Phần 1: Cách chăm sóc một số loài Finch tiêu biểu.

Thảo luận trong 'Chim cảnh trong nhà' bắt đầu bởi thao_nguyen, 17/6/10.

  1. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    [FONT=&quot]Nguyên xin dịch và chia sẽ với mọi người một số thông tin mà Nguyên tìm được trên mạng, hy vọng có thể sẽ giúp ích cho mọi người trong việc chăm sóc và cho sinh sản các loài Finch đáng yêu này.Vì khá nhiều bài viết nên Nguyên xin chia thành nhiều phần:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]
    Phần 1[/FONT]
    [FONT=&quot]: Đặc điiểm, cách chăm sóc và cách nuôi sinh sản một số loài Finch tiêu biểu.
    1. Java Sparrow (chim Bạc Má),
    2. Strawberry Finch (Manh Manh ta),
    3. Zebra Finch (Manh manh Nhật),
    4. Society (Sắc Nhật),
    5. Lady Gouldian Finch (chim Bảy màu),
    6. Canary (chim Yến) và
    7. Owl Finch .[/FONT]

    [FONT=&quot] .........[/FONT]
    Phần 2: Avairy và Finches (cách làm Avairy).
    [FONT=&quot]Phần 3:[/FONT][FONT=&quot] Thức ăn. (Tất tần tật những loại thức ăn cần cho Finch và cách chế biến.)
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Phần 4[/FONT][FONT=&quot]:[/FONT][FONT=&quot] Sinh sản. (Chuẩn bị, chăm sóc, cho ăn, những điều cần lưu ý.)
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Phần 5[/FONT][FONT=&quot]: Chăm sóc (Phòng bệnh và trị bệnh).
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Phần 6[/FONT][FONT=&quot]: Cách làm chuồng và ổ đẻ (có một số kiểu cực kì dễ làm).
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Phần 7[/FONT][FONT=&quot]:[/FONT][FONT=&quot] Cách huấn luyện chim đứng trên tay.[/FONT][FONT=&quot]
    ....................
    Vì có quá nhiều cái phải dịch, cái nào cũng rất hay và thú vị, nhưng sức người và thời gian thì có hạn, nên Nguyên xin dịch trước những phần nào Nguyên thấy nhiều thông tin bổ ích, có thể áp dụng cho hầu hết Finch. Hoặc nếu các bạn quan tâm phần nào hơn thì cứ nói Nguyên, Nguyên sẽ dịch phần đó trước.

    Một số tài liệu sẽ chỉ hướng dẫn cách chăm sóc về Java Finch, nhưng các bạn có thể nhận thấy rằng những kiến thức này vẫn có thể áp dụng cho các loại Finch khác.

    Trong quá trình dịch chắc chắn là còn nhiều thiếu sót, vì mình cũng chỉ vì rất thích những chú chim này nên cố gắng dịch thôi chứ chẳng có kĩ năng gì hết. Nên mong các bạn góp ý để có thể hoàn thiện hơn.

    Hy vọng nhận được sự ủng hộ từ các bạn.


    ---------------------------------------------------------------


    [/FONT]
    [FONT=&quot]Phần 1[/FONT][FONT=&quot]: Đặc điểm, cách chăm sóc và cách nuôi sinh sản một số loài Finch tiêu biểu[/FONT][FONT=&quot]

    [/FONT]
    [FONT=&quot]1. Java Sparrow - Padda oryzivora (hay còn gọi là Lonchura oryzivora)

    [/FONT]
    [​IMG]
    [FONT=&quot]

    [/FONT]
    Tên thông th[FONT=&quot]ườ[/FONT]ng[FONT=&quot]
    Java Rice Bird, Java Temple Bird, Paddy Bird (chim ăn thóc). Ở Việt Nam, loài chim này có tên là Bạc Má hoặc Uyên Ương.[/FONT]
    Đ[FONT=&quot]ặ[/FONT]c đi[FONT=&quot]ể[/FONT]m[FONT=&quot]
    Chim Java Sparrows là một loại finch khá lớn. Chiều dài từ chóp mỏ đến đuôi khoảng 5-1/2" (khoảng 14cm). Chúng có một cái mỏ rất ấn tượng, trông có vẻ như có thể phá banh chuồng và cắn rất đau như loài yến phụng, nhưng thực chất chúng hoàn toàn vô hại. Con trống và con mái có ngoại hình gần như chẳng khác là mấy. Tuy nhiên vẫn có vài cách để phân biệt. Giống như hầu hết thành viên của gia đình Lonchura, những con trống thường hót và hành động như thể đang nhảy múa. Điệu nhảy này không thường được xem, và nhiều người không quan tâm đến giọng hót của chúng, nhưng tôi cảm nhận đó là một giọng hót dễ chịu và mang âm điệu của rừng nhiệt đới. Không giống như hầu hết các chú mannikins, bạn có thể nghe thấy giọng hót này từ một khoảng cách khá xa. Kèm theo là âm thanh giọng hót của một chú Java Sparrow. ([/FONT][FONT=&quot]MP3 of a Java song[/FONT][FONT=&quot])[/FONT]
    [FONT=&quot]Có một cách tốt hơn để phân biệt trống mái là dựa vào sự khác biệt ở hình dạng mỏ. Sự khác biệt này được nhận thấy tốt hơn khi nhìn vào một đàn lớn hơn là chỉ một cặp. Ở con trống vào thời kì sinh sản, lớp sừng ( ở đầu mỏ, đặc biệt là nơi giao giữa mỏ với đầu) sẽ có hình dạng như bị sưng. Hình dáng như một cái gồ nhỏ, và màu sắc sẽ trở nên đỏ đậm hơn ở con trống. Ngoài ra, vòng tròn quanh mắt cũng dày hơn và đỏ hơn ở con đực. Nhưng tôi cảm thấy nhìn hình dạng mỏ thì chính xác hơn. (Vì khi đang thay lông hoặc sức khỏe kém, màu đỏ ở vòng mắt của con trống sẽ bị xuống màu – người dịch.)[/FONT]
    [FONT=&quot]Mặc dù có kích thước lớn và một cái mỏ khổng lồ, các chú Java lại là những chú chim của hòa bình. Chúng có thể sống yên ổn lâu dài trong một cái lồng tập thể. Tuy nhiên đôi khi lại hay gây gổ với nhau (giữa những chú Java). Tạo nên một nhóm các chú này với nhau sẽ gây ra nhiều tiếng ồn và các cuộc đấu, nhưng chúng lại hiếm khi làm điều này với các loài finches khác. Tôi chưa bao giờ giữ chúng chung với những thành viên waxbill nhỏ xíu, nhưng tôi nghĩ là chúng cũng sẽ không tấn công những chú chim này. Tôi cũng đã từng để chúng sống chung với những chú [/FONT][FONT=&quot]Rufous-Back Mannikin[/FONT] [FONT=&quot]nhỏ xíu, và những chú chim nhỏ thích gây gổ này thậm chí còn “ tạo băng đảng” để tấn công những chú Java.[/FONT]
    Th[FONT=&quot]ứ[/FONT]c ăn[FONT=&quot]
    Khẩu phần ăn của Java Sparrows cũng giống như hỗn hợp hạt của những chú parakeet (két). Bạn có thể sử dụng hỗn hợp tiêu chuẩn chung của các chú finch, nhưng loại này thường chứa những hạt ngũ cốc nhỏ, và các chú Java thường không thèm ngó ngàng tới cho đến khi những hạt lớn đã bị ăn sạch. Bạn cũng có thể cho chúng ăn chỉ toàn plain White Prosso (hạt kê loại lớn), và vài loại ngũ cốc khác trong những phần ăn riêng biệt (in separate dish). Java thường sẽ tìm các hạt yến mạch (oats) để ăn trước rồi mới tìm các loại khác để ăn. Với các máng thức ăn tự động (gravity feeder – hạt sẽ rơi xuống khi những hạt bên dưới đã bị lấy ra), điều này sẽ dẫn đến việc thức ăn sẽ bị lãng phí và rơi vãi tùm lum khi chúng cố gắng tìm những hạt yến mạch. Tốt nhất là cung cấp cho chúng. Chúng sẽ hăm hở ăn thức ăn có trứng ([/FONT][FONT=&quot]Roy's egg food mix[/FONT] – [FONT=&quot]món trứng trộn của Roy – sẽ được post cách làm ở phần sau), gamebird crumble (?) và rau sạch. Tôi chưa bao giờ thấy chúng ăn thức ăn sống (sâu), nhưng có lẽ chúng sẽ bị dụ nếu như bạn cố năn nỉ và bắt ép (nhưng tại sao phải là thức ăn sống nếu như không bắt buộc phải có). Canxi có thể được cung cấp dưới dạng vỏ trứng nghiền nát, vỏ sò nghiền hoặc mai mực, nhưng chúng thường không thích thú lắm với mai mực. (Người dịch thường bỏ những vở trứng còn nguyên không cần nghiền nát vô, và chúng luôn nhào vô cạp, còn mai mực treo vào chúng hay bám vào để cạp nên cứ bị rớt, khá là phiền phức). Mặc kệ tên gọi, chúng thực sự không ăn nhiều thóc. Tôi thường cung cấp thóc cho chúng như tôi làm với Mannikins và Munia,, nhưng chúng thường không thích thú lắm với nhưng hạt này như một sớ loại Lonchura khác. Tuy nhiên chúng rất thích lúa dưới dạng đang nảy mầm. (Ông này cho ăn toàn yến mạch với lúa mạch hạng sang, dĩ nhiên là tụi nó sẽ chê thóc rồi, còn ở Việt Nam ta thì ngược lại, chim ăn thóc vẫn là chim ăn thóc.)[/FONT]
    Sinh s[FONT=&quot]ả[/FONT]n[FONT=&quot]
    Javas cực kỳ mắn đẻ. Đó là một phần của lý do tại sao chúng bị cấm tại rất là nhiều vùng. Chúng thường tạo nên một ổ lớn từ 6-8 chim non. Tuy nhiên chúng sẽ chăm sóc tốt hơn với không quá 5 thành viên. Chúng sẽ sử dụng bất cứ cỡ nest box (tổ được đóng bằng gỗ ép) nào. Tôi từng thấy chúng sinh sản trong những cái tổ nhỏ [/FONT][FONT=&quot] standard 5"x5"[/FONT] [FONT=&quot](khoảng 14x14cm), nhưng tôi thích chúng sử dụng một cái tổ 8"x 8" (khoảng 24x24cm) hơn, đây chỉ đơn giản là phiên bản lớn hơn những cái tổ tiêu chuẩn của tôi. Những cái tổ này có thể khá bự lúc đầu, khi mà bạn thấy chúng làm ổ ở một góc của hộp, nhưng khi mà những chú chim non bắt đầu lớn lên, bạn sẽ thấy tại sao cái khoảng trống còn lại là rất cần thiết. (Phần post tiếp theo sẽ nói rõ hơn). [/FONT]
    [FONT=&quot]Trong hầu hết trường hợp, chúng là những người thợ xây tổ cực kì kinh khủng, sử dụng chỉ toàn nguyên liệu thô và giấy vụn, không thèm nhớ tới những cọng lông mềm xốp và burlap (xơ làm vải bao bố). Những cộng lông duy nhất tôi từng nhìn thấy chúng sử dụng là những cộng lông đuôi và lông cánh từ con [/FONT][FONT=&quot]Mountain Quail[/FONT][FONT=&quot] của tôi (nó đã làm gì con Mountail Quail này nhỉ… - người dịch). Cỏ khô, lá kim, xơ dừa và bào là những chọn lựa hàng đầu của chúng. Một số sẽ sử dụng xơ dừa và dệt một cái tổ phức tạp. Như mọi khi, toi đặt một số ít mùn cưa vào đáy hộp trước, chỉ để đề phòng những chú có nhu cầu cực kì tối thiểu và chẳng sử dụng gì cả.[/FONT]
    [FONT=&quot]Một tổ thường sẽ có từ 4-8 trứng. Thời kì ấp trứng sẽ bắt đầu từ cái trứng thứ 3 hoặc 4 và diễn ra trong vòng 13-15 ngày. Những chú chim non sẽ được ra đời trong bộ cánh thời trang cổ điển của loài Lonchura – hồng và fuzzless (chỉ có lông tơ). ([/FONT][FONT=&quot]Java approx 10 days[/FONT][FONT=&quot]). Chúng sẽ ở trong tổ suốt một thời gian dài so với hầu hết các loài finch khác. Sẽ cần đến gần một tháng trước khi chúng có thể bay. Cho những chú chim non tập bay này thêm 2-3 tuần để có thể hoàn toàn rời xa bố mẹ. Những cậu chàng mới lớn có một bộ cánh là phiên bản màu xám của những con trưởng thành. Những cái mỏ vẫn còn sẫm màu. Chúng cần đến vài tháng để thay lông hoàn toàn và trở thành một chú chim trưởng thành.([/FONT][FONT=&quot]Fledged Java still in juvenile plumage[/FONT][FONT=&quot]).[/FONT]
    [FONT=&quot]Chúng sẽ sinh sản bất cứ khi nào thời tiết phù hợp. Chúng thường tránh những tháng mùa hè nóng nhất và những tháng mùa đông lạnh giá nếu như được nuôi ở ngoài trời. Nếu được giữ trong nhà trong một môi trường được kiểm soát, chúng sẽ đẻ quanh năm. [/FONT]
    Ghi chú thêm[FONT=&quot]
    Sẽ khá ngạc nhiên khi nghe điều này, nhưng những chú Java Sparrow này đã được liệt kê trong CITES (Công ước quốc tế về các loài nguy cấp của động vật hoang dã và thực vật) ở phụ lục II. Rõ ràng, ngay cả khi Sparrow Java được xem là một dịch hại trong nhiều lĩnh vực vì sự tàn phá mà chúng có thể gây ra cho một vụ lúa, họ Java đang bị đe dọa. Điều này thực sự không ảnh hưởng nhiều đến Mỹ kể từ khi Java Sparrow bị cẩm nhập khẩu bởi USFWS và chúng luôn có sẵn từ các đàn trong nội địa.[/FONT]
    [FONT=&quot]Hãy đảm bảo rằng bạn đã kiểm tra các quy định ở địa phương của bạn. The Java Sparrow bị cấm ở nhiều vùng trên nước Mỹ do lo sợ rằng chúng sẽ tạo nên một bầy lớn ở những vùng trồng lúa.[/FONT]
    [FONT=&quot]Ngoài dạng màu Xám hoang dã, còn có màu Fawn (màu Caramen), trắng, ngọc trai và đột biến màu sắc. [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguồn: [/FONT][FONT=&quot]http://www.efinch.com/species/java.htm[/FONT][FONT=&quot]


