,
    Quả đào kia sẽ chắc vào tay;
    Nhờ thế mà người được sang đây,
    Tất sẽ đến được Tây phương PHật.
    Khắp trai gái sao còn mê giấc,
    Khá lo tu để gặp đời tân;
    Say đắm chi các thứ tạm trần,
    Dục chưa mãn kế thân tàn tạ.
    Sự thất vọng nhiều hơn thoả dạ,
    Ai cũng như thế cả khác đâu;
    Nay gặp kỳ thiện ác đáo đầu,
    Nổi buồn khổ càng sâu gấp mấy.
    Người đời nay biết lo hối cải,
    Theo đường lành mới phải khôn ngoan;
    Tuy biết rằng vạn sự đầu nan,
    Nhưng nếu được kiên tâm giai dị.
    Rán chịu khó theo đường đạo lý,
    Cho hồn linh khỏi bị đoạ sa;
    Mọi tai nàn thân được lánh qua,
    Chớ theo mãi cái đà hung dữ.
    Đạo sĩ bèn kệ bài thời sự:

    Trung ương ba tiếng sấm,
    Nghe tiếng gáy phụng hoàng;
    Nhìn trời vừa đúng ngọ,
    PHật vương xuất thế gian.
    Ngày giờ nầy chưa tới,
    Nhơn sanh trong thế giới;
    Còn khổ nạn nhiều bề,
    Không nơi nào tránh khỏi.
    Khắp người trong thiên hạ,
    Lấy phước để trừ hoạ;
    Chớ chữa lửa bằng dầu,
    Xác hồn mau tiêu phá.

    Kệ xong Đạo sĩ liền niệm nhỏ,
    Rồi bỗng nhiên hiện rõ vùng non;
    Từ trong non có một Sơn Thần,
    Mặc áo mũ đàng hoàng bước tới.
    Chào đạo sĩ và ông liền nói:
    Được lịnh trên sắp đổi về Đông;
    Dãy non nầy sẽ hoá đồng không,
    Cảnh xinh đẹp vô cùng khó kể.
    Những người sớm khuya rèn kinh kệ,
    Lòng hiền lương hiếu đễ trung can;
    Sẽ được xem cảnh ấy rõ ràng,
    Ngoài ý của trần gian đã tưởng.
    Ai cũng được ấm no sung sướng,
    Không ai không màn trướng tốt tươi;
    Trải muôn năm mới có một đời,
    Chớ đâu phải mỗi thời mỗi có.
    Dịp nầy nếu khắp người lớn nhỏ,
    Chẳng lo tìm sau khó gặp ra;
    Nơi non nầy nhiều vị Tiên gia,
    Điều xuống thế để mà hoá độ.
    Các vị chẳng nài thân lao khổ,
    Len lỏi trong khắp chỗ trần gian;
    Quyết độ đời khỏi cảnh lầm than,
    Lo tu niệm dứt đàng sanh tử.
    Đại hội đồng các Tiên đã dự,
    Cuộc biến thiên lành dữ thế nào;
    Được biết rành mọi việc trước sau,
    Nên lòng quá xót đau hạ giới.
    Mới đành tách chơn ra khỏi núi,
    Lâm trần gian chỉ lối tu hành;
    Rất mong cho khắp cả chúng sanh,
    Lo bỏ dữ về lành cho sớm.
    Để sau cuộc nạn tai ghê gớm
    Sắp nổi ra khắp chốn cùng nơi;
    Sự thảm thê khó kể hết lời,
    Phía tây của ngọn đồi kế đấy.
    Có nhiều loại thú cầm kỳ quái,
    Rất hung hăng không loại nào bì;
    Đến thời kỳ chúng nó ra đi,
    Ăn xé kẻ bất tri nhơn nghĩa.
    Ai gặp nó cũng bay hồn vía,
    Nhưng nó không hại kẻ lương hiền;
    Ấy là do lịnh của Hoàng Thiên,
    Trị tội kẻ không kiêng Trời đất.
    Không hiếu để chẳng lòng trung trực,
    Cho hùm tha, sấu bắt cũng vừa;
    Kẻ ở ăn ngay thảo sớm trưa,
    Chúng thú sẽ đưa lung cho cỡi.
    Ấy phần thưởng người tròn đạo ngỡi,
    Qua biển sông vượt lối núi rừng;
    Nói đến đây ông bỗng liền ngưng,
    Rồi lại tiếp kệ lên oai khí:
    Kẻ ngồi trên sư tử,
    Người lại ngự chim bằng;
    Thiếu chi ông cỡi cọp,
    Nhiều vị ngồi trên lân.


    (Hết trang 232..)

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:18 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:17 PM ----------


