Osteoglossiformes

Thảo luận trong 'Các vấn đề xung quanh cá Rồng' bắt đầu bởi f51, 27/10/06.

  1. f51

    f51 Gấu

    Tham gia:
    5/4/06
    Bài viết:
    162
    Thích đã nhận:
    11
    Đến từ:
    Làng Vũ Đại
    I - Bộ Osteoglossiformes
    [​IMG]
    1- Loài cá trong bộ Osteoglossiformes (oss-tea-oh-gloss-UH-forms) là một trong 2 bộ thuộc siêu bộ Osteoglossomorpha ( Bộ còn lại có tên là Hiodontiformes - Mooneyes ) .
    Có tính chất đồng dạng trong các loài thuộc Nhóm ray-finned ( Nhóm Cá Vây Tia đây là nhóm cá có số lượng thành viên đông đảo nhất ) Theo các ghi chép chúng xuất hiện vào cuối kỷ Jurassic và ghi nhận có mặt ở , Châu Âu Châu Mỹ , ở phía Tây , Nam , Bắc của Châu phi , Châu úc , khu vực Sumatra và trung quốc .
    + Được biết tới là loài có răng ( toothed ) và Luỡi sừng ( bony tongues )
    + Tất cả loại trong bộ cá này sống ở nước ngọt , 1 vài hóa thạch cho thấy chúng đã sống cả ở các vùng nước mặn . Osteoglossiformes theo tiếng Latin osseus - glossa - forma ( bony - tongue - Shape )
    tên gọi này theo ý nghĩa nào đó nói về đặc điểm lớp xương hàm dưới được liên kết với bộ phận nằm trong gốc của chiếc lưỡi , bộ phận này đã bị sụn hóa và nằm sâu trong hộp sọ . Cũng có thể gọi bộ cá này là bộ Cá xuơng .
    + Có 6 Họ cá liên quan gồm 19 loài lớn trong bộ cá Osteoglossiform Đối với người chơi cá cảnh những loài thường hiện hữu trong bộ cá này bao gồm các loài :
    Loài cá Rồng bay Butterflyfish, Pantodon buchholzi - họ Pantodontidae;
    Loài Baby Whale and Elephantnose ( Cá Mũi Voi ) - họ Mormyridae;
    Các loài cá Thát Lát ở Châu Á Châu Phi - Họ Family Notopteridae
    Các loài Cá rồng Arowana, Saratoga và hải tượng long Arapima họ Osteoglossidae. ( Họ Cá Rồng )
    2 - Đặc Điểm : [​IMG]
    + Ruột cá chạy thẳng từ phía hậu môn tới bên trái của dạ dày và thực quản ( Trong khi ở các loài cá khác là ở bên phải )
    + Các loài cá trong bộ có phổi hoặc bong bóng phát triển ( swim bladder )
    + Hầu hết vây đuôi có chất sừng khoảng 16 tia xương
    + Kiểu xương sọ ổn định . Hàm trên thường nhỏ và cố định , Xương vòm họng và lưỡi cá phát triển cùng với sự mọc lên của răng .
    3 -Môi Trường :
    + Chúng thích Ánh sáng yếu , tối mầu và những khu thực vật rộng cùng chỗ thoáng đãng để bơi lội
    + Khu thực vật nổi gồm các loài Riccia hay Ceratopteris
    + Những loài có rễ yêu cầu cứng cáp chịu đựng được các sự va chạm .
    + Các loài cá thát lát ( The Knifefish ) hoặc cá mũi voi ( Elephantnoses ) lại cần những khu trú ẩn
    + Yêu Cầu bể rộng lớn những thành viên nhỏ như cá thát lát , cá rồng bay châu phi ( Pantodon buchholzi ) cá mũi voi là những loài cá nhiệt đới có thể chung sống trong cộng đồng .
    + Hầu hết có thể nhảy khỏi bể nên cần nắp đậy