    [/FONT]

    [FONT=&quot]Hình ảnh các màu sắc khác nhau của Java Sparrow Finch:[/FONT]
    [FONT=&quot]The Wild Java[/FONT]

    [​IMG]
    [FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]The Normal Java[/FONT][FONT=&quot] ( wild type ) [/FONT]
    [​IMG]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Silver Java [/FONT][FONT=&quot]( Opal ) also ( Blue )[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Pastel Normal Java[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Agate Java[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Fawn Java[/FONT][FONT=&quot] ( Isabel ) (Thể bạch tạng)[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Cream Java [/FONT][FONT=&quot](Isabel Pastel) (Dilute Fawn)[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The Opal Isabel[/FONT][FONT=&quot] Java (Mắt đỏ)[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]The White Java[/FONT]
    [​IMG][​IMG]



    [FONT=&quot]The Black Head Java[/FONT]
    [​IMG]

    Ngu[FONT=&quot]ồ[/FONT]n: [FONT=&quot]http://www.javafinch.co.uk/coulor/colour.html[/FONT]

    [FONT=&quot]Còn một loại đột biến khác là trắng đốm xám như hình, và người dịch đã từng thấy một cặp trắng đốm nâu.[/FONT]
    [​IMG]

    [FONT=&quot]Tóm tắt:[/FONT]
    [FONT=&quot]Miếu tả:[/FONT][FONT=&quot] dài 51/2 inches (14cm). Thân màu xanh thép với đầu và đuôi đen, má trắng, vòng mắt màu đỏ hồng, mỏ cũng màu đỏ hồng và rất to. Chân màu đỏ hồng. Mắt đen hoặc đỏ ở thể bạch tạng. Con cái nhỏ con hơn với màu đỏ ở vòng tròn quanh mắt lợt hơn và màu chân cũng lợt hơn, hình dạng mỏ thon dài và không có gồ, không nhảy múa và hót như con trống.Một số màu đột biến đã được phát triển bao gồm màu trắng, ngọc trai, caramen, xám lợt, loang..[/FONT]
    [FONT=&quot]Phân phối tự nhiên:[/FONT][FONT=&quot] Java, Bali và các đảo lân cận, sau đó được giới thiệu tới Sri Lanka, nam Burma, Zanziban, St Helena và những nơi khác.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tập tính:[/FONT][FONT=&quot] Java Sparrrow được tìm thấy nhiều ở những đồng lúa và tre, trong những đàn lớn.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thức ăn:[/FONT][FONT=&quot] giống như của canary với các loại hạt ngũ cốc, ngũ cốc nảy mầm, rau xanh và một số thức ăn mềm.[/FONT]
    [FONT=&quot]Nhu cầu đặc biệt:[/FONT][FONT=&quot] việc nuôi Java Sparrow la bất hợp pháp ở một số vùng ở nước Mỹ, vì những chú chim trốn ra ngoài có thể gây hại nghiêm trọng cho mùa màng. Nếu avairy có sự hòa bình (chỉ có vài cư dân khác), có thể đẻ quanh năm. Do đó, thời gian sinh sản cần được hạn chế, chỉ từ tháng 5 đến tháng 7 và không quá 4 tổ mỗi mùa.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tổ đẻ:[/FONT][FONT=&quot] The Java Sparrow thực sự là những công dân avairy lý tưởng. (Male stretches out neck and make unsual buddy noise. Con trống làm tổ và thường phát ra những tiếng kêu thân thiện đặc biệt.) Chuẩn bị các tổ hình hộp có dạng half-open, kích thước 12x10x10 inches (30x25x25cm) hoặc những khối gỗ sồi (beechwood blocks), lối vào đường kính 2 inches (5cm). Không nên đẻ 2 tổ quá gần nhau để tránh sự gây gổ. Đẻ từ 3 đến 5 trứng, ấp 12 đến 15 ngày, mọc lông 26 đến 28 ngày.[/FONT]
    [FONT=&quot]http://www.bird-breeds.com/Java_Sparrow.htm[/FONT]
     
  2. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Cách chăm sóc STRAWBERRY FINCH

