Ốc Sulawesi

Thảo luận trong 'Cá - Ôc - Tép với bể thủy sinh' bắt đầu bởi nguyen thien, 7/3/14.

  1. nguyen thien

    nguyen thien Well-Known Member

    Tham gia:
    3/9/13
    Bài viết:
    51
    Thích đã nhận:
    8
    Đến từ:
    hồ chí minh
    Ốc Sulawesi
    Chris Lukhaup – http://www.practicalfishkeeping.co.uk
    Các loài ốc thuộc chi Tylomelania ở Sulawesi khiến tất cả chúng ta ngạc nhiên bởi màu sắc, hoa văn và hình dạng của chúng. Kích thước là một yếu tố khác nữa khiến chúng không có đối thủ trong hồ cảnh. Màu sắc biến thiên từ cam cho đến đốm vàng và chúng kiêu hãnh phô bày vẻ đẹp của mình nếu được nuôi trong môi trường tương đối yên bình.
    Trong vài năm qua, chi ốc Brotia, với một đại diện nổi tiếng, loài Brotia pagodula, đem lại cảm hứng cho môi trường thủy sinh. Tuy nhiên, người ta nhanh chóng phát hiện ra rằng hầu hết các loài được nhập khẩu đều không dễ thích nghi với môi trường nuôi dưỡng.
    Nhưng ốc Sulawesi lại khác. Nếu được nuôi trong tầm nhiệt độ phù hợp 27-30 độ C, chúng là loài ốc to nhất thích hợp nuôi làm cảnh. Chúng thậm chí có thể sinh sản trong hồ nuôi.
    Vẻ ngoài nổi bật
    Vẻ ngoài của chúng rất khác nhau nhưng luôn nổi bật. Chúng có nhiều biến thể, từ cấu trúc vỏ dài, hình nón trơn láng cho đến gồ ghề. Hầu hết các loài vẫn chưa được mô tả về mặt khoa học, nhưng đã xuất hiện trên thị trường. Vỏ dài từ 2-12 cm, vì thế một số loài có thể được xem là khổng lồ. Chóp vỏ (apices) hầu như luôn hở. Tất cả đều có nắp đậy (operculum) với nhân chính giữa bao quanh bởi từ 5-11 vòng. Tuy nhiên, nắp thường quá nhỏ để đóng kín hoàn toàn miệng vỏ.
    Thân và chân phô bày màu sắc rực rỡ. Một số có thân màu đen kết hợp với đốm vàng hay trắng. Một số đơn sắc, vàng hay cam, hay đen tuyền với râu vàng – nhưng tất cả đều nổi bật.
    Mắt của chúng, nằm ở gốc của những cái râu thẳng và mỏng, hoàn toàn tách biệt với cái mõm dễ thương, dài, mềm.
    Có một đường rãnh rõ ràng, bắt đầu từ bên trong vỏ và chạy trên thân và chân, mà khi chúng đẻ, trứng sẽ được chuyển từ trong rãnh ra bên ngoài .
    Môi trường sinh thái
    Đảo Sulawesi (tên cũ Celebes) nằm gần đảo Borneo có hình dạng bất thường. Vì vậy, trên đảo có những vùng khí hậu khác nhau. Cao điểm của mùa mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 3. Các vùng cao nguyên với độ cao từ 3.500 – 11.400 m, hầu như được bao phủ bởi rừng nhiệt đới. Các vùng đồng bằng hẹp nằm sát với bờ biển.
    Cao điểm mùa khô vào tháng 7 và 8. Ở vùng đồng bằng và bờ biển, nhiệt độ luôn từ 28-32 độ C. Vào mùa mưa, nhiệt độ giảm xuống khoảng 2 độ C.
    Ở hệ thống hồ Malili, hồ Poso và các chi lưu, ốc Tylomelania được phát hiện trên cả nền cứng lẫn mềm. Mật độ dân số lớn nhất được quan sát ở độ sâu 1-2 m và số lượng suy giảm đột ngột ở những vùng sâu hơn.