    + Chúng rất dễ mắc các bệnh nấm trắng một ngoại lệ là loài cá Thát lát và Mũi Voi lại ko có vảy hoặc vảy quá nhỏ .
    3 - Sinh Sản :
    + Tất cả họ cá trong bộ cá đều ko có phương pháp phân biệt cụ thể ngoại trừ ở loài cá rồng Arowanas người ta đã đưa ra những phương pháp phân biệt bằng mắt thường .
    + Ở Loài cá Thát lát ( Featherfin Knifefish ) con đực làm nhiệm vụ trông những quả trứng và thụ tinh cho trứng khoảng 2 tuần , Cá Rồng là loài ngậm trứng trong miệng , con đực sẽ rung đôi trước hàm lên mặt nước mỗi khi muốn truyền thông tin cho lũ con , nhưng ở Saratoga trách nhiệm này lại thuộc về con cái .
    + Những con cái có thể to và tròn trịa vào kỳ sinh sản
    Cá Hải Tượng :
    [​IMG]
    II - Bộ Osteoglossiformes - Họ Osteoglossidae ( Họ Cá Rồng ) :
    [​IMG]
    Loài cá trong họ Osteoglossidae là nhóm cá nước ngọt cổ xưa nhưng chính xác có nguồn gốc từ biển , những hóa thạch cho thấy dấu hiệu của chúng có thể xuất hiện ở kỷ Eocene cách đây khoảng 38 đến 55 triệu năm nhưng cũng có thể chúng còn thuộc nhóm cá cổ xưa hơn nữa . Có 4 loại giống phụ và 7 loài hiện nay mà nguồn gốc là từ vùng lục địa Gondwanan hình thành từ cách đây 135 triệu năm hiện nay chỉ còn mảnh vỡ nằm rải rác trên các châu lục . Trong đó bao gồm cả loài cá Hải tượng long loài cá nước ngọt khổng lồ chúng có thể phát triển lên tới 4 mét chiều dài . Là loài cá quý hiếm trong tự nhiên và có tên trong sách đỏ CITES ko như một số người anh em trong họ Heterotidinae tìm thấy ở Queensland .
    Có thể chia Osteoglossidae làm hai họ phụ :
    - Họ phụ thứ nhất : Heterotidinae Có 2 loài Cá hải tượng long ( Arapima gigas ) và cá Rồng Châu Phi ( Heterotis niloticus ) .
    - Họ phụ thứ Hai Osteoglossinae có 2 giống chính gồm 7 lòai
    + Osteoglossum Loại cá rồng Nam mỹ ( Osteoglossum bicirrhosum và Osteoglossum ferrarai )
    + Scleropages Gồm Cá Rồng Úc ( Scleropages jardinii & Scleropages leichardtii) và Cá Rồng Châu Á ( Scleropages formosa) .
    2 - Đặc Điểm
    Tuy nằm rải rác trên các lục địa nhưng người ta vẫn tìm thấy mỗi liên hệ khá gần gũi với nhau về các đặc tính cấu tạo và phương thức sống Có thể tin tưởng rằng những người anh em của chúng đã sinh sống ở Bắc mỹ , Châu Âu và Châu Ân song đã tuyệt chủng vì một lý do nào đó .
    Đối với những người chơi cá cảnh có thể tạm gọi Osteoglossidae là họ Cá rồng với những đặc điểm phân biệt như sau :
    + Thân thể dài và mảnh với vây ngực lớn .
    + Lớp xương cứng nằm trên đỉnh đầu có tác dụng bảo vệ
    + Hàm phát triển và miệng có xu hướng ngược lên phía trên trên .
    + Dải vây lưng nằm đối lập với dải vây hậu môn .
    + Ở họ Osteoglossinae các loài cá có đôi râu nằm ở hàm dưới trong khi nó đã biến mất ở loài cá Hải Tượng và Rồng phi châu trong họ còn lại ( Heterotidinae )