    [FONT=&quot]STRAWBERRY FINCH[/FONT]​
    (Amandava amandava)
    [​IMG]
    Tác giả: [FONT=&quot]Douglas Hill[/FONT]
    [FONT=&quot]Các tên thường được dùng:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberry Finch, Red Strawberry Finch, Red Avadavat, Coochin Finch, Red Waxbill.
    Manh manh ta, Mai Hoa.[/FONT]
    [FONT=&quot]Mức phổ biến:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Đang trở nên hiếm (ở Sysney). [/FONT]
    [FONT=&quot]Giới tính:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Con trống thay lông vào mùa sinh sản để thu hút con mái. Màu lông sẽ trở nên đỏ mọng ở đầu, mỏ và lưng. Cánh có màu nâu đậm viền đen. Con trống chưa vào mùa sinh sản có bụng màu đỏ đậm hơn con mái.[/FONT]
    [FONT=&quot]Phân phối:[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]India, Quần đảo Indonesian, Quần đảo Malayan and Indo China.[/FONT]
    [FONT=&quot]So sánh:[/FONT]
    [FONT=&quot]Hòa bình. Có thể sống chung với những loại ăn hạt khác mà không nảy sinh nhiều vấn đề, tuy nhiên tôi cũng phải nói rằng những chú chim của tôi thường có những cuộc chiến giành lãnh thổ với những chú Star cả mặt vàng và mặt đỏ, và cả những chú Ruddies, tuy nhiên chỉ vào mùa sinh sản hoặc khi đang tạo lãnh địa. Một khi đã xây tổ, các cuộc chiến này sẽ chấm dứt. Chúng thường xây ở ngay kế bên những chú Cordon Bleu’s, Red Faced Pytilia’s và Goudians mà không xảy ra vấn đề gì cả.[/FONT]
    [FONT=&quot]Giá xấp xỉ:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]$100.00 đến $150.00 một cặp. (Ở sysney)[/FONT]
    [FONT=&quot]280.000VND đến 350.000VND (ở Việt Nam - 2010.)[/FONT]
    [FONT=&quot]Mức độ dể dàng để cho sinh sản (1 cho cực dễ và 10 cho cực khó):
    [/FONT]
    [FONT=&quot]5/10. Các chú manh manh ta này sinh sản nhiều hơn dưới kinh nghiệm của các chuyên gia. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là người mới nuôi sẽ không thể nuôi đẻ những chú chim này. Quan trọng là người đó phải biết học hỏi những lời khuyên từ những người đã nuôi đẻ thành công.[/FONT]
    [FONT=&quot]Đặc điểm của chim tốt:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Tìm những chú chim có bộ lông đẹp. Màu sắc phải đậm, gần như là màu rượu vang nếu như chim đang trong mùa sinh sản. Có nhiều đốm trắng điểm ở sườn và dọc cánh. Một dòng giống tốt sẽ có nhiều đốm. Quan tâm đến kích cỡ của chim. Quan tâm đôi mắt có sáng hay không. Chú chim phải luôn di chuyển, linh hoạt. [/FONT]
    [FONT=&quot]Đặc điểm của chim không tốt:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Chim bị chậm chạp, lim dim, đôi mắt khép chặt, hôn mê. Hậu môn bẩn. Lông thưa thớt, sẫm màu và không mượt. Mỏ khô và dơ. Chỉ một trong những đặc điểm trên đã cho thấy đây là một con chim xấu.[/FONT]
    [FONT=&quot]Aviary hay nuôi trong chuồng sinh sản:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberries không sống tốt trong những tủ kính hoặc chuồng treo. Chúng thích hợp với những aviary từ 3m trở lên và càng sống tốt hơn trong những aviary có nhiều cây xanh lớn, đặc biệt là có dòng nước chảy trong đó.[/FONT]
    [FONT=&quot]Mùa sinh sản:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]ở vùng Sysney này tốt nhất là cho chúng sinh sản suốt những tháng mùa hè ấm áp đến mùa Thu, mặc dù chúng vẫn đẻ suốt mùa đông nếu được cung cấp điều kiện thích hợp. [/FONT]
    [FONT=&quot]First year hens could be prone to egg binding. It is essential to give the right of oils in the diet to alleviate the egg binding problems.[/FONT]
    [​IMG]
    [FONT=&quot]Tôi có nên bổ sung những thức ăn mềm?[/FONT][FONT=&quot]Một hỗn hợp hoàn hảo của trứng và hạt cỏ tươi (rau mầm) có thể được cho vào khẩu phần hằng ngày. Bạn có thể cho thêm bắp, bánh Madeira và hạt nảy mầm.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thế còn rau xanh?
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi nghĩ rằng cỏ tươi (rau mầm) nên được cung cấp hằng ngày suốt thời kỳ sinh sản, để đảm bảo rằng các cặp bố mẹ không quăng con ra khỏi tổ nếu những thức ăn sống đã bị dùng hết trong một thời gian ngắn. Những thức ăn xanh khác có thể được kèm theo như cây Anh Thảo, rau đắng và diếp xoăn. [/FONT]
    [FONT=&quot] Thế còn thức ăn sống?Strawberries sẽ sống khỏe mạnh khi được cung cấp một số lượng dồi dào các chú Mối, Gentles nhỏ (ấu trùng) và Mealworm nhỏ (sâu gạo). Cung cấp thức ăn sống rất quan trọng trong thời kì sinh sản. Một số sẽ không chịu chăm sóc con non nếu không có thức ăn sống.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thức ăn mùa sinh sản:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi bắt đầu cho Strawberries sinh sản chỉ sau kỳ nghỉ Christmas (tức là bao lâu vậy trời - người dịch). Nếu như bạn cho chim của bạn ăn một chế độ dồi dào thì đây là lúc bạn nên từ - từ cho những chú chim của bạn có nhiều thức ăn trong cóng hơn. Tạo dựng một khẩu phần ăn với nhiều thức ăn sống hơn như ấu trùng, sâu gạo, mối và rau mầm (green seeding grasses). Quá nhiều quá sớm sẽ dễ dàng gây ra rất nhiều dạng vấn đề như scours (kén cá chọn canh?).[/FONT]
    [FONT=&quot] Một số loại cỏ, rau mầm (the seeding grasses) có thể sử sụng là cỏ Johnston, cỏ dài African Veldt, rau diếp, cỏ Winter, cỏ Guinea, Milk Thistle và Shepherds Purse. (It is best to give Strawberries the seeding heads half ripe.)[/FONT]
    [FONT=&quot]Tách cặp:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Không cần thiết phải tách cặp, khi mà chúng sẽ ngừng sinh sản khi con trống bị mất màu đỏ thu hút. Tuy nhiên tôi cũng đã từng có 1 cặp vẫn sinh sản khi mà con trống đã bị mất màu.[/FONT]
    [FONT=&quot]Độ tuổi nào thì nên bắt đầu cho sinh sản?
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberry’s sẵn sàng để sinh sản khi được 8 tháng tuổi. Tốt nhất là nên để chúng yên đển khi chúng được khoảng 12 tháng tuổi.[/FONT]
    [FONT=&quot]Nếu tôi bị mất một con trong 1 cặp thì sao?[/FONT][FONT=&quot]
    Mặc dù mối quan hệ của một cặp rất mạnh, nhưng nếu ta bị mất một con, có thể ngay lập tức giới thiệu một con khác. Điều này đôi khi sẽ mất thời gian để cho chúng chấp nhận một đối tác mới. Chúng có thể sẽ không chấp nhận “người mới” nếu đang trong thời gian sinh sản.[/FONT]
    [​IMG]
    [FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot]Tổ đẻ:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberry’s sẽ không sử dụng những dụng cụ đựng để làm tổ như hộp làm tổ, giỏ mây, wire cylinders và logs. Hầu hết sẽ xây tổ trong các brush building their own nest out of fine grasses. (?)[/FONT]
    [FONT=&quot]Vật liệu làm tổ:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Vật liệu làm tổ có thể khác nhau từ cỏ tháng 10 cho lớp lót và cỏ khô cho bên ngoài. Tổ thường được lót với lông trắng. Chúng sẽ sử dụng nesting boxes and wire tubes and woven cane nesting utensils (?). Tổ được lót với lông trắng, và chúng sẽ sử dụng hầu như tất cả những gì mà bạn cung cấp cho chúng. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy chúng sử dụng cỏ xanh cho những cái tổ.[/FONT]
    [FONT=&quot]Các tổ:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]The Strawberry’s xây những cái tổ có đường kính khoảng 15cm. Đó là những cái tổ mái vòm có cấu trúc lỏng lẻo hình thoi và được dựng ở bất cứ đâu cách mặt đất khoảng 0.5m đến 2m. Cái tổ dường như có nền tảng của những cong cỏ dài đến từ phía dưới của lối vào tổ (The nest seems to have a platform of long strands of grass coming from the bottom of the entrance to the nest.). con trống luôn xây phía ngoài tổ và con mái thì ở trong lót tổ. Strawberry’s đôi khi còn xây tổ gần mái của avairy, kết quả là những con non sẽ chết vì kiệt sức dưới cái nóng của nhũng ngày nắng nóng. Khi mà hầu hết các aviary đều có trần bằng kim loại, ta nên có cái gì đó bao phủ trên mái chỗ có cái tổ đó để tránh điều đáng tiếc xảy ra.[/FONT]
    [FONT=&quot]Hành vi giao phối:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Vũ điệu giao phối sẽ bắt đầu khi con trống bắt đầu chuyền từ góc này qua góc kia và giữ một mảnh cỏ trong miệng của anh ta. Khi mà con Mái đã sẵn sàng để chấp nhận lời cầu hôn, cô ta sẽ rung đuôi của cô ta. Sự giao phối luôn xảy ra ở khu vực bay rộng rãi (the open flight area).[/FONT]
    [FONT=&quot]Những quả trứng:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Từ 4 đến 7 quả trứng màu trắng sẽ được đẻ ra. ĐỪNG NHẶT LÊN CŨNG ĐỪNG CHẠM VÀO. ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÁI TỔ.Nếu như bạn chạm vào cái tổ, chúng hầu như tất nhiên sẽ bỏ tổ. Một số người nói họ có thể nhìn vào những cái tổ mà không có vấn đề gì . có thể họ làm được, nhưng một số lại không thể, những chú chim của tôi thường không tha thứ hành đọng đó và chúng sẽ bỏ tổ với cả những cái trứng và chim con trong đó.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thời gian ấp:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Thông thường sẽ cần khoảng 13/14 ngày để ấp trứng. Thực sự gần như không thể nghe thấy tiếng chim con trong tổ. Tổ gần đây nhất của tôi (khi mà tôi đang biết bài này) có 5 chim con và tôi chưa từng nghe thấy tiếng của chúng mặc dù có năm chú nở cùng lúc và tất cả chúng gần như có cùng kích cỡ. Tôi thấy Strawberry là những bậc cha mẹ doting (say mê) nhất.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thời gian mọc lông:[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Khoảng thời gian này thường chiếm khoảng 21 ngày, trong những tháng hơi lạnh hơn thì nó sẽ lâu hơn một chút.[/FONT]
    [FONT=&quot]Sống mà không cần bố mẹ:[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Sau 21 ngày.[/FONT]
    [FONT=&quot]Những con chim non sẽ sống với bố mẹ trong bao lâu?[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Tốt nhất là trong 4 tuần. Những con chim non có thể rời bố mẹ mà không cần sự can thiệp nào.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi nen cho những con chim non mọc lông ăn gì?[/FONT][FONT=&quot]
    Những chú chim non có thể được có khẩu phần tương tụ với bố mẹ của chúng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Khi nào thì nên đeo vòng ở chân cho chúng?[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Những chú chim non có thể được đeo vòng ngay khi rời tổ. Nếu để quá lâu vòng sẽ không trượt qua các ngón chân. Khi đeo vòng nên cẩn thận để không làm bị thương. Nên tham khảo thêm cách đeo vòng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tách các đôi:[/FONT][FONT=&quot]
    Một số người nuôi để sinh sản thường tách các cặp chim trong suốt mùa không sinh sản, nhưng tôi thấy điều này là không cần thiết, chúng sẽ tự biết điều chỉnh.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tuổi thọ:[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberries có tuổi thọ khoảng 8 năm.[/FONT]
    [FONT=&quot]Bệnh thường gặp:[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT]
    [FONT=&quot]Strawberries cần a good worming program khi chúng mãi mãi nhặt xung quanh mặt đắt của avairy. Tuy nhiên chúng không dễ mắc bất kì bệnh cụ thể nào.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tổng kết lại tất cả:
    [/FONT]
    [FONT=&quot]The Red strawberry là một trong những loại chim tốt nhất cho bất kì môi trường avairy nào. Chúng cực kì hiền lành, chỉ chiến đấu để giành lãnh địa nhưng rất hiếm khi.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi có một chú strawberry trong aviary hiện tại của tôi và tôi nghĩ tôi sẽ giữ chú ta mãi mãi trong bộ sưu tập những chú finch nhỏ bé.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi đề nghị, đi ra ngoài và kiếm vài chú ngay khi mà đó là một trong những loại yêu thích nhất của tôi và tôi rất vui khi viết về chúng cũng như nuôi và cho chúng sinh sản.