    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.
    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..233)
    Kẻ ngồi trên sư tử,
    Người lại ngự chim bằng;
    Thiếu chi ông cỡi cọp,
    Nhiều vị ngồi trên lân.
    Ai cũng đều nghiêm chỉnh,
    Đến dự hội Phong Thần;
    Chim mừng kêu ríu rít,
    Hoa cảm nở rộ rần.
    Chính Thần khi nghĩ đến,
    Lòng hoan hỷ muôn phần;
    Ước mong người hạ giới,
    Đồng gắng sức lập thân.
    Nếu không siêu về PHật,
    Cũng rán được quy Thần;
    Làm hiền chớ làm dữ,
    Để xem cõi Thượng Nguơn.
    Thần chỉ biết nhiêu đó,
    Không còn biết chi hơn;
    Xin chúc cho nhị vị,
    Duyên muôn năm sớm gần.
    Dứt kệ xong Sơn Thần biến mất,
    Đạo sĩ liền đưa mắt ngó ta;
    Rằng: Sơn Thần đã nói vừa qua,
    Em lãnh hội gần xa được chớ?
    Xưa có một người vào non ở,
    Sớm khuya lo chuông mõ tu hành;
    Sự tương rau trai giới chặt gìn,
    Lòng hằng muốn thác sanh cõi PHật.
    Nhưng lửa giận trong lòng chưa dứt,
    Thường hay phiền những vật trái lòng;
    Một hôm kia có một bò đồng,
    Phá đám rẫy ông trồng rất tốt.
    Lòng ông phát nóng lên như đốt,
    Rượt đánh bò gần chết mới thôi;
    Sau ít ngày ông lánh cõi đời,
    Hồn được hoá Thần ngồi giữ núi.
    Muốn về PHật mà lòng chưa nguội,
    Phạm tội gần như tội sát sanh;
    Thế cho nên quả PHật chẳng thành,
    Làm Thần cứ đi quanh theo núi,
    Chính là vị Thần vừa mới tới,
    Sắp đến ngày phải đổi về Đông;
    Bởi dãy non nầy sẽ hoá không,
    Mọc trở lại phương Đông rất đẹp.
    Cả vạn vật cứ luôn tan hiệp,
    Thợ Trời ông khéo sắp đặt ra;
    Cuộc đổi dời ở một lần ba,
    Quá lớn đến quỉ ma cũng biết.
    Sự có thật chớ sao nguỵ thuyết,
    Khắp chúng sanh nên quyết lòng tin;
    Để sớm khuya hương nước gắng gìn,
    Ngó bốn hướng lòng thành khấn PHật.
    Cầu hồn được về An dưỡng quốc,
    Độ xác thân qua cuộc đại nàn;
    Làm hiền lương đâu tốn bạc vàng,
    Mà lại được khỏi mang ác báo.
    Con cái nhớ gìn câu hiếu thảo,
    Vợ chồng cho phải đạo xướng tuỳ;
    Người đối nhau cần biết lễ nghi,
    Sự tốt đẹp còn chi hơn được.
    Người đời chẳng chịu suy sao trước,
    Tạo làm chi những cuộc bất hoà;
    Mãn kiếp rồi cũng hoá ra ma,
    Hơn người cũng chỉ là hơn tạm.
    Nay nhằm lúc gió mưa u ám,
    Ổ chim đời khó bám trên cây;
    Cuộc xoay vần rày đó mai đây,
    Giàu nghèo có mấy ai cầm chắc.
    Nên đem những mồ hôi nước mắt,
    Rửa bụi tâm hơn tát vào đời;
    Phải sớm lo kịp hội nay mơi,
    Cửa Tiên PHật định đời tội phước.
    Tuổi sống lâu thân lo ấm được,
    Nếu ai mà có ước trong lòng;
    "Hãy lo tu" sẽ thoả dạ lòng;
    Lời PHật Thánh vẫn không dối gạt.
    Cố đèn sách tất ngày đỗ đạt,
    Có trồng thì sẽ chắc có ăn;
    Gái cùng trai khá giữ đạo hằng,
    Chớ đem dạ ngại ngùng sè sụt.
    Em khá dụng đủ lời kêu thúc,
    Khiến cho người bỏ tục tầm Tiên;
    Cõi hồng trần muôn thảm ngàn phiền,
    Khá tỉnh thức chớ nên ngủ mãi.
    Chừng gặp cuộc tang điền thương hải,
    Có vật chi tồn tại được đâu;
    Chi bằng mau tìm kiếm đạo mầu,
    Thân dù mất hồn đâu dễ mất.
    Huống chi nếu được nhiều âm chất,
    Sẽ được như rắn lột không chừng;
    Thân vạn niên ở cõi trường xuân,
    Quí báu có chi cân cho xứng.
    Trên đường đạo lắm người lựng khựng,
    Nửa muốn lui nửa muốn tiến đi;
    Tâm trí không rõ rệt quyết kỳ,
    Ngày rốt cuộc chẳng chi nên cả.
    Anh càng thấy càng thêm xót dạ,
    Hạng ấy như gói giá ấy thôi;
    Nằm trong bao nứt mộng đâm chồi,
    Không phân bón không trời mưa nắng.
    Trái bông chẳng bao giờ sanh đặng,
    Mạng căn kia tiếc uổng dường bao;
    Em khéo nhiều lời ví thấp cao,
    Cứu vớt kẻ vàng thau chưa rõ.
    Em gọi được cơn mê của họ,
    Công đức kia lớn có chi bằng;
    Nếu sau nầy họ được siêu thăng,
    Độ được cả thân bằng quyến thuộc.
    Nêu cao một tấm gương sáng suốt,
    Quí báu nầy châu ngọc đâu so;
    Nhiệm vụ nầy em khá âu lo,
    Chầy kíp cũng phải lo hoàn tất.
    Tuy anh ở động trung tịch khuất,
    Nhưng phải đâu ẩn dật tỵ trần;
    Anh luôn dùng đến lối phân thân,
    Cho đi khắp xa gần độ thế.
    Về phương tiện kiến nguy chi tế,
    Có phút nào anh để cho quên;
    Lòng đâu màng ai biết đến tên,
    Miễn cứu được người hiền là quí.
    Em đã được cùng anh một chí,
    Khiến duyên xưa mùi vị thêm nồng;
    Khi thấy em định bỏ thân hồng,
    Làm anh phải bôn chôn lai viếng.
    Trễ một chút mảnh gương nát biến,
    Rồi làm sao hàn gắn cho nguyên;
    Thấy việc em, anh chẳng ngồi yên,
    Mối tình cả vạn niên còn đấy.
    Xưa cha đẻ lắm lời khuyên dạy,
    Rằng: anh em bây hãy thương nhau,
    Thằng Kết khuyên thằng Cấu nghe vào,
    Hai đứa khá dạy nhau mọi việc.
    Được như thế cha dù có chết,
    Lấy làm vui chẳng tiếc hận chi;
    Lời của cha quí báu dường ni,
    Lòng anh vẫn luôn ghi nhớ mãi.
    Vậy em khá cùng anh nhớ lại,
    Làm theo lời cha dạy khi xưa;
    Muôn năm qua như kiếp hiện giờ,
    Tình huynh đệ vẫn là có một.
    Điều phải chẳng dạy nhau ráo rốt,
    Quyết khơi nguồn đạo đức khắp nơi;
    Để làm cho tấc cả người đời,
    Ai đều cũng nên người lương thiện.
    Còn Trời đất còn non nước biển,
    Tình đệ huynh còn mến nhau luôn;
    Trong PHật đài anh trống, em chuông,
    Giục thúc kẻ trên giường mê mộng.
    Họ chết cả mình đâu vui sống,
    Họ cùng mình dòng giống không hai;
    Họ nhơn loài mình cũng nhơn loài,
    Rất quan hệ như cây với lá.
    Giúp họ tức giúp mình không lạ,
    Huống chi là sẵn dạ từ bi;
    Giúp họ riêng mình có tiếc gì,
    Nguyện sao lấp cạn đi biển khổ.
    Để cho cả nử, nam lớn nhỏ,
    Ai cũng luôn được có an vui;
    Khắp nơi đều đạo đức nặc mùi,
    Không còn thấy một nơi nào khổ.
    Ách nước không, tai trời chẳng có,
    Không nghe ai làm khó cho ai;
    Trên thanh liêm dưới rất thẳng ngay,
    Trong khuôn khép và ngoài lễ nghĩa.
    Ai cũng tự gương lòng trau trỉa,
    Biết thẹn khi lầm lỡ điều gì;
    Cảnh nầy chừng nào được hiện y,
    Lòng của kẻ từ bi mới thoả.
    Người được ở ăn như thế cả,
    Cõi tục liền được hoá nên Tiên;
    Không tử sanh không sự não phiền,
    Đâu đâu cũng ổn yên nhàn nhã.
    Ngày ấy phải làm cho kết quả,
    Em cũng nên tuyên hứa cùng anh;