    Trên đảo Sulawesi, ở những địa điểm mà ốc được thu thập để xuất đi châu Âu, nhiệt độ từ 26-30 độ C ổn định quanh năm và nước cũng ấm tương tự. Nhiệt độ 27 độ C vẫn được duy trì ở độ sâu 20 m tại hồ Matano. Những loài được mô tả ở đây có nguồn gốc từ các hồ Poso và Malili. Hồ Poso nằm ở độ cao 500 m và Matano ở độ cao 400 m so với mực nước biển. Cả hai đều nằm ở trung tâm đảo. Nước mềm và độ pH từ 7.5 (Poso) và 8.5 (Matano).
    Để cung cấp môi trường nước thích hợp cho ốc, người chơi cần đảm bảo nước mềm và pH cao. Tuy nhiên, một số người nuôi chúng trong nước cứng trung bình, mặc dù không rõ điều này có làm giảm tuổi thọ của chúng hay không.
    Thức ăn
    Ngay sau khi được thả vào hồ cảnh và thích nghi với môi trường mới, ốc Tylomelania bắt đầu kiếm ăn. Chúng không quá kén chọn và chấp nhận mọi loại thức ăn.
    Chúng ăn bột tảo spirulina, viên rau, thức ăn viên với thành phần đạm động vật cao, và rau tươi như dưa leo, ớt chuông và mướp tây.
    Ốc xuất xứ từ vùng nền cứng sẽ chấp nhận rau tươi nhanh hơn những con khác và cũng thích nhâm nhi cả cây thủy sinh.
    Khi chủ động kiếm mồi, chúng đào nền và những con ốc vùng nền cứng sẽ xuất hiện trên tấm lọc hay những địa điểm trang trí trong hồ.
    Sinh sản
    Dĩ nhiên, chúng ta mong muốn những con ốc này sinh sản và chúng đã chứng tỏ khả năng thực hiện điều này trong môi trường hồ nuôi.
    Thuộc lớp ốc mang trước (front-gilled), ốc đực thụ tinh bằng cách chuyển túi tinh cho ốc cái. Túi tinh này được kết dính bởi chất keo do tuyến sinh dục tiết ra.
    Ốc non phát triển trong túi trứng của ốc mẹ; mỗi bào thai phát triển trong ngăn riêng và tiêu thụ chất dinh dưỡng có sẵn ở đó.
    Khi bào thai phát triển đầy đủ, nó được chuyển ra ngoài từ bên dưới vỏ ốc mẹ dưới dạng trứng màu trắng. Trong vòng vài giây, chất màu trắng bao phủ xung quanh ốc non tan hết và ốc non hoàn chỉnh ra đời.
    Trứng được vận chuyển ra ngoài theo một rãnh nằm ở bên phải vỏ ốc mẹ. Tùy thuộc mỗi loài, ốc non dài từ 0.28-1.75 cm. Khi ốc mới được thả vào hồ, hiện tượng sốc sinh sản thường xuyên xảy ra, có lẽ bởi vì nguồn nước thay đổi – do vậy người nuôi có thể thấy những con ốc non sống được một lúc sau khi sinh.
    Những con được sinh bên trong trứng thường nhỏ hơn so với những con khác. Tuy chúng có thể sống sót – nhưng dưới điều kiện bình thường thì chúng sẽ nằm bên trong túi trứng của ốc mẹ lâu hơn.
    Nhìn chung, loài ốc to sẽ đẻ con to hơn và ít hơn so với loài ốc nhỏ. Những loài ốc này không đẻ nhiều vì chúng thường đẻ từng con một, và những con ốc non cần một thời gian dài để tăng trưởng từ vài li cho đến kích thước đáng kể.
    Hành vi
    Sau khi được thả nhẹ nhàng vào hồ, những con ốc này phục hồi hoạt động rất nhanh và bắt đầu khám phá. Chỉ những con ốc già mới nằm yên một chỗ trong vài ngày trước khi bò và chúng không hề thay đổi hành vi này sau đó.
    Chỉ khi thức ăn được thả thì chúng mới di chuyển để kiếm ăn!
    Nhiều người nuôi ốc thất vọng với hành vi thụ động này. Tuy nhiên, nếu bạn nắm được thói quen kiếm mồi và thả bột nhiều lần mỗi ngày cùng với rau, bạn sẽ thấy những con trưởng thành ló ra khỏi vỏ.