    [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi đã được giới thiệu về chúng từ khi tôi còn trẻ bởi người anh của tôi. Anh ấy có 1 cặp đang đẻ và anh ấy đã cho tôi 1 cặp con của cập đó. Từ đó trở đi, tôi chưa bao giờ rời xa loài chim này và cả những chú Cordon Bleu. [/FONT]
    [FONT=&quot]Loài chim đến từ Châu Á này là một trong số ít những loại chim đẹp nhất mà bạn có thể có trong chuồng của bạn. Màu đỏ tía tuyệt đẹp điểm thêm những diểm trắng dọc cơ thể khi mà con đực vào mùa sinh sản thật là tuyệt vời. Và giọng hót của chúng cũng thật là đáng yêu.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi đã luôn giữ một cặp trong mỗi avairy và chúng không hề gây ra sự phiền hà nào cho những công dân khác. Tuy nhiên tôi vẫn phải thừa nhận rằng vài cặp cũng đôi khi có những cuộc chiến giành lãnh thổ với các chú Star cả mặt đỏ lẫn mặt vàng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Khi mà được giữ ở phong độ cao nhất, các anh chàng Strawberry sẽ hót bằng cả trái tim. Những bài hát tuyệt vời này có thể được nghe tuyệt nhất khi mặt trời vừa ló dạng và nó luôn cố gắng để có thể khiến cho mọi người phải dừng lại, lắng nghe giọng hót của nó và mỉm cười.[/FONT]
    [FONT=&quot]Khẩu phần ăn của Strawberries cũng giống như những chú chim khác của tôi. Như các loại cỏ, xương mực, vỏ trứng, than, bột yến mạch, vỏ sò Canundra, molasses salt lick, rau xanh và hỡn hợp hạt ngũ cốc gồm các loại kê, Pannicum đỏ, hạt canary trắng của Pháp (hạt láng của hamster?). [/FONT]
    [FONT=&quot]Chúng sống tốt hơn trong các avairy trung bình đến lớn và có trồng cây, và không nên giữ chúng trong những môi trường quá đông đúc hoặc trong những cabinets (lồng kiếng?)[/FONT]
    [FONT=&quot]Mùa sinh sản là từ tháng 3 đến tháng 10, mặc dù một vài cặp có thể đẻ suốt năm.[/FONT]
    [FONT=&quot]The Strawberry’s xây những cái tổ có đường kính khoảng 15cm. Đó là những cái tổ mái vòm có cấu trúc lỏng lẻo hình thoi và được dựng ở bất cứ đâu cách mặt đất khoảng 0.5m đến 2m. Cái tổ sường như có một cái nền tảng của những cong cỏ dài đến từ phía dưới của lối vào tổ (The nest seems to have a platform of long strands of grass coming from the bottom of the entrance to the nest.). con trống luôn xây phía ngoài tổ và con mái thì ở trong lót tổ. Strawberry’s đôi khi còn xây tổ gần mái của avairy, kết quả là những con non sẽ chết vì kiệt sức dưới cái nóng của nhũng ngày nắng nóng. Khi mà hầu hết các aviary đều có trần bằng kim loại, ta nên có cái gì đó bao phủ trên mái chỗ có cái tổ đó để tránh điều đáng tiếc xảy ra.[/FONT]
    [FONT=&quot]Vật liệu làm tổ có thể khác nhau từ cỏ tháng 10 cho lớp lót và cỏ khô cho bên ngoài. Tổ thường được lót với lông trắng. Chúng sẽ sử dụng nesting boxes and wire tubes and woven cane nesting utensils (?). Tổ được lót với lông trắng, và chúng sẽ sử dụng hầu như tất cả những gì mà bạn cung cấp cho chúng. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy chúng sử dụng cỏ xanh cho những cái tổ.[/FONT]
    [FONT=&quot]Vũ điệu giao phối sẽ bắt đầu khi mà con trống bắt đầu chuyền từ góc này qua góc kia và giữ một mảnh cỏ trong miệng của anh ta. Khi mà con Mái đã sẵn sàng để chấp nhận lời cầu hôn, cô ta sẽ rung đuôi của cô ta. Sự giao phối luôn xảy ra ở khu vực bay rộng rãi (the open flight area).[/FONT]
    [FONT=&quot]Từ 4 đến 7 quả trứng màu trắng sẽ được đẻ ra. ĐỪNG NHẶT LÊN CŨNG ĐỪNG CHẠM VÀO. ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÁI TỔ.Nếu như bạn chạm vào cái tổ, chúng hầu như tất nhiên sẽ bỏ tổ. Một số người nói họ có thể nhìn vào những cái tổ mà không có vấn đề gì . có thể họ làm được, nhưng một số lại không thể, những chú chim của tôi thường không tha thứ hành động đó và chúng sẽ bỏ tổ với cả những cái trứng và chim con trong đó.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi cho những chú chim của tôi ăn mối và ấu trùng khi chúng đang trong mùa sinh sản, và chúng có xu hướng ăn nhiều hơn khi chăm sóc những con non. Tôi cũng có một người bạn chỉ cho ăn sâu gạo và những chú chim của anh ấy vẫn khỏe mạnh và sinh sản tôt trong suốt nhiều năm qua.[/FONT]
    [FONT=&quot]Những con chim nở sau 3 tuần khi trứng vỡ ra và tất cả chúng khoác một bộ cánh màu nâu xỉn màu.[/FONT]
    [FONT=&quot]Chúng thường cứng cáp hơn sau 3 tuần, và tôi đề nghị rằng nếu bạn muốn chia rời chúng thì nên để thêm một tuần nữa trước khi chúng hoàn toàn tách bố mẹ, chỉ để chắc ăn. Tôi chưa bao giờ thấy bố mẹ tấn công những con non, và tôi thường để chúng ở lại thêm khoảng 2 tháng nữa.[/FONT]
    [FONT=&quot]Đây là một chú chim thú vị cho bất kì ai (ngoài những người mới học việc) hoặc cho bất kì avairy nào vì chúng có thể sống hòa bình trong các lồng tập thể. Và tôi có thể đề nghị cho bất kì ai giữ những chú chim này khi mà chỉ cần để ý một chút để chăm soc và nhân giống.[/FONT]
    http://www.finchsociety.org/fsa/strawb/strawb.htm




    [​IMG]