    Cõi Lạc An cố tạo cho thành,
    Để cho khắp dân lành được hưởng.
    Nếu chưa được nên như ý tưởng,
    Còn xông pha liệu lượng chưa thôi;
    Vui cho thân gió bụi tô giồi,
    Miễn sanh chúng được hồi An Lạc.
    Ta liền cúi đầu xin ghi tạc,
    Thân tâm nầy trút hết cho đời;
    Cảnh Lạc An chừng được xong rồi,
    Đây mới chịu yên ngồi bàn thạch.
    Đạo sĩ liền chỉ tay vào vách,
    Một vị Thần hiện bước ra chào;
    Đạo sĩ rằng: lời hứa thế nào,
    Nhà ngươi đã trước sau nghe rõ.
    Hãy làm chứng cho lời hứa đó,
    Vị Thần rằng: xin nhớ y lời;
    Nói xong rồi chơn nọ vừa lui,
    Vừa biến hoá tự hồi nào mất.
    Đạo sĩ rằng : chớ nên sai thất,
    Có thần minh chứng thật hẳn hoi;
    Ngày giờ qua mau lẹ như thoi,
    Ý nguyện chớ để trôi một khắc.
    *Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.
    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..239..)
    .. Ý nguyện chớ để trôi một khắc.
    Cuộc thế biến đổi trong nháy mắt,
    Có rồi không, không lập thành hình;
    Đò từ bi chực rước chúng sinh,
    Không để khách hữu tình huốt đỏi.
    Đạo sĩ liền kệ lên inh ỏi :
    Muốn nên được vách lầu,
    Nhờ nhiều gạch kết câu;
    Rừng sâu một ngọn đuốc,
    Khó rọi sáng khắp đâu.
    Nếu không chư Bồ tát,
    Lời PHật chẳng truyền sâu;
    Thảng anh không đến sớm,
    Em đã rút nhịp cầu,
    Không em đương tại thế,
    Lời anh gởi vào đâu;
    Chơn duyên đâu dễ có,
    Có được quí hơn châu.
    Đường xa chở đông khách,
    Xe được có hai trâu;
    Chắc chắn về đến chốn,
    Như ý nguyện không lâu.
    Đạo không người truyền bá,
    Đâu lan khắp địa cầu;
    Anh mừng em bỉnh chí,
    Trên đường rải đạo mầu.
    Công đức ngày càng lớn,
    Bảy báu dám so đâu;
    Chúng sanh tuy hiện khổ,
    Được nghe rõ lời châu.
    Đâu vui và đâu khổ,
    Siêu, đoạ hản đuôi đầu;
    Tiền nhiều đầy học tủ,
    Khó đổi đạo một câu.
    Thường tự do nghe pháp,
    Tiền bạc chẳng bị thâu;
    Nữ, nam sao lại chẳng,
    Hoan hỷ để tu cầu
    Tu được hưởng phước lạc,
    Hiện tại và ngày sau;
    Lời nói trong tình thật,
    Không dối gạt ai đâu.
    Khắp làng quê chợ búa,
    Khá chiêm nghiệm từ câu;
    Đừng chỉ nghe thấp thố,
    Vội le lưỡi, lắc đầu.
    Khi gặp mà không thấy,
    Qua rồi kiếm được đâu;
    Rán lo tu cần kíp,
    Chớ để dạ cơ cầu.
    Cuộc đời chừng đến việc,
    Trăm thảm với ngàn sầu;
    Cơm sẽ không đủ bữa,
    Nước chẳng thấm ướt hầu.
    Sao người không tính trước,
    Chưởng phước để dành sau;
    Anh mỗi khi tưởng tới,
    Bắt thương hại dường bao.
    Vậy những lời anh nói,
    Em nên nhớ ghi vào;
    Để tuỳ phương dắt chúng,
    Ra khỏi cảnh đồ lao;
    Lo gấp đừng để trễ,
    Cánh gà vàng bay mau.
    Ta rằng : những lời nào Ngài dạy,
    Đây xin nuôi dưỡng mãi trong lòng;
    Có dịp liền đem chúng phổ thông,
    Cho khắp kẻ xa gần được biết.
    Tánh thô bạo nếu người trừ diệt,
    Ấy là do ân đức của Ngài;
    Phận hèn nầy thuyền khẳm tát tay,
    Việc chẳng thấm vào đâu cho mấy.
    Bẩm tánh đã vốn yêu nhân loại,
    Được hay không vẫn phải lo nôn;
    Gày như đêm cứ mãi bôn chôn,
    Lo đến nổi phổi tim bầm giập.
    Muốn bỏ xác vì câu tái lập,
    Chớ tình yêu vạn vật đâu quên;
    Nay được Ngài dạy rõ hư nên,
    Tình yêu ấy càng thêm rộng lớn.
    Chừng nào rửa sạch đời nhơ bợn,
    Thì lòng nầy mới đặng yên vui;
    Ngày nào còn có kẻ ngược xuôi,
    Đây còn phải tới lui chỉ dạy.
    Ước gì chẳng gặp điều trở ngại,
    Để tình yêu nầy rải gieo xa;
    Mọi việc luôn nhờ Đức PHật đà,
    Đã dạy dỗ gần xa cặn kẽ.
    Khiến tinh thần đây thêm mạnh mẽ,
    Không cảnh nào bàng bẽ được lòng;
    Hồn thường đêm gần gũi PHật ông,
    Được truyền hoá tấm lòng từ ái.
    Dù sống thác vẫn thương nhơn loại,
    Độ đến khi trai gái đồng thành;
    Thì lòng đây mới dứt đường sanh,
    Cùng chư PHật đồng yên cõi tịnh.
    Những danh lợi với câu chung đỉnh,
    Lòng đây không bận đến điều nào;
    Rất coi thường chức trọng, quyền cao,
    Chỉ quí trọng tình yêu nhơn loại.
    Lao khổ mấy cũng đeo nó mãi,
    Vui hy sanh cả thảy mọi điều;
    Đạo sĩ rằng : ý nguyện cao siêu,
    Đáng cho chúng noi theo đòi bữa.
    Nếu ai cũng như em xem sửa,
    Cõi đời không bao thuở lao lung;
    Em khá đeo lòng ấy đến cùng,
    Với chư PHật vốn không sai khác.
    Rán cho ý nguyện kia thành đạt,
    Để khắp nơi được bớt âu sầu;
    Khi gái trai đồng biết đạo mầu,
    Tự trị lấy chẳng cầu ai trị.
    Không ra oai mà an thành thị,
    Không dụng quyền vẫn trị thôn hương;
    Ai cũng đồng đi có một đường,
    Thương người cũng như thương mình vậy.
    Lo làm phải không vui làm quấy,
    Thấy hại người như hại lấy mình;
    Dưới trên cùng đồng khí đồng thinh,
    Chung sức tạo hoà bình no ấm.
    Mùi đạo khắp người đồng nhuần thắm,
    Nói với làm tất chẳng trái nhau;
    Không như người chỉ thếp ra màu,
    Chẳng thành thật theo câu đạo lý.
    Vì lẽ chẳng trừ xong tệ ý,
    Cảnh dễ xui lòng khởi việc tà;
    Hễ khi nào thuận cảnh đưa ra,
    Ý xấu chụp như gà gặp thóc.
    Chỉ mé nhánh không đào tận gốc,
    Mé bao nhiêu càng mọc bấy nhiêu;
    Tâm ý là mẹ đẻ các điều,
    Nó xấu khiến bao nhiêu đều xấu.
    Thói giả dối khó phương che giấu,
    Sớm muộn gì cũng lộ ra ngoài;
    Cho nên phường loè sự lạc chay,
    Thường hay bị kẻ ngoài bắt gặp.
    Làm lấy có chớ không thật tập,
    Dù việc chi cũng thất bại luôn;
    Nên sự tu chớ có làm tuồng,
    Phải thành thật từ trong tim não.
    Khỏi bị người lột trần mũ áo,
    Lại có ngày quả đạo tay thâu;
    Khiến quỉ thần đều phải khấu đầu,
    Nghiệp sanh tử còn đâu lai vãng.
    Cõi thanh tịnh vui câu trường mạng,
    Hết lo ai trả oán, báo thù;
    Thật quí thay người được chơn tu,
    Khổ một thuở nhàn du vĩnh kiếp.
    Vậy em lựa phải cơ phải dịp,
    Đem lời nầy khuyên khắp nhơn sanh;
    Rán hướng theo PHật pháp tu hành,
    Bớt lo lối cạnh tranh bất thiện.
    Dù người có tạo tành lắm chuyện,
    Cũng đổ theo cảnh biến không còn;
    Của thế thời bị thế thời mòn,
    Sản vật vẫn là con thời thế.
    Luống công dụng đến muôn xảo kế,
    Thân mất đi hoặc thế đổi dời;
    Mọi vật trong tay thảy đều rời,
    Cảnh giả dối giống nơi cảnh mộng.
    (Hết trang 243.,)