    3 - Môi Trường :
    + Các loài Osteoglossidae cần được nuôi giữ trong những bể lớn .
    + Tất cả đều có thể nhảy ra khỏi bể nên bể cần có nắp đậy .
    + Ánh sáng dịu nhẹ , bạn nên để vị trí của bể cách xa chỗ đi lại .
    + Những con còn nhỏ thường mắc các bệnh nấm trắng (ichthyophthiriasis ) và dễ bị vi khuẩn tấn công vào những vết thương . Nên cần sử dụng cả các loại thuốc hóa học để bảo vệ sức khỏe . Chất lượng nước : tốt hơn là giữ cho chúng pH 6.5 - 7.5 nhiệt độ trung bình cao cỡ 24 và nước có độ cứng . Yếu tố quan trọng đó là sự ổn định . từ mực nước , tới chất lượng nước bể và thời gian giữa các lần dọn dẹp .
    4 - Thức Ăn :
    + Chúng là những động vật săn mồi thức ăn là các loại mồi chạy song vẫn cố gắng ăn các tươi sống hoặc đông lạnh gồm các loại thịt cá , tôm , các loại động vật sống dưới đất như giun , dế .
    + Trong tự nhiên các loại cá rồng ( Arowana ) kiếm ăn bằng cách nhảy lên khỏi mặt nước để săn mồi nạn nhân bao gồm các loại động vật có thể là các loài dơi , chim côn trùng sâu bọ . Ở loài cá này , cơ thể tiến hóa đến sự mềm dẻo cho phép chúng cuộn tròn để lấy đủ sức bật cần thiết để nhảy lên khỏi mặt nước săn mồi . Cá Ngân Long có thể nhảy cao lên 2 m . Loài cá rồng Á và Châu Úc ( Saratoga , Asian Arowanas ) cơ thể trở nên cứng nhắc hơn song chúng đều có thể nhảy lên rất cao .
    + Hãy cẩn thận khi cho ăn các loại động vật có khả năng làm tắc nghẹn , hoặc đâm thủng ruột gồm các loại quá to hoặc có cơ thể có gai sắt nhọn .
    5 - Quan Hệ :
    + Hầu hết chúng trở nên khó gần gũi khi trưởng thành và đặc hung dữ với đồng loại , tuy nhiên có vẻ chúng trở nên khoan dung hơn với các loại cá khác cùng kích cỡ mặc dù vậy hầu hết chúng sẽ cố gắng truy đuổi những loại nhỏ hoặc chậm chạp . thậm chí cả các loại có giáp như cá bám bể ( armoured catfish )
    + Các loại như Prochilidus , Clown Knifefish ( Cá Đô ) Clown Loach Lungfish ( Cá Lươn ) Giant Gourami ( Tài Phát ) Eeltail Catfish ( Cá Trê ) ; Archerfish( Cá Mang Rổ ) ; và Các loại dọn bể nhanh nhẹn đã trưởng thành như Sailfin Plecos ..v.v. đều có thể nuôi chung .
    6 - Sinh Sản :
    + Các Loài Osteoglossinae nuôi con và ấp trứng trong miệng ( Mouth - brooders ) trong đó loài cá rồng ở Châu Á và Nam Mỹ con đực ngậm những quả trứng trong bộ phần như chiếc túi ở cuống họng , nhưng ở Cá rồng Châu Úc loại Saratoga những con cái đều làm việc này
    + Những con nhỏ được bảo vệ trong khoảng 4 tuần khi chúng được nhả ra khỏi miệng bố mẹ . nhưng khi gặp nguy hiểm chúng có thể quay lại trú ẩn .
    III - Bộ Osteoglossiformes - Họ Osteoglossidae - Loài Cá Rồng Úc
    Bản đồ phân bố của 2 loại cá Rồng úc Chúng sinh sống dọc vùng duyên hải
    [​IMG]
    [​IMG]
    Nước úc hiện nay có hai loại cá rồng sinh sống được biết đến với nhiều tên khác nhau