    [FONT=&quot]Tóm tắt:[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Đặc điểm: [/FONT][FONT=&quot]4 inches (10cm). Màu nâu đỏ và màu đỏ tươi ở mỏ, đầu, ngực và bụng trong mùa sinh sản, đuôi màu đen. Nhiều đốm trắng trên cánh và lông đuôi. Mắt nâu, mỏ đỏ, chân hồng. Con cái có màu nâu đỏ, điểm trắng trên cánh, bụng màu vàng. Con trông thay đổi màu lông trong mùa sinh sản, mùa bình thường có màu tương tụ như con mái, bụng hơi đỏ hơn.[/FONT]
    [FONT=&quot]Phân bố tự nhiên[/FONT][FONT=&quot] India, Pakistan, south Nepal, southeastern Asia, Moluccas and Indonesia. Cũng có thể được tìm thấy ở Trung Quốc và các vùng lân cận[/FONT]
    [FONT=&quot]Tập tính [/FONT][FONT=&quot]Sống trong rừng và các vùng nông thôn.
    Thức ăn Strawberry Finch thích các loại hạt, côn trùng, và thức ăn sống.[/FONT]
    [FONT=&quot]Nhu cầu đặc biệt[/FONT][FONT=&quot] Có thể gây phiền hà cho những chú chim khác trong thời gian sinh sản, do đó nên tách chúng ở riêng vào thời gian này. Cần thức ăn sống quanh năm.[/FONT]
    [FONT=&quot]Cuộc sống trong chuồng[/FONT][FONT=&quot] The Strawberry Finch trống có một tiếng hót rõ ràng và hót quanh năm. Con cái cũng hót, nhưng chỉ khi không có con trống, và không hay như con trống. Trong quá trình tán tỉnh, con trống sẽ khoe đôi cánh, xòe đuôi và nhảy múa xung quanh con mái. Rất là thích hợp cho sinh sản. Con trống sẽ xây một cái tổ nhỏ trong avairy với các cỏ dài, tóc, lông và cỏ. Đẻ 6 đến 8 trứng, ấp 11 đến 13 ngày bởi con mái, trong khi con trống chống lại sự xâm nhập, mọc lông 20 đến 21 ngày. Sau khi đủ lông, mỏ vẫn còn đen, màu sắc bắt đầu thay đổi trong vòng 3 tuần và nó sẽ hoàn thiện vào khoảng tuần thứ 9 nhưng sẽ không được giữ lại cho đến khi khoảng 2 tuổi.[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]http://www.bird-breeds.com/Strawberry_Finch.htm[/FONT][FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    Thảo Nguyên dịch
     