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:19 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:18 PM ----------


    **Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..244..)


    .. Cảnh giả dối khác chi cảnh mọng.
    Nghiệm xét kỹ lấy làm bi thống,
    Làm nhiều nhưng thường chẳng bao nhiêu;
    Phước ít, song phần tội thì nhiều,
    Cứ luân chuyển mãi theo nghiệp tạo.
    Thường gánh chịu ngàn muôn ác báo,
    Kể sao cùng sự não khổ thân;
    Đứng ngoài xem thấy rõ kiếp trần,
    Lòng Tiên PHật bội phần thương xót.
    Nếu ai cảnh khổ chưa thoát lọt,
    Thời kỳ nầy nên biết lo tu;
    Ngày giờ không nán để ngao du,
    Chớ lần lựa việc nào cũng hỏng.
    Đời chẳng giữ bền câu danh vọng,
    Đạo không thông đến chốn cơ huyền;
    Tục chẳng rồi Tiên lỡ hội Tiên,
    Hết lời để tả nên khổ ấy.
    Đúng như PHật đả cho em thấy,
    Khổ cuối đời trong đại thọ gương;
    Người đời tuy chưa thấy tận tường,
    Nhưng lắm kẻ đã thường nghe tới.
    Nếu chẳng chịu ăn năn chừa lỗi,
    Chừng đáo đầu tiếc hối muộn màng;
    Giờ nầy trong khắp cõi thế gian,
    Còn tu được khá toan liệu gấp.
    Việc lần mỏn như cây nến thắp,
    PHật Tiên không dối gạc người đời;
    Rán để tâm nghiên cứu cạn lời,
    Hầu tìm hiểu được nơi đáng hiểu.
    Bỏ những việc không nên liệu điệu,
    Để nghiệp không trì níu được mình;
    Được tự do đến cõi bất sinh,
    Ngày nào cũng ninh bình khoái lạc.
    Không bị ép trong đường sống thác,
    Tâm hồn vui thân được nhẹ nhàng;
    Quả đất nầy dù có nát tan,
    Thân cũng chẳng luỵ mang tai khổ.
    Riêng phần được hoàn toàn siêu độ,
    Sức còn thừa để phổ cứu người;
    Có phải chăng là việc tốt tươi,
    Đáng thi thiết đáng nơi học hỏi.
    Vậy em rán ra công kêu gọi,
    Kẻo người không nghĩ tới đoạn nầy;
    Đạo sĩ liền cất giọng khoai thai,
    Ngâm liên tiếp hai bài tứ tuyệt;

    Vật nặng không thuyền khó quá giang,
    Nghiệp sâu không PHật cứu sao an;
    Chúng sanh khắp cõi Ta Bà khổ,
    Nên hiểu lo tu kẻo muộn màng.
    Lạc nẻo được người chỉ dắt cho,
    Há không mừng rỡ để theo dò;
    Người qua bóng khuất không trông thấy,
    Khổ ấy người sao chẳng xét đo.