    Gulf Saratoga (Sceleropages jardinii) còn gọi là Jardini Arowana, Northern saratoga, Jardine saratoga, Gulf saratoga, Australian gold/pearl Arowana and jardini saratoga
    Saratoga ( Scleropages leichardti ) Leichardti Arowana Dawson River saratoga, Southern saratoga, Spotted barramundi, Australian spotted Arowana and leichardti saratoga .
    S. jardini sinh sống trong cả các dòng chảy nhanh hoặc chậm ở phía bắc Australia and New Guinea trong khi khu vực sinh sống của Scleropages leichardti hạn chế trong các hồ lớn . nơi chúng có thể nương náu dưới các thảm thực vật để tìm kiếm thức ăn .
    Là biểu tượng quảng bá hàng đầu trong ngành câu cá giải trí ở miền bắc nước Úc được hiệp hội của người câu cá NFA ( National Fisheries Authority.) bảo vệ bằng cách khuyến khích thả chúng về với tự nhiên .Những người câu cá tìm được trong dạ dày của loài cá này những sinh vật sống trên cạn vì cũng như các loài anh em khác chúng có khả năng nhảy khỏi mặt nước để săn mồi .
    Cá rồng Úc thường dài nhất khoảng 60 cm trong các bể nuôi nhưng S eichardti chỉ cân nặng 4 Kg so với S jardini là 17 Kg điều đó có nghĩa là chúng mảnh khảnh hơn người anh em
    Scleropages jardini có mầu hung tới đỏ nâu . S . leichardti có mầu xám và trắng dần tới phần bụng các vây có những viền mầu đen xen kẽ các vệt mầu đỏ hoặc vàng
    2 loài cá này mang tính chất đối lập nhau râu , sống lưng và hoa văn trên mang . Tuy nhiên điểm khác biệt được mọi người chú ý nhất lại nằm ở những chiếc vẩy cá loài S . jardini có hình lưỡi liềm mầu đỏ trên mỗi chiếc vẩy trong khi S . leichardti có các hạt điểm ( spots) mầu đỏ hoặc da cam điều đó lý giải tại sao chúng có tên là Spotted Arowana ở Việt Nam có tên là Rồng hạt cườm . Loài S jardinii ( Australian gold/pearl Arowana ) gọi là Ngọc Long ( Pearl = ngọc ) .
    So với Ngân long cá Rồng Úc có đầu thuôn tròn hơn . không mang được vẻ đẹp tráng lệ như người anh em ở Châu á song chúng lại giữ được nét hoang dã vốn có và xung mãn hơn . Vẩy nhỏ hơn nhưng lại nhiều hơn ở số lượng . Chúng có 7 lớp vẩy nằm ngang và 32-36 lớp vây nằm dọc trên cơ thể ( Ở cá rồng châu á là 5 và 21-26 )
    Trong tự nhiên Cá rồng úc kếp đôi vào khoảng 8 -9 hàng năm và đến tháng 10 những con cá nhỏ đã xuất hiện trên thị trường . Loài leichardti thường đẻ khoảng 200 trứng lớn . Sau đó con cái sẽ hốt những quả trứng đã được thụ tinh vào trong miệng để ấp trứng ( Ở các loài cá khác nhiệm vụ này thường giao cho con đực ) . Dành nhiều thời gian lượn lờ trên mặt nước . Những con cá mới nở được mẹ chúng thả ở những nơi gần bờ đến khi trưởng thành cá sẽ di chuyển xa hơn ra các khu vực nước sâu hơn để sinh sống
    [​IMG]
    leichardti:
    [​IMG]
     
    Last edited: 27/10/06

Chia sẻ trang này

Từ khóa tìm kiếm:

  1. cá rồng châu phi đen