  3. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Cách chăm sóc Zebra Finch

    [FONT=&quot]Zebra Finch - Taeniopygia guttata castanotis[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT][​IMG]
    [FONT=&quot]Zebra Finches – Con trống (bên phải) và con Mái (bên trái)[/FONT]
    [FONT=&quot]Các tên thông dụng[/FONT][FONT=&quot]
    Chestnut-eared finch, spotted-sided finch, Nyi-Nyi and Nyeen-ka (Tên người thổ dân)
    Manh manh Nhật.[/FONT]
    [FONT=&quot]Miêu tả[/FONT][FONT=&quot]
    Zebra finches là loài lưỡng hình (dimorphic). Đó là để chỉ ra rằng con trống và con mái có màu sắc khác nhau. Con trống có một số đặc điểm phân biệt bao gồm: các mảng màu cam 2 bên má, các sọc vằn ở cổ, vệt màu đen ở ngực và 2 bên sườn hạt dẻ với các đốm trắng. Con mái không có những đặc điểm, thay vào đó là màu xám ở những vùng được nói ở trên. Màu mỏ thường là màu đỏ tươi ở con trốngvà màu cam con mái. Đây là đặc điểm dựa vào thời kì sinh sản của các loài chim. Những con trống còn non thường trông như con mái, nhưng với cái mỏ đen. Cái mỏ và màu sắc cảu con trưởng thành thường được hoàn thiện tính từ thời điểm 90 ngày tuổi. [/FONT]
    [FONT=&quot]Có một số đột biến mà có thể thay đổi màu sắc và những đặc tính lưỡng hình. Xem thêm trên trang cá nhân về các đột biến màu sắc cụ thể và các mô tả của các màu sắc bị thay đổi, và làm thế nào mà có thể tác động đến sự phân biệt giới tính của các loài chim.[/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot]Thức ăn[/FONT][FONT=&quot]
    Một thức ăn trộn tiêu chuẩn cho finch sẽ thích hợp với Zebra finches. Họ thường hăm hở đi ăn trứng (món trứng của Roy), rau xanh và hạt giống ngâm, mặc dù tôi ít khi cung cấp 2 cái sau. Zebra được thích nghi để tồn tại và nhân giống trong điều kiện có mức độ protein thấp hơn nhiều chim sẻ khác và thực ra chúng sinh sản chỉ nhờ vào hạt ngũ cốc. Điều này là không nên, kể từ khi con non sẽ không có chất lượng đạt chuẩn. Chất khoáng và canxi trong các hình thức vỏ trứng, vỏ sò nghiền và xương mực nên luôn luôn có sẵn cho chúng. Zebra thường sẽ sử dụng một phần mười một mai mực và mặc dù trứng nghiền của gà mái có mức canxi cao hơn, sử dụng mai mực dường như có thêm tác dụng để chúng mài mỏ và làm giảm tác dụng nếu chúng muốn bằng cách nào đó “mài mỏ” trên bộ lông của những con khác.[/FONT]
    [FONT=&quot]Ghi chú về việc sinh sản[/FONT][FONT=&quot]
    Các Zebra finch là một loài thích nghi cao. Chúng sẽ vẫn sinh sản với cả các điều kiện bất lợi nhất. Đây là 1 loài avicultural hoàn hảo. Có thể chịu đựng với những nhiệt độ khắc nghiệt với loài chim, có khả năng chịu bệnh và ký sinh trùng, có thể tồn tại với thực phẩm tối thiểu và chất lượng nước tồi tệ, chấp nhận không gian tối thiểu và sống tốt với cá thể khác của cùng loại này và các loài khác, và sẽ sinh sản ở bất kì điều kiện nào. Có một báo cáo đã nói rằng một Zebra hoang dã đã bị bắt và nhốt vào lồng vẫn tiếp tục đẻ khi mà cái lồng vẫn đang nằm trong thùng xe khi xe di chuyển. Trong tự nhiên những cơn mưa phùn sẽ kích hoạt bộ máy sinh sản. Con trống hoang dã sẽ tán tỉnh con mái ngay sau khoảng 48 giờ ngay khi có cơn mưa phùn đầu tiên. Với những Zebra thuần, chúng gần như luôn luôn sẫn sàng để sinh sản. Đối với một số, bắt chúng ngừng sinh sản thật là khó khăn hơn là bắt chùng bắt đầu, và cách duy nhất tôi đã tìm thấy để ngăn chặn chúng là loại bỏ các loại hộp tổ. Nhưng điều này vẫn không ngăn được con mái đẻ trứng, và chúng sẽ tạo ra những cái tồ thông thường để bảo vệ, đẻ và ấp trứng trong đó.[/FONT]
    [FONT=&quot]Zebra sẽ làm ở trong bất cứ thứ gì nó có thể chui lọt. Nhà nhân giống đã sử dụng những cái hộp cho finch với lối vào dạng hở 1 nửa ( [/FONT][FONT=&quot]half open) và lỗ tròn (hole entrances), giỏ (baskets), cả dạng mở và kín, hộp sữa (milk cartons) và vỏ lon (tin cans.) Bất cứ thứ gì cũng thích hợp với Zebra. Tôi thích sử dụng những hộp gỗ cỡ thông thường hơn. Tôi đã sử dụng cả dạng hình bán nguyệt cho cổng vào lẫn dạng hở 1 nửa cho nhiều cặp. Một số lồng còn có thêm hộp tổ bên ngoài là cái mà các cặp sẽ ra vào thông qua một lỗ trong lồng. Tôi luôn đặt một ít mùn cưa dưới đáy hộp, sau đó đặt một số rơm và/hoặc cỏ khô vào trong hộp theo hình dạng thô của tổ. Điều này chỉ cung cấp cho các cặp một sự khởi đầu về làm tổ và nếu họ không phải là nhà xây dựng tổ điêu luyện, thì cũng đã có sẵn một cái gì đó cho chúng có thể đặt trứng vào. Sau đó tôi cung cấp những vật liệu khác cho chúng để chúng tự điều chỉnh cái ổ theo ý của chúng. Tôi thường cung cấp xơ dừa, sợi đay và một số lông vũ. Có đủ vật liệu, Zebras sẽ xây tổ và để 1 cái lỗ cửa. Chúng thích nhìn ra ngoài khi đang ấp trứng (CFW hen in nest). Một khi đã bắt đầu đẻ, vật liệu còn lại nên được loại bỏ bởi vì Zebra nổi tiếng là thích xây tổ hình sandwich. Nghĩa là sẽ có thêm 1 lớp ở trên lớp tổ đã hoàn thành, và che lấp những cái trứng. Ở trứng trung bình sẽ có từ 4-7 cái trứng nhỏ màu trắng được đẻ với tỉ lệ mỗi ngày một trứng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thời gian ấp trứng luôn luôn bắt đầu sớm khi mà cái trứng thứ 3 hoặc 4 được đẻ. Cả 2 bố mẹ sẽ chia sẽ việc ấp trứng với 1 trong 2 sẽ cung cấp thức ăn và nước uống cho con còn lại và cả 2 sẽ cùng nằm trong tổ vào ban đêm. Những quả trứng sẽ bắt đầu nở sau 12 hoặc 13 ngày [/FONT][FONT=&quot](chicks hatching), tùy thuộc vào sự thay phiên nằm ấp suýt sao giữa cặp bố mẹ. Chim con nở ra với lông tơ màu sáng bao phủ quanh bộ da sẫm màu của chúng, độ sáng cảu lông măng có thể khác nhau tùy thuộc vào màu sắc hoặc sự đột biến của con con (xem bài những dấu bớt khác nhau trong miệng của chim non). Chim non sẽ phát triển nhanh chóng và mọc lông trong 16 ngày (Clutch of chicks Approx 16 days), và sẽ bắt đầu liều lĩnh rời tổ từ khoảng 18 ngày tuổi (Fledgling male). Con trống thường có thể được xác định bởi các lông mông trắng. Con non được cho ăn thêm 14-21 ngày nữa và con trống sẽ nhận lãnh nhiệm vụ này cho đến khi ngày “phi vụ” này kết thúc. Khi con con bắt đầu cứng cáp hơn, cặp bố mẹ sẽ bắt đầu cho ra đời tổ trứng mới và đuổi những con con ra ngoài. Điều này đôi khi nghe có thể tàn nhẫn, nhưng hiếm khi con non gặp phải sự tổn thương nghiêm trọng nào. Nếu con non được độc lập và cặp bố mẹ đang đuổi con đi, chúng nên được dời đi nếu không chúng sẽ bị bứt lông một cách thô bào. Tôi luôn dời những cái trứng của ổ thứ 2 nếu con non chưa sẵn sàng để di chuyển. Để cặp bố mẹ được nghỉ ngơi giữa các lần đẻ tốt hơn là thúc ép cho chúng đẻ các ổ lập đi lập lại quá nhanh. Tôi thường không để quá 3-4 ổ với một cặp trong 1 mùa. Chúng có đủ khả năng để sinh sản không ngừng trong suốt hàng bao năm qua, nhưng kết quả là con con sẽ không đạt chuẩn như các bố mẹ của chúng. Bên cạnh đó, tôi luôn có được những cặp mà tôi muốn chỉ với số ổ ít ỏi đó.[/FONT][​IMG]
    [FONT=&quot]Mặc dù Zebra finches đã được chỉ ra rằng chúng có thể cho ra đời các bầy con mới với mức độ protein thấp hơn một cách đáng kể so với hầu hết các laoif Finch khác, nhưng dĩ nhiên là tốt hơn nên cung cấp cho chúng một chế độ protein hoàn chỉnh khi chúng đang nuôi con. Có một sự cải tiến đáng kể về [/FONT][FONT=&quot]kích thước và sinh lực của các con con được sinh ra. Tôi thấy rằng món trứng trộn (trứng trộn của Roy) là vừa đủ cho những nhu cầu của chúng, nhưng bất kì món trứng trộn nào có tỉ lệ trứng cao thì đều tốt. Nếu như bạn cho chúng ăn rau xanh, hãy chắc chắn rằng cặp bố mẹ đã từng ăn nó và không sử dụng nó [/FONT][FONT=&quot]trong các vật liệu làm tổ. Chúng sẽ lấy bất cứ thứ gì vào tổ nếu chúng xác định là có thể xây tổ để có thể xây tổ dày hơn, và các lá rau này sẽ thối và mốc trong tổ hoặc sẽ che phủ các quả trứng. Để biết thêm thông tin về việc sinh sản của Zebra Finch và những vấn đề liên quan, xem ở phần [/FONT][FONT=&quot]Breeding section.[/FONT]
    [FONT=&quot]Thông tin thêm[/FONT][FONT=&quot]
    Bạn sẽ tìm thấy tài liệu tham khảo bởi “tiếng Anh”, “Đức" và "Mỹ" rằng Zebra là giống chim sẻ được phát triển bởi người Mỹ. Đây thwucj sự không phải là một tham khảo đến nước xuất xứ của chúng (mặc dù xuất xứ là đúng) hoặc một đại diện riêng biệt nào đó, mà là một tham khảo về kích thước và hình dạng của chúng. Tại Anh và châu Âu, chim sẻ Zebra đã được nuôi để cạnh tranh trong các cuộc triển lãm. Những cuộc triển lãm đó có yêu cầu rằng những con chim phải hiển thị một hình dạng và kích thước nhất định. Thông qua sinh sản chọn lọc, kích thước của chim Zebra đã được tăng lên đáng kể và hình dạng đã bị thay đổi. Những chú chim phải thể hiện sự cường tráng và hình dạng tròn, thường được gọi như là những ‘cobby’ ( vừa lùn, vừa mập, vừa chắc khỏe), nghĩa là con vật sẽ có một thể trạng tuyệt vời. Chúng tôi vẫn gọi chúng là Zebra Anh hoặc Đức vì đây là những nước đã đưa ra những chú chim nguyên bản được nhập vào. Cụm từ Zebra Mỹ thực sự liên quan đến loài Zebra gần gũi với loài Zebra hoang dã hơn về kích thước và hình dạng bởi người Mỹ đã không cố gắng lai tạo để thay đổi các đặc điểm đạc trưng thông qua các giống chọn lọc. Sự khác biệt giữa tên ‘Đức” và “Anh” ở Mỹ lại dựa vào số lượng nhập khẩu. Vào lúc đó, chim được nhập khẩu từ Đức vào Mỹ nhiều hơn từ Anh.[/FONT]
    [FONT=&quot]Zebra finch trống thường tham khảo cho giọng hót của chúng dựa vào con bố hoặc các con khác. Có một khuôn khổ cơ bản cho giọng hót của chúng, nhưng trong giai đoạn đang phát triển, chugns sẽ học hỏi và thay đổi để tạo nên bài hát cảu riêng chúng. Con Zebra trống thường học hỏi theo Society Finch (Sắc Nhật) và kết hợp nhịp điệu của loài Sắc nhật vào trong giọng hót của chúng. Chúng cũng có thể lấy từ những loài không liên quan trong môi trường sống của chúng. Tôi đã thấy một con trống kết hợp tiếng kêu của chim Trĩ vào trong bài hót của nó.[/FONT]
    [FONT=&quot]The Zebra finch giống như những con chuột thí nghiệm của thế giới Finch. Không có loài Finch nào được nghiên cứu kĩ và được viết về chúng nhiều như Zebra Finch. Có một số lượng những bài nghiên cứu khổng lồ về môi trường tự nhiên của chúng cũng như trong phòng thí nghiệm, về sự học hỏi giọng hót, ghi sâu vào trí nhớ và việc lựa chọn bạn tình.[/FONT]
    [FONT=&quot]Đã có những nghiên cứu để xác định bao lâu những chim sẻ thích nghi điều kiện sống ở sa mạc có thể sống sót mà không cần nước. Cuộc nghiên cứu dài nhất là 1-1/2 năm. Người Tiến sĩ cuối cùng Luis Baptista của San Francisco Viện Khoa học cũng đã tiến hành một nghiên cứu về sự mất nước với Ngựa vằn và nói với tôi rằng ông đã từ bỏ sau 1 năm và cho các chú chim uống nước bởi vì ông cảm thấy tội chúng quá, nhưng ông cũng tự tin cho rằng chúng có thể đã sống sót trong một thời gian lâu hơn nữa mà không có nước. Chúng sống sót bằng cách tự chuyển hóa nước. Tuy nhiên, Zebra không thể tồn tại một ngày mà không có thức ăn. Tuy nhiên, đừng bắt đền tôi nếu bạn không cho con Zebra finch yêu thích của bạn uống nước và nó chết. Các nghiên cứu đã được hợp lệ, nhưng chúng cũng phát sinh một số thiệt hại (nghĩa là không phải chú chim nào cũng sống – người dịch).
    Các Zebra finch sẽ được lai ghép với một số loài khác nhau. Mặc dù chúng thường được lưu giữ trong các thuộc địa hỗn hợp, họ hiếm khi sẽ chọn bạn tình bên ngoài của các loài của họ. Ngoại lệ duy nhất này sẽ là Timor Zebra finch, một phân loài của chim Zebra Úc. Những con được lai ghép thì không nên được ở chung chuồng. Timor Zebra vẫn còn khá hiếm hoi trong aviculture kiểu Mỹ vì vậy đây thực sự là mục tiêu quan tâm của các nhà lai tạo các loài Timor. Những giống lai này có thể sinh sản. Các Zebra Úc đã được lai tạo với Owl finches, họ hàng gần gũi nhất của chúng và chim sẽ Sắc nhật, một loại khác rất phổ biến. Những giống lai với các loài khác là vô sinh.
    Zebra chim sẻ có thể được sử dụng để làm vú nuôi cho các loài khác. Các loài có mối liên quan càng chặt chẽ đến Zebra, càng nhiều khả năng thành công trong việc phát triển loài đó. Những cái tổ của Owl finch gần giống hệt với hình dạng tổ của Zebra finch. Cách duy nhất để phân biệt cả hai là bằng cách xem dấu miệng mouth markings. Đối với một số Zebra được sử dụng như là vú nuôi, điều này có thể đủ cho họ để từ chối bất kỳ chim sẻ Owl được trộn với con riêng của chúng. Vì vậy, người ta không khuyến khích để các loài trộn lẫn hoặc có sự khác nhau về lứa tuổi của chim con mà bạn muốn các finch Zebra nuôi vú.
    Một con tem 1 cent từ Australia đặc trưng của Zebra finch. (click to view stamp).
    Các finch Zebra finch là phổ biến nhất ở aviculture và là loài thứ hai chỉ sau Canary và giống két uyên ương được nuôi trong lồng phổ biến nhất.
    [/FONT][​IMG]
    [FONT=&quot] Wild Zebra finch male[/FONT]
    [FONT=&quot]Color Varieties (click each variety to learn more)
    Fawn
    Chestnut Flanked White (CFW)
    Lightback
    Pied
    Black Breasted
    Orange Breasted
    Black Cheek
    Recessive Silver
    Penguin
    White
    Florida Fancy
    Dominant Silver
    Black Face
    Fawn Cheek/Gray Cheek
    Crested
    Yellow Beak[/FONT]
    [FONT=&quot]Timor Zebra (T. guttata guttata) - The only subspecies of Australian Zebra finch[/FONT]
    [FONT=&quot]Other mutations not yet available in the United States.
    Eumo (Europe)
    Agate (Europe)
    Isabel (Europe and Australia) Very similar to the US Florida Fancy
    George (Australia)
    Slate (Australia) Very similar to US Recessive Silver
    Grizzle (Australia)
    Black Front (Australia)
    Charcoal (Australia)[/FONT]
    [FONT=&quot]http://www.efinch.com/species/zebra.htm [/FONT]
    [FONT=&quot]
    [/FONT][FONT=&quot]

    [/FONT]

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:21 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:00 PM ----------


    Sau đây là hình ảnh tất cả các loài Zebra mà các người ta đã lai tạo được. Thật là đáng ngạc nhiên về sự phong phú và vẻ đẹp của chúng!