    Vừa trách thiện vừa là khuyến dạy,
    Khiến lòng ta kính ái thêm hơn;
    Cúi mình rằng lời của chơn nhơn,
    Rất chí lý đáng vâng truyền tụng.
    Đây xin hứa nói ra khắp chúng,
    Khiến cho ai đều cũng được nghe;
    Đạo sĩ rằng : nhưng phải dặt dè,
    Lựa phải lúc nói ra mới quí.
    Đừng để chúng lầm rằng lời nguỵ,
    Làm cho mùi đạo lý mất thanh;
    Lúc hiếm hoi người mới mua giành,
    Khi ế đọng họ đành ngó lảng.
    Lựa chổ có người thường lai vãng,
    Để ra công lập quán bán hàng;
    Đừng đợi sau khi bụng no rang,
    Mới đem dọn đầy bàn vô ích.
    Đâu đợi phải có nhiều cá thịt,
    Lúc đói dù muối cục cũng ngon;
    Em lấy đây định việc mất còn,
    Nên hư chỉ một cơn nầy đấy.
    Ta rằng : xin vâng theo ý ấy,
    Đắt bán ra ế đậy cất vào;
    Thiếu thì thêm dư bớt ra mau,
    Không gánh củi trở vào rừng núi.
    Mọi việc phải xem theo thời buổi,
    Để không cho lỡ tối lỡ trưa;
    Việc làm chi cũng phải cho vừa,
    Vừa sở nguyện vừa cơ tạo hoá.
    Cứ như thế mở đường đạo cả,
    Sẽ không lầm sai có phải chăng;
    Đạo sĩ rằng : ý rất thâm hoằng,
    Cứ theo đó mà hành thì đúng.
    Ta rằng; nhưng còn lo cho chúng,
    Nhạc tuy hay mà chẳng biết nghe;
    Cho rằng như tiếng hát tiếng ve,
    Như thế rất tiếc cho bài bản.
    Đạo sĩ rằng : người đâu một hạng,
    Trong mười người tất đặng năm ba;
    Nhạc dở hay được biết phân ra,
    Họ biết cảm khi hoà đúng nhịp,
    Đưa hồn người đến tột trời xanh;
    Quên hết bao mưu mẹo bất lành,
    Sống trở lại với tình trăng nước.
    Em còn nhớ hơn mười năm trước,
    Đang lúc em ngồi chuốt cung tên;
    Nghe bên tai có tiếng nói lên,
    Nhắm cho đúng hồng tim mà bắn.
    Ấy là lời cụ già khéo dặn,
    Trong số đông có hạng thiện căn;
    Rán tìm ra để độ siêu thăng,
    Ví như kẻ bắn cung thiện nghệ.
    Ta rằng : ta có nghe như thế,
    Không thấy ai đứng kế bên mình;
    Việc thường nghe nên lấy làm tin,
    Cứ một mực nhắm nền đạo lý.
    Đạo sĩ rằng : lời như PHật chỉ,
    Một câu nhưng nhiều ý ẩn vào;
    Huệ ít nhiều thành hiểu khác nhau,
    Chung quy cũng đồng vào cửa đạo.
    Theo em hiểu nghĩa lời cụ lão,
    Ấy về phần "Tiến đạo tự thân";
    Còn về anh vừa mới tố trần,
    Nghĩa ấy vốn thuộc phần " nhiếp hoá".
    Hai nghĩa cũng đi về đạo cả,
    Độ mình rồi độ kẻ đồng siêu;
    Sông rạch tuy là ngánh ra nhiều,
    Cũng nơi biển chảy nào đâu khác.
    Lý của em cứ ôm gìn chặt,
    Không trái ngang sai lạc đừng lo;
    Nhưng buổi qua tới lúc hiện giờ,
    Phận sự khác thời cơ củng khác.
    Buổi qua ở trong phần tự giác,
    Còn hiện giờ đến lượt giác tha;
    Đúng theo lời dạy của cụ già,
    Mũi tên phải bắn ra cho trúng.
    Em khá nghĩ cách nào độ chúng,
    Đừng để cho mất giống hiền nhân;
    Anh non đài không thể ngồi trân,
    Cũng vì lẽ thương dân còn khổ.
    Mượn thần thông hiện ngay tới chỗ,
    Đễ cùng em phân tỏ ngọn ngành;
    Đừng vội rời bỏ xác tuổi xanh,
    Hãy mượn nó đễ minh đạo lý.
    Việc rất gấp không còn hồ mị,
    Chẳng sớm lo để trễ hết lo;
    Sẵn gươm thần lại sẵn có đò,
    Không rước khách còn chờ chi nữa.
    Trên đường lộ lại thêm có ngựa,
    Sự tiến lui đây đó tiện bề;
    Há không lo cứu gấp người mê,
    Qua khỏi chốn ủ ê thảm não.
    Anh còn quên một điều quí báu,
    Mười năm qua ngay dạo ban trưa;
    Bất ngờ em đã gặp mẹ xưa,
    Đã chỉ giáo thời cơ lắm việc.
    Biết bao lẽ bi ai thống thiết,
    Mẹ đã đem nói hết cho em;
    Tuy động trung anh đã được xem,
    Vừa thấy mẹ và em cả thảy.
    Lòng anh rất vô cùng kính ái,
    Xưa mẹ tâm rộng rãi vô biên;
    Thường giúp người đói lạnh cươm tiền,
    Thời buổi ấy xóm diềng đều mến.
    Mẹ mộ đạo vốn không bờ bến,
    Nhờ thế mà đạt đến PHật đài;
    Vậy khi nào thuận tiện giờ ngày,
    Em đem hết những lời mẹ dạy.
    Nào sanh tử nào câu thành bại,
    Kể ra cho cả thảy được nghe;
    Nay việc đời đã mỏng tợ the,
    Không còn phải dấu che chi nữa.


    (Hết trang 248..)





    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..249..)