    Hầu hết ốc Tylomelania đánh bắt ngoài tự nhiên đều không thích hồ quá sáng. Dấu hiệu thừa ánh sáng là khi ốc hoảng hốt và trốn vào các gốc tối. Nếu bạn cung cấp nơi ẩn náu, dưới dạng hang hốc hay tán lá rậm rạp thì chúng sẽ sử dụng ngay.
    Ốc non ra đời trong hồ cảnh không quá nhát. Chúng làm quen với ánh sáng và bò tự nhiên trong hồ. Chúng lanh lợi và thích khám phá – bò khắp nơi, bất kể nền cứng hay mềm.
    Tuy nhiên, ốc non sống trên nền cứng cũng xuất hiện trên cả đá, cây và lũa và vì vậy chúng ta có thể thấy chúng thường xuyên hơn.
    Khi bố trí loài nuôi chung, cần hết sức cẩn thận. Có những loài lai tạp ngoài tự nhiên và những loài khác nhau cũng đã chứng tỏ khả năng lai tạp trong hồ cảnh.
    Những cá thể lai tạp có khả năng sinh sản hay không vẫn là điều chưa biết. Nếu việc giữ dòng thuần là quan trọng, bạn nên hạn chế thả chung nhiều loài ốc Tylomelania.
    Điều kiện hồ nuôi
    Hầu hết các loài ốc Tylomelania thích hợp với hồ dài 60 hay 80 cm. Người nuôi phải biết rằng loài lớn tối đa 11 cm nên nuôi trong hồ 80 cm trong khi những loài lớn tối đa 3-4 cm có thể nuôi trong hồ nhỏ hơn.
    Nhiệt độ nên trong tầm 27-30 độ C và những biến động có thể ảnh hưởng đến chúng.
    Ốc cũng cần đủ không gian để di chuyển, vì vậy hồ thủy sinh cực kỳ rậm rạp không thích hợp cho việc sinh sản.
    Nhìn chung, ốc Tylomelania thích nghi tốt với tép lùn, cá nheo nhỏ và cá hiền lành. Điều quan trọng là không nuôi chung với bất kỳ loài cạnh tranh thức ăn nào, để chúng luôn có đủ thức ăn.
    Nền phải có bùn, mùn hay cát mịn và có đá lớn để mà cả ốc nền mềm lẫn nền cứng luôn có đủ môi trường thích hợp.
    Một hồ được trang trí tốt phải bao gồm nhiều đống đá tạo ra hang tối để ốc có thể lẩn tránh khi cần.
    Những con ốc này tốt nhất nên nuôi trong hồ riêng, có lẽ cùng với một số tép Sulawesi, vốn cũng cần điều kiện nước tương tự.
    Hồ thả quá nhiều ốc có thể tước đi niềm yêu thích quan sát những con ốc xinh đẹp này, vì vậy hãy tập hợp mọi dữ kiện cần thiết về loài ốc mà bạn yêu thích và nuôi theo đúng yêu cầu của chúng.
    Đừng quên rằng lượng thức ăn mà chúng cần không liên quan gì đến nhu cầu của những loài ốc mà chúng ta thường nuôi trong hồ - như ốc bàng quang (bladder snail), ốc kèn (trumpet snail) và những loài khác. Chúng cần thức ăn riêng, thậm chí cả trong hồ cộng đồng.
    Đây thực sự là những loài mà tự chúng cũng đủ hấp dẫn khi nuôi với mật độ thấp. Với mục đích tham khảo, nếu cần tìm kiếm thông tin về loài mà bạn quan tâm để biết phân loại của chúng, lưu ý rằng chúng thuộc lớp Caeogastropoda; bộ Cerithioidea; họ Pachychilidae, và chi Tylomelania.
    Ghi chú (vnrd)
    Thông số nước của các hồ trên đảo Sulawesi:
    Lake Matano pH 8,5 TDS 88 GH 1 KH 5-6
    Lake Poso pH 8,3 TDS – 92 GH 1 KH 4-5
    Lake Towuti pH: 8,3 GH: 6 KH: 5-6 TDS: 181
     

Chia sẻ trang này