    ----------------------

    Ở từng loài tác giả có ghi rất rõ về đặc điểm và phương pháp lai tạo, có thể nhận thấy đây là một người rất yêu thích và am hiểu về loài Zebra finch này. Các bạn có thể click vào các link bên dưới để tham khảo.

    ---------------------

    Fawn Zebra Finch
    [​IMG][​IMG]

    http://www.efinch.com/species/fawnzeb.htm

    Chestnut Flanked White (CFW) Zebra Finch
    [​IMG] CFW males - Continental variety (left) Regular variety (right)
    [​IMG]x[​IMG]
    Regular CFW (left) and Continental CFW (right) chicks. Adult tails, Regular (left) Continental (right)

    [​IMG]
    Regular CFW female
    http://www.efinch.com/species/cfwzeb.htm



    Lightback Zebra Finch

    [​IMG]
    Lightback Zebra - male

    [​IMG]
    Pure Lightback male (left), Lightback male split for CFW (right)
    [​IMG]
    Lightback female
    http://www.efinch.com/species/lbzeb.htm



    Pied Zebra Finch
    [​IMG] Pied male Zebra finch
    [​IMG]
    The same Pied male Zebra finch as above. Notice the differnt pattern on this side of the head.
    http://www.efinch.com/species/piedzeb.htm


     
  4. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Các dạng đột biến của Zebra (tiếp theo)

    Black Breasted Zebra Finch
    [​IMG]Black Breasted Zebra finch - Male

    [​IMG]
    Black Breasted Zebra finches - Male (L), female (R)
    [​IMG]
    The Tell Tale Tail -
    Black Breasted split (left), full Black Breasted (right). Both are fawns and the right is also an Orange Breast.
    [​IMG]
    Lightback Black Breasted combination (Male)
    [​IMG]
    [​IMG]
    Black Breasted Gray male

    http://www.efinch.com/species/bbzeb.htm


    Orange Breasted Zebra Finch
    [​IMG] Orange Breasted male
    [​IMG]
    Orange Breasted + Black Breast + Lightback male (breast color shows a fault of incomplete change to orange)
    [​IMG]
    Orange Breasted Black Breasted Fawn males
    http://www.efinch.com/species/obzeb.htm
    Black Cheek Zebra Finch
    [​IMG] Black Cheek male
    [​IMG]
    A Lightback male split for Black Cheek. Notice the feathering of the tear mark in the cheek.
    [​IMG]
    Black Cheek female
    http://www.efinch.com/species/bczeb.htm
    White Zebra Finch

    [​IMG]
    [​IMG] Photo is courtesy of
    Frank Sundgaard Nielsen and
    Zebra Finches on the Internet
    White Zebra finch malehttp://www.efinch.com/species/whitzeb.htm
     
  5. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Các dạng đột biến của Zebra (tiếp theo 2)

    Penguin Zebra Finch [​IMG] Gray Penguin Zebra Finches male
    [​IMG]
    Penguin fledgling.

    [​IMG]
    [​IMG] Gray Penguin Zebra Finches (male top, female below)http://www.efinch.com/species/pengzeb.htm


    Florida Fancy Zebra Finch
    [​IMG] Florida Fancy Zebra finch male[​IMG]
    Single Factor or split Florida Fancy now referred to as Florida Silvers.
    [​IMG]
    Florida Fancy Black Breasted. Commonly called a Phaeo
    [​IMG]
    A single factor Florida Fancy male and a double factor Florida Fancy male. The single factor is a little darker than most of this color (compare above.)
    http://www.efinch.com/species/ffzeb.htm




    Dominant Silver Zebra Finch

    [​IMG] Dominant Silver Lightback male. A popular combination.
    [​IMG]
    Dominant Cream pair - male (left) female (right)
    [​IMG][​IMG]
    Dominant Silver males. Dark version with light cheeks (left). Light version with cream cheeks (right).
    http://www.efinch.com/species/dszeb.htm


    Black Face Zebra Finch

    [​IMG]
    Black Face Zebra finch male[​IMG]
    Black Face Black Breasted Black Cheek male

    http://www.efinch.com/species/bfzeb.htm
     
  6. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Các dạng đột biến của Zebra (tiếp theo 3)

    Gray Cheek/Fawn Cheek Zebra Finch

    [​IMG]

    A combination of Gray Cheek and Black Cheek mutations. Female (left) and Fawn Cheek male (right)
    [​IMG]
    Gray Cheek female (left) and Fawn Cheek male (right)
    [​IMG][​IMG]
    Fawn Cheek male (left) Fawn Cheek female (right)

    http://www.efinch.com/species/fczeb.htm




    Crested Zebra Finch
    [​IMG] Gray male with Crest
    [​IMG]
    2 Crested chicks are easily seen next to a normal

    http://www.efinch.com/species/crestzeb.htm


    Yellow Beak Zebra Finch

    [​IMG] Yellow Beak Chestnut Flanked White female
    [​IMG]
    Black Face Yellow Beak female
    http://www.efinch.com/species/ybzeb.htm


    Timor Zebra Finch - Taeniopygia guttata guttata
    [​IMG] Timor Zebra Finches (male left, female right)
    A Timor Zebra male (click to view)[​IMG]

    [​IMG]
    Timor male,(left) Australian male, (right). Notice the lack of stripes under the beak of the Timor.
    http://www.efinch.com/species/timor.htm


    -------------------

    -------------------------------------Hết-----------------------------------------

    ------------------

    Thật là kì diệu phải không các bạn.

    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:48 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:39 PM ----------


    Loạt bài dịch về các loài Finch sẽ tạm thời bị gián đoạn tại đây. Vì Nguyên mới dịch tới đây à. Các loài tiếp theo Nguyên sẽ dịch sau. Chúng ta chuyển sang phần khác đi nha.
    ----------------
    Tiếp theo Nguyên sẽ dịch về cách chế biến thức ăn, đảm bảo sẽ rất thú vị.
    ---------------
    Mong các bạn vẫn tiếp tục ủng hộ.
    --------------
    Ai thấy hay thì bấm thank dùm Nguyên nha. Như là một động lực để Nguyên miệt mài dịch tiếp...
     
    Last edited: 19/6/10
    nttnqb, hhhnam, thangbvvp and 71 others like this.
  7. kissdeaf

    kissdeaf Member

    Tham gia:
    7/7/08
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    8
    Đến từ:
    pleiku
    dịch tiếp đi!!!!!!!
    bài viết ấn tượng lắm!
    thank vì bài viết công phu này, rất hữu ích, nếu bạn không dịch kịp, đưa link lên mình dịch với!
     
    phuongpn and DIENTHUY like this.
  8. mrQuyet

    mrQuyet Well-Known Member

    Tham gia:
    2/8/10
    Bài viết:
    56
    Thích đã nhận:
    18
    Đến từ:
    Hải Phòng
    bài viết tỉ mỉ thật. Bạn dich tiếp cho mọi người cùng đọc nào :D
     
  9. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Khi mình đọc lại những bài viết này thì nhận thấy bài viết còn nhiều thiếu sót lắm. Nhất là khi đọc bài của đại sư tỉ GC thì cảm thấy mắc cỡ quá nên mình lặng mất tâm một thời gian dài luôn.
    Hôm nay lò dò lên coi thử xem đứa con đầu lòng của mình như thế nào rồi, giờ thấy không bị chê nên cũng thở phào nhẹ nhõm. Hì. Cảm ơn mọi người nhiều lắm.
    Vậy thì mình sẽ lấy lại can đảm dịch thêm một số bài nữa. Còn nhiều kiến thức hay lắm. Mà tài liệu tiếng Việt thì lại còn ít quá.
    Mình dịch để học theo và chia sẽ với các bạn cũng là ma mới giống như mình ^_^.
    Sau khi đọc lại thì mình nhận ra là mình đã dịch sai một số lỗi khá lớn, nhưng mình lại chưa đủ 10 bài nên chưa sửa được, để khi sửa được mình sẽ sửa liền.
    Sau một thời gian tích góp thêm kinh nghiệm bản thân, mình nghĩ là những bài viết tới của mình sẽ tốt hơn. Mong mọi người vẫn tiếp tục ủng hộ cho Nguyên nhé.
    Thân chào mọi người. \ (^_^) /
     
  10. duchatinh

    duchatinh Well-Known Member

    Tham gia:
    18/4/08
    Bài viết:
    665
    Thích đã nhận:
    1,017
    Đến từ:
    Sài Gòn - Hà Tĩnh
    Mong chờ bài về Gouldian Finch của bạn Thảo Nguyên, cảm ơn bạn nhiều nhé ^^
     
    peter_parker and buihuuhung like this.
  11. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Nguyên đã dịch nhanh nhất có thể phần những chú Gouldian này theo yêu cầu của ducchatinh.
    Công nhận chăm những chú Gouldian này khó thiệt đó, có thể so sánh với loài cá đĩa bên thế giới thủy sinh. ^_^
    ---------- Bài viết thêm vào lúc 10:56 PM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 10:48 PM ----------
    [FONT=&quot]Gouldian Finch - Chloebia gouldiae (changing to Erythrura gouldiae)[/FONT]
    [​IMG]
    [FONT=&quot]Tên thường gặp[/FONT][FONT=&quot]
    Lady Gouldian, Rainbow finch, tên gọi rút ngắn thường là Gould.
    Ở Việt Nam thường được gọi là chim Bảy màu.
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Đặc điểm[/FONT]
    [FONT=&quot]Con trống: Màu của mỏ và bụng thường được dùng làm đặc điểm nhận dạng. Con trống sẽ có màu tím bóng hơn và đậm hơn ở cổ, và màu vàng ở bụng sẽ đậm hơn và rộng hơn là con mái. Màu xanh lá ở trên lưng và màu xanh biển lợt ở quanh mặt cũng đậm hơn. Thông thường thì mặt nạ ở con trống cũng rộng hơn và rõ ràng hơn con mái, nhưng không phải lúc nào cũng vậy khi mà có một số loại có màu sắc của mặt nạ bằng nhau với cả 2 giới.Con trống sẽ hót 1 bài hát gần như không nghe được khi đang rướn mình và nhún nhảy trên cành. Chúng luôn bắt đầu bài hát này khá lâu trước khi chúng hoàn toàn thay lông thành những màu sắc cảu con trưởng thành.[/FONT]
    [FONT=&quot]Con mái: Con mái có màu lợt hơn trên cổ, bụng và lưng của chúng. Mỏ của con mái sẽ chuyển từ màu trắng ngọc trai sang màu đen khi mà cô ấy đang trong thời kì sinh sản.[/FONT]