    .. Không còn phải dấu che chi nữa.
    Lời của mẹ ngọt như mật sữa,
    Nếu em đem kể rõ cho đời;
    Chắc sẽ là cảm được nhiều người,
    Bỏ hung ác theo nơi lương thiện.
    Mặc dù đã muôn năm cách viễn,
    Anh không hề quên tiếng mẹ xưa;
    Nhân duyên nầy đâu phải dễ mua,
    Em khá nhớ đừng ngơ phút chốc.
    Nghe Đạo sĩ nhắc ta liền khóc,
    Việc ấy là có thật không sai;
    Những lời khuyên tao nhã thanh bai,
    Còn văng vẳng bên tai ta đấy.
    Rằm tháng mười chính là ngày ấy,
    Câu chuyện kia hiện lại cho ta;
    Xin hẹn cùng lớn nhỏ trẻ già,
    Việc ấy sẽ kể ra kỳ tới.
    Ta vừa nghĩ vừa tuôn mắt xối,
    Rằng lâu rồi nào phải mới đây;
    Nhưng xét vì chưa tiện để bày,
    Nên chẳng kể cho ai được biết.
    Nhưng lòng vẫn chờ khi xuôi việc,
    Đem kể ra cho hết ngọn ngành;
    Để người Nam Bắc được biết rành,
    May ra có xuôi tình đạo đức.
    Đạo sĩ rằng : người đang chờ chực,
    Nên nói ra hơn cất vào lòng;
    Đành rằng khi thuận nước xuôi dòng,
    Sẽ dễ nói rộng trong khắp chúng.
    Nhưng việc gấp như thoàn đã lủng,
    Nên nói mau hơn ngóng chờ thời;
    Nếu cuộc đời còn thấy xa vời,
    Anh chưa đến tận nơi em đấy.
    Vui cho em bỏ thân gầy ấy,
    Để đổi thân khác phải tốt chăng?
    Anh xuống đây vì lẽ thấy rằng;
    Sự thế chẳng dùng dằng được nữa.
    Làm cho tột chớ nên mưa mứa,
    Được hay không một búa nầy thôi;
    Thế nên anh mới dụng hết lời,
    Khuyên em tiếp tục nơi phổ hoá.
    Lo gấp tợ chữa nhà phát hoả,
    Trễ một giờ sẽ hoá đồng bằng;
    Rán thương người còn chút thiện căn,
    Lo cứu hộ khỏi tan hồn xác.
    Mùi đạo được thơm ra bát ngát,
    Cũng ở trong thời cuộc nầy đây;
    Những kẻ làm vinh diệu PHật đài,
    Em vốn cũng một tay trong ấy.
    Có một hôm em nằm ngó thấy,
    Trong đồng hoang cỏ dại minh mông;
    Một bụi sen đứng tợ trời trồng,
    Em vừa đến một bông liền nở.
    Hoa có vẻ tươi cười mừng rỡ,
    Như tớ kia gặp chủ xa đàng;
    Ấy điềm lành để báo trước rằng;
    Em nên đạo trong cơn loạn lạc.
    Việc đã đúng như điềm chẳng khác,
    Em vẫn còn nhớ chắc phải không;
    Ta rằng : đâu quên được trong lòng,
    Việc mầu ấy vô cùng khích lệ.
    Nguyên do sau khi đây phát thệ,
    Như những điều đã kể trước đây;
    Thì liền đêm ấy được thấy ngay,
    Đúng như chuyện của người vừa kể.
    Trong đồng cỏ âu sầu hoang phế,
    Một bụi sen được ló cao lên;
    Khi đây vừa đến kế một bên,
    Thì hoa lại trổ liền lập tức.
    Mùi thơm tho bay ra nồng nực,
    Khiến cho bao thảo vật chung quanh;
    Như cảm lây mùi vị thơm lành,
    Vẻ ủ dột đổi thành tươi tắn.
    Thấy việc đã chưa từng thấy đặng,
    Khiến lòng đây vô hạn vui mừng;
    Ngọn gió từ đâu quét vào thân,
    Đây liền thức nhưng lòng còn tiếc.
    Đạo sĩ rằng : diệu huyền khó biết,
    Điềm ấy do phép Đức Như Lai;
    Vừa cho em hiểu phận sau nầy,
    Vừa khiến để miệt mài thêm nữa.
    Nếu chẳng gắng trau tria thường bữa,
    Sẽ khô lần như cỏ xung quanh;
    Đức từ bi khéo hiện điềm lành,
    Không phải kẻ tu hành khó hiểu.
    PHật thương chúng sanh hằng muôn triệu,
    Chúng sanh không một nhểu biết ơn;
    Lòng bạc đen còn có chi hơn,
    Vì thế cứ đoạ luôn cõi khổ.
    Thùng rác sắp đến ngày đem đổ,
    Cũng chưa vui rời bỏ cho an;
    Đợi đến khi ra đống tro tàn,
    Chừng ấy mới ăn năn sao kịp.
    Muốn khỏi hoạ chính nay nhằm dịp,
    Rán mà lo kẻo huốt trôi qua;
    Em khá đem ví dụ gần xa,
    Khuyên trần thế rán mau cải quá.
    Nay còn có thể làm công quả,
    Thì nên lo chớ khá biếng lười;
    Chịu khó làm hiền đức tốt tươi,
    Sau được hưởng yên nơi yên chỗ.
    Hơn thua cũng đi về tử lộ,
    Tạo làm chi những thứ bất lương;
    Cũng cần đem hết trí duy lường,
    Để sớm có mở đường giải thoát.
    Thấy bá tánh lòng còn bạc ác,
    Xem thường lời Tiên PHật dạy khuyên;
    Quá thương thành đến phải trách phiền,
    Muốn nín lặng ngồi yên sơn động.
    Nhưng không nở đứng xa để ngóng,
    Cảnh đê mê của chúng nay mai;
    Nếu cố tình chấp kẻ mê say,
    Bụng dạ khác chi người dương thế.
    Huống chi đã trải muôn thế hệ,
    Vẫn không quên cứu tế các loài;
    Nên mới dùng đến phép phi hài,
    Qua lại khắp trần ai độ chúng.
    Cơ Trời đất khéo xoay rất đúng,
    Anh gặp em trong chốn hồng gian;
    Rồi từ đây phải rẽ đôi phang,
    Mỗi người mỗi nơi toan việc đạo.
    Câu thế giới" liên dây hoà hảo"
    Em khá lo chu đáo mọi bề;
    Mang ân Thầy chi xiết nặng nề,
    Rán trả chớ bỏ bê lỡ dở.
    Chừng khi được rảnh rang nần nợ,
    Lòng mới yên đây đó ngao du;
    Mọi việc còn trong cảnh rối bù,
    Há lơ lảng cho đâu hỏng đấy.
    Sao Trời mắt khi trông ngó thấy,
    Vận toàn thân để nhảy khỏi bồn;
    Không lo trường ra đến mé cồn,
    Thân đâu khỏi bị chôn trong chảo.
    Người lòng đã biết tin theo đạo,
    Rán tiến lên chớ ngáo ngơ lòng;
    Kẻ nào đường PHật pháp chưa thông,
    Xin hảy rán ra công học hỏi.
    Em cố nhớ hết lời anh nói,
    Để khuyên người còn tối việc tu;
    Ngọn đèn trần càng lúc càng lu,
    Cảnh tăm tối có đâu tránh khỏi.
    Lớp ma giật lớp người cùm trói,
    Kể sao cho hết nỗi thiết tha;
    Nói đến đây Đạo sĩ chan oà,
    Rằng : em nhớ mười ba năm trước.
    Đang trong lúc em ngồi uống nước,
    Bỗng nhiên nghe trong ruột bàng hoàng;
    Bỏ đi nằm liền phát mơ màng,
    Có một vị mình vàng hiện tới.
    Rằng có sự liên quan thế giới,
    Rồi dắt em đi tới Kiều Xà;
    Khi đến nơi đã chật người ta,


    ( hết.. Trang.. 253..)

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:21 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:19 PM ----------


    *Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Vạn Niên Huynh Đệ ( Trang..254..)

    Kẻ kêu khó người la inh ỏi.
    Hai bên lộ núi cao vòi vọi,
    Trước mặt thì cầu nổi ngang sông;
    Phía sau đầy thú dữ lửa hồng,
    Chỉ độc đạo chớ không nẻo khác.
    Ai cũng phải xô nhau ồ ạt,
    Để qua cầu hầu thoát khỏi nàn;
    Nhưng dưới cầu rắn độc làng khang,
    Nếu ngoài điều nhắm mắt chạy ngang.
    Không còn cách nào hơn nữa được,
    Ván cầu vì quá nên trơn nhớt,
    Nên nhiều người bị trợt xuống sông;
    Hầu hết đều bị rắn mạng vong,
    Cảnh thê thảm nói không hết được.
    Em có hiểu những người đã trợt,
    Họ thuộc vào hàng bực nào không;
    Ấy hạng người ăn ở hai lòng,
    Ngoài lương thiện mà trong ác đức. Nên phải bị rắn kia cắn rứt,
    Vừa với tâm ác độc đang mang;
    Cầu ấy khi người bước qua ngang,
    Nếu ác đức mắt liền bị choá.
    Chơn rung lên không phương kềm toả,
    Sức mạnh bao cũng ngã tức thì;
    Trái lại người hiền đức cứ đi,
    Cũng như lộ thường khi chẳng khác.
    Người thiện chẳng giống như kẻ ác,
    Có khí lành xông khắp cả thân;
    Khiến quỉ ma không dám đến gần,
    Loài rắn rích cũng không nhiễu hại.
    Em nghĩ sao? Cây cầu rắn ấy,
    Do người hai lòng mới có ra;
    Có luôn loài hung dữ độc xà,
    Mọi việc tại nghiệp mà thành có.
    Người hung với người hiền đồng ngó,
    Kẻ hung thì thấy có rắn đầy;
    Còn người hiền thấy nước với cây,
    Sự thấy ấy vẫn sai nhau cả.
    Như dụi mắt thấy lằn lửa nhoá,
    Chẳng dụi thì không có thấy chi;
    Thấy rắn hay không cũng thế ni,
    Cứ lấy đó mà suy thì hiểu.
    Còn những bực đã nên đạo diệu,
    Giả với chơn được hiểu cả hai;
    Thấy rõ đâu là rắn là cây,
    Nghiệp hoặc chẳng mờ tai với mắt.
    Mọi lời nầy em nên góp nhặt,
    Để khuyên người chưa được hiểu thông;
    Rán mà tu để có qua sông,
    Khỏi bị rắn làm vong thân mạng.
    Ta rằng : những lời Ngài quí đáng,
    Đây có bao giờ dám lảng quên;
    Kể từ nầy mọi việc hư nên,
    Đây xin nguyện sẽ đem kể nốt.
    Đúng như lời của Ngài vừa thốt,
    Kiều Xà làm hoảng hốt nhiều người;
    Đây xem qua lòng bắt rụng rời,
    Rồi tự hỏi sau đời quá khổ.
    Vị mình vàng chừng như đã rõ,
    Trả lời rằng : " Cảnh đọ với lòng";
    Lời đơn sơ ý rộng bao đồng,
    Đây còn nhớ mãi trong nảo trí.
    Đạo sĩ rằng : đã qua giờ tý,
    Vậy anh xin hồi vị non mây;
    Chúc em nhiều công đức lần nầy,
    Cùng anh sẽ chờ ngày gặp lại.
    Đạo sĩ liền ngâm lên chẫm rãi,
    Một bài thơ nghĩa ái sâu xa:


    Muôn năm qua tợ một ngày qua,
    Tình nghĩa đệ huynh vẫn mặn mà;
    Trò chuyện đã nhiều xin giã gót,
    Hẹn nhau gặp lại Hội Long Hoa.


    Ngâm xong Ngài ngó ta lần chót,
    Rồi ung dung quày gót bước đi;
    Đi trong lằn ánh sáng uy nghi,
    Lần lần biến thân về phương Bắc.
    Cảm người xưa cảm lời son sắc,
    Khiến ta rơi nước mắt đậm đà;
    Không một lời chi tiễn đưa ra,
    Cứ nín lặng như là khúc gỗ.
    Chừng Đạo sĩ biến đi khuất chỗ,
    Ta mới là sực nhớ lại thân;
    Đang ngồi trên giường bịnh tần ngần,
    Một mình với ngọn đèn bên góc.
    Vừa nằm xuống vừa ôn trong óc,
    Lời hư nên đã được nghe qua;
    Tự thấy rằng không thể kiếm ra,
    Cố nhớ chẳng rời xa một đoạn.
    Tuy đang bịnh nhưng ta cũng rán,
    Gượng viết ra thành bản nầy đây;
    Rất mong rằng lớn nhỏ gái trai,
    Nhớ đọc kỹ chớ nài mệt mỏi.
    Bởi thấy khổ PHật Tiên mới gọi,
    Nào phải đâu chuyện nói bông đùa;
    Lời hôm nay như những lời xưa,
    Thanh Sĩ chẳng bao giờ nói dối.
    Xác hải ngoại hồn trong quốc nội,
    Vẫn không quên nghĩ tới anh em;
    Thấy ai còn mặt mũi lọ lem,
    Ta như thể kim châm gan ruột.
    Hãy chùi rửa những điều nhơ nhuốc,
    Đễ giúp cho đây bớt âu lo;
    Mặc dù đường tu lắm gay go,
    Chớ lấy đó cóp co tâm trí.
    Trên cùng dưới hãy nên nhứt trí,
    Để mà lo tạo lợi phúc chung;
    Rán cấy cày chống nạn bần cùng,
    Lo học hỏi cho thông đầu óc.
    Thà chịu chết đừng rời cội gốc,
    Hết khổ lao đến lúc thanh nhàn;
    Mọi việc đều theo luật tuần hoàn,
    Chớ bỏ cuộc nửa đàng rất uổng.


    Viết xong ngày 20- 11- 58


    THANH SĨ


    Hết trang 257. Hết phần Vạn Niên Huynh Đệ của Ngài Thanh Sĩ.



    Trích Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ.