    [FONT=&quot]Thức ăn[/FONT]
    [FONT=&quot]7 màu có niềm hứng thú thực sự với những hạt ngũ cốc lớn và sẽ hất hầu hết những hạt nhỏ trong khẩu phần finch tiêu chuẩn, do đó tôi thường cho chúng ăn khẩu phần như loài parakeet hoặc chỉ đơn giản là cho ăn hạt kê trắng mà thôi. Chúng hơi nhút nhát với những loại thức ăn mới nhưng thường thì có thể sẽ ăn thêm thức ăn trứng, rau xanh, hạt ngâm hoặc đã nảy mầm, nhưng tôi ít khi cho chúng ăn rau xanh. Sạn và canxi dưới dạng vở sò và trứng nghiền nên luôn có sẵn cho chúng. Nhiều người sẽ chỉ cho chúng gặm xương mực trong vài trường hợp đăc biệt nhưng tôi thì cứ cung cấp sẵn cho chúng. Trứng và vỏ sò nghiền là nguồn nạp canxi yêu thích của chúng và chúng cần nguồn canxi nhiều hơn những laooif finch thông thường khác. Gould cũng có một nhu cầu về i-ốt cao. Thiếu i-ốt trong khẩu phần ăn sẽ dẫn đến tình trạng mất những phần lông quanh đàu của chúng. Một khi nguồn i-ốt được tăng lên, những cọng lông này sẽ mọc lại. Hầu hết Vitamin, khoáng chất và i-ốt thường được bổ sung trong thức ăn trộn, nhưng nếu bạn thấy như vậy vẫn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu của chúng thì bạn có thể cung cấp thêm i-ốt trong nước uống. Bạn có thể mua các nguồn cung cấp i-ốt trong các cửa hàng thức ăn lành mạnh (health food store) hoặc từ những nguồn khác. Lưu ý rằng đây là i-ốt từ nguồn thực phẩm chứ không phải loại i-ốt dùng để chăm sóc vết thương! Potassium Iodine là loại mà bạn nên tìm.[/FONT]
    [FONT=&quot]
    [/FONT][FONT=&quot]Sinh sản[/FONT]

    [FONT=&quot]Những bài báo cáo trước đây về loài Gould đã cho thấy bộ mặt nhạy cảm và khó sinh sản của chúng. Chúng cần những môi trường ấm áp. Tình trạng hiện nay của Gould được xác định như một loài đã hoàn toàn thuần hóa. Tôi tin rằng một số tính chất nhạy cảm của chúng là dựa vào cách đối xử của những người cho sinh sản. Chúng xem thật yếu đuối, sinh sôi chậm và sẽ chết nếu bị đối xử khác với môi trường trước đó. Những chú Gould của tôi được ở trong những phòng chim không bị hắt nắng và thường giảm đến âm 40 độ F vào mùa đông và lên tới 100 dộ vào những ngày nóng nhất của mùa hè. Chúng sẽ sinh sản từ tháng 10 đến tháng 3 hoặc 4, với thời kì sinh sản chính là từ tháng 12 tới tháng 1 – những tháng lạnh nhất trong năm. Chúng là những nhà sinh sản sẵn sàng và sẽ phát triển bầy con của chúng trong những lồng nhỏ và những aviary có trồng cây. Tôi sử dụng chuồng sinh sản cá nhân mà tôi đã sử dụng cho đám Zebra của tôi (xem hình: [/FONT][FONT=&quot]Small breeder[/FONT][FONT=&quot] , [/FONT][FONT=&quot]How to build an all wire cage[/FONT][FONT=&quot]) với những ổ đẻ thông thường ở bên trong. Những chú Gould khoái loại tổ mà tôi làm cửa ra vào ở trên nóc (xem hình: [/FONT][FONT=&quot]nestbox[/FONT]). [FONT=&quot]Điều này cho phép chúng có thể chui vào tận trong cùng của cái hộp để trốn. Chúng không phải là những bậc thầy về xây tổ, chúng sẽ sử dụng những nguyên liệu thô, và những nguyên liệu mềm sẽ bị bỏ qua hoặc thậm chí là bị quăng ra nếu như được đặt sẵn trong hộp. Con trống sẽ nhận nhiệm vụ chính là cung cấp nguyên liệu bằng cách đi nhặt và tha về tổ, con mái sẽ sắp xếp những nguyên liệu này theo ý thích của chúng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Gould có thể đẻ những tổ trứng lớn đến ngặc nhiên. Trung bình là từ 5 đến 8 trứng, nhưng nhũng ổ lớn hơn cũng không phải là hiếm. Thời kì ấm trứng thường bắt đàu từ khá sớm, chỉ ngay sau khi đẻ được 1 hoặc 2 trứng. Một cặp sẽ chia nhau nhiệm vụ ấp trứng trong suốt những ngày này, nhưng khá thường xuyên khi thấy con trống ở ngoài vào ban đêm. Điều này khi phải là ngạc nhiên khi mà Gould khoogn phải là một loài clumping (đoàn kết – sống theo bầy). Nghĩa là chúng sẽ chỉ sống hào thuận theo cặp hoặc đàn lớn hoặc chỉ một cặp với các loài chim khác. [/FONT]
    [FONT=&quot]Sau 13-14 ngày ấp trứng,, những chú chim non bắt đầu nở ra. Chúng nhỏ xíu, màu hồng và không có bất kì lông măng nào. Chúng có thể dễ dàng nhận ra nhờ vào những đốm sáng ở mép miệng ([/FONT][FONT=&quot]see mouth markings[/FONT][FONT=&quot]). Cặp chim sẽ tiếp tục ấp và chăm sóc con non, và con trống sẽ vẫn ở bên ngoài vào ban đêm. Sau khoảng 10 đến 14 ngày, tùy thuộc vào độ lớn của ổ, con mái cũng bắt đầu ngủ bên ngoài hộp vào ban đêm. Điều này có vẻ là khá sớm khi những chú chim con chỉ mới bắt đầu nhú lông ống, nhưng xem ra chúng vẫn ổn ngay cả khi nhiệt độ hạ xuống đến (the low 30's - ?). Tôi nghĩ điều này là quan trọng khi mở đèn để chúng hoạt động từ 14 tới 15 tiếng 1 ngày. Nếu được sinh sản hoang dã, những đêm mùa đông kéo dài sẽ là quá lâu cho những chú chim non với cái bụng trống rỗng, đặc biệt là khi trời quá lạnh.[/FONT]
    [FONT=&quot]Chim non sẽ bắt đầu tập bay vào khoảng ngày 22-25. Tại thời điểm này, chúng sẽ có bộ lông màu xanh lá xỉn màu và cái bụng màu da trâu (xem hình: [/FONT][FONT=&quot]see juveniles[/FONT][FONT=&quot]). Khi mà chúng đã bắt đầu bay được, một số sẽ không trở về tổ vào ban đêm, mà sẽ ở bên ngoài với cha mẹ của chúng. Cặp bố mẹ sẽ tiếp tục mớm thức ăn cho chim con thêm khoảng 2-3 tuần nữa. trong khoảng thời gian này, con mái sẽ bắt đầu đẻ ổ trứng khác trước khi lứa trước đủ cứng cáp. Nên cho cặp bố mẹ thời gian để phục hồi lại cơ thể trước khi cho sinh sản những ổ mới, nếu không những ổ này sẽ ít trứng và khả năng nở không cao. Những ở đẻ sớm này có thể được lấy ra và đưa cho Sắc nhật ấp và chăm sóc. Khi những con chim con đã cứng cáp và rời bố mẹ, cặp đôi sẽ đẻ một ổ trứng mới và ấp và chăm sóc con con như bình thường.[/FONT]
    [FONT=&quot]Những con mới, đôi khi được gọi là ‘greens’ – ‘rau xanh’, có thể sẽ cần đến tận 9 tháng để hoàn toàn thay lông thành bộ lông hoàn chỉnh. Mặc dù vậy, có khi chỉ cần khoảng 4- 6 tháng, tùy thuộc vào nhiệt độ. Một số nhà nhân giống thì cho rằng điều này là phụ thuộc vào chất lượng ăn. Tôi không có kinh nghiệm về điều này vì tôi không nuôi Gould nhiều bằng Zebra. Chúng cần lượng chất đạm nhiều hơn Zebra, nhưng điều này quả thật không phải là bất thường, mà là Zebra và Society cần lượn chất đạm thấp hơn bình thường.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi luôn luôn cho những chú Gould sinh sản theo từng đôi riêng lẻ. Tôi đã và đang cho chúng sinh sản theo kiểu 2 đến 3 cặp nhưng cách này thường không thành công được như thế. Một số nhà nhân giống đã cho chúng sinh sản cực kỳ thành công trong các colony – thuộc địa. Những thuộc địa này là một kiểu lớn hơn cả những aviary to, với ít nhất 4 cặp trong đó. Khi mà những chú chim bắt đầu sống hòa bình, chúng sẽ tự bắt cặp và sinh sản trong lãnh thổ của chúng.[/FONT]
    [FONT=&quot]Một số cặp Gould là những tên quăng con ‘khét tiếng’. Thường thì thời kì ấp vẫn diễn ra bình thường, nhưng khi mà những con con nở thì chúng sẽ sớm loại bỏ. Thường là những