    Phần Rằm Tháng Mười

    Rằm tháng mười hai mươi mốt tuổi,
    Vào khoảng trưa đang nhụi trong thoàn;
    Đang khi nằm đọc Pháp Bửu Đàn,
    Có một khối hào quang bạch sắc.
    Bỗng nhiên lại rớt ngay vào mặt,
    Cả châu thân liền bắt tê rần;
    Như ngặt mình đành phải nằm trân,
    Muốn ngồi dậy nhưng không thể dậy.
    Tay chân cũng hết còn động đậy,
    Rồi bắt đầu từ ấy mê man;
    Từ trên không có tiếng kêu vang,
    Rằng có mẹ đấy con khá tỉnh.
    Ta ngước mặt nhìn lên không cảnh,
    Một lão bà đang đứng trên mây;
    Đầu bạc phơ như tuyết phủ đầy,
    Tay vừa chống lấy cây gậy trúc.
    Mình mặc bộ đồ dà nhùng nhục,
    Có hào quang phủ khắp châu thân;
    Vẻ mặc tròn da trắng tuyệt trần,
    Môi đỏ sậm má hường dờn dợt.
    Có hai cái hoa sen đỡ gót,
    ( trang 260..)
    Vẻ trang nghiêm khó thốt sao cùng;
    Lão bà liền cất giộng ung dung,
    Rằng mẹ đấy! Ớ con sớm thức.
    Tuy muôn năm thân nương Lạc Quốc,
    Lòng mẹ luôn ở sát bên con;
    Xưa sao thì nay vậy chẳng mòn,
    Trong lòng mẹ nhớ thương con mãi.
    Mẹ đấy con! Con ơi nhớ lại,
    Nhờ lòng thành sớm bái PHật Đà;
    Và thường lo giúp đỡ gần xa,
    Nên mẹ đã sanh qua Cực Lạc.
    Mẹ đấy con! Xưa nhà rân rát,
    Tớ gái trai gần chút năm mươi;
    Con đã không có dạ khinh người,
    Khiến ai cũng nức lời khen ngợi.
    Mẹ đấy con! Xưa con thường nói,
    Người chẳng xem nhơn loại thú cầm;
    Phải biết thương biết kính nơi tâm,
    Giàu nghèo chẳng làm hèn người được.
    Mẹ đấy con! Lời con đã thốt,
    Lúc ấy ai cũng bắt kính thầm;
    Tư tưởng con khác với thường tâm,
    Rất bình đẳng trong tầm nhận xét.
    Mẹ đấy con! Anh con là Kết,
    Trong sang giàu chẳng mết sang giàu;
    Thường nói rằng phú quí dường bao,
    Thân khi mất sang giàu cũng mất.
    Mẹ đấy con! Anh con nhận thức,
    Thân mất thì của mất liền theo;
    Thế nên lòng chẳng chút đắm đeo,
    Đành vượt ải băng đèo tầm đạo.
    Mẹ đấy con! Tâm trần phủi ráo,
    Nên anh con đắc đạo từ lâu;
    Nay vẩn còn thuyền quán sơn đầu,
    Con sớm muộn thế nào cũng gặp.
    Mẹ đấy con! Riêng con lập bập,
    Đường đạo không quyết lập vào tâm;
    Kiếp thì tu, kiếp bỏ dập bầm,
    Đến nay vẫn còn nằm trong thế.
    Mẹ đấy con! Nhiều đời con tệ,
    Bị nghiệp lôi vào bể khổ trần;
    Mang khốn nàn chịu đoạ đày thân,
    Mẹ đau xót như dần gan ruột.
    Mẹ đấy con! Con chưa hiểu được,
    Mẹ thương con đến mức nào đâu;
    Biển kia còn đo được cạn sâu,
    Mẹ thương trẻ khó âu lượng nổi.
    Mẹ đấy con! Xác trần khi cổi,
    Hồn mẹ liền theo dõi Di Đà;
    Về Tây Phương thân ngự Liên Toà,
    Kể cũng vạn niên qua rồi đấy.
    Mẹ đấy con! Muôn năm qua ấy,
    Mẹ xem như việc mới hôm rồi;
    Kiếp chúng sanh theo bóng mặt trời,
    Mau lẹ tợ như thoi đưa nhỉ.
    Mẹ đấy con! Tuy trăm thế kỷ,
    Lòng mẹ đâu quên nghĩ đến con;
    Thường thấy con bị nghiệp cuốn tròn,
    Khác nào nhộng nằm trong ổ kén.
    Mẹ đấy con! Mẹ luôn ngào nghẹn,
    Tâu PHật xin cho giáng trần ai;
    PHật rằng duyên ấy phải chờ ngày,
    Đến sớm cũng không tài gỡ nổi.
    ( t. 261..)
    Mẹ đấy con! PHật Ngài bảo đợi,
    Mẹ ôm lòng sớm tối ngồi chờ;
    Thấy con nhiều kiếp rối như tơ,
    Lòng mẹ nóng tợ hơ bên lửa.
    Mẹ đấy con! Con đâu có nhớ,
    Muôn năm xưa kho đẻ con ra,
    Thấy mặt con sáng sủa hiền hoà,
    Mẹ mừng đến đỗi sa hột nhỏ.
    Mẹ đấy con! Liền trong khi đó,
    Mẹ tự dưng nói rõ trong tâm;
    Đứa con nầy trải ức muôn năm,
    Mặt mày nó không làm quên được.
    Mẹ đấy con! Mẹ hay chưởng phước,
    Nên nói chi liền được có ngay;
    Từ ấy dù về cõi PHật Đài,
    Lòng mẹ vẫn nhớ hoài con trẻ.
    Mẹ đấy con! Mẹ là thật mẹ,
    Mặt mũi con khi đẻ trên giường;
    Lòng mẹ thường nhớ rõ như thường,
    Con khó thấu tình thương của mẹ.
    Mẹ đấy con! Muôn năm cách rẽ,
    Mẹ vẫn là người mẹ trung thành;
    Lòng thương con không vắng khắc canh,
    Mẹ chẳng ngớt tâu lên Đức PHật.
    Mẹ đấy con! Mẹ tâu bao lượt,
    PHật vẫn rằng đợi cuộc trùng lai;
    Duyên lành kia gặp lại có ngày,
    Chớ để dạ ưu hoài cho nhọc.
    Mẹ đấy con! Do lời Đức PHật,
    Mẹ yên tâm chờ cuộc trùng phùng;
    Nhưng mỗi lần thấy trẻ lao lung,
    Gan ruột mẹ vô cùng chua xót.
    Mẹ đấy con! Việc con mãi mọt,
    Mẹ hiểu rành không sót điều nào;
    Nhiều kiếp con được chức quyền cao,
    Cậy oai thế hiếp bao kẻ yếu.
    Mẹ đấy con! Nghiệp kia chằn níu,
    Kiếp kế con lại chịu hoành hành;
    Bị tù đày bị nhục mạ danh,
    Con vợ khổ gia đình tan nát.
    Mẹ đấy con! Mẹ trông tận mắt,
    Lấy làm đau như chặt như bầm;
    Mẹ dù thương xót mấy nơi tâm,
    Nghiệp riêng khó thế sang cứu đặng.
    Mẹ đấy con! Trong muôn năm ngắn,
    Con đã sanh lên xuống cõi trần;
    Mỗi một lần mang một xác thân,
    Tính ra cũng hơn ba trăm xác.
    Mẹ đấy con! Xác kia chồng chất,
    Ai trong vào cũng bắt rùng mình,
    Và hơn ba trăm cái gia đình,
    Nước mắt đã đổ bằng sông suối.
    Mẹ đấy con! Vì hoành tử tội,
    Có kiếp con vừa mới sanh ra;
    Mắt chưa hề thấy mẹ thấy cha,
    Đã chết chẳng khóc la một tiếng.
    Mẹ đấy con! Có nhiều kiếp chuyển,
    Nghiệp dắc con đến bến trần ai;
    Vừa trưởng thành vừa đẹp đẽ trai,
    Bỗng thọ bịnh đôi ngày bỏ mạng.
    Mẹ đấy con! Thảm kia vô hạn,
    Kẻ thương con chưa mãn nơi lòng;
    Nửa chừng con đã bỏ cõi hồng,
    Muốn tự tử để cùng đồng thác.
    Mẹ đấy con! Vì nhân ở bạc,
    Có kiếp con bị gạt vì tình;
    Gần điên cuồng gần muốn trầm mình,
    Sự sản hết giá danh cũng mất.
    Mẹ đấy con! Từ Tây Phương PHật,
    Thấy con vì tài sắc khổ thân;
    Mẹ muốn sang kêu lớn lên rằng,
    Con ơi hảy bỏ trần theo mẹ.
    Mẹ đấy con! mẹ vừa nghĩ thế,
    PHật rằng tuy con trẻ bị đày;
    Nhưng rồi đây cũng sẽ có ngày,
    Không đấm mãi trần ai đâu nhỉ?
    Mẹ đấy con! Nhiều khi mẹ nghĩ,
    Riêng mẹ an ngôi vị Tây Phương;
    Còn con đang lăn lóc trần dương,
    Mẹ chỉ thấy buồn hơn mừng rỡ.
    Mẹ đấy con! Nghĩ suy thế đó,
    Mẹ muốn phương tiện bỏ Liên đài;
    Để chuyển mình đến cõi trần ai,
    Cứu con sớm khỏi ngày mê muội.
    Mẹ đấy con! Ý kia khi tới,
    PHật liền thân đến gọi ngay rằng;
    Lâm trần không phù hạp cơ căn,
    Dễ đoạ kiếp khó tăng công đức.
    Mẹ đấy con! PHật còn gặng chắc,
    Giống PHật con đã rắc gieo sâu;
    Sẽ nở ra chẳng mất nơi đâu,
    Hãy an trí chớ sầu quá lẽ.
    Mẹ đấy con! Mẹ thương con trẻ,
    Với tình thương cao cả thiên liêng;
    Nhược bằng thương theo lối trần duyên,
    Có lẽ đã đoạ miền trần hạ.
    ( hết trang 264..)
     

Chia sẻ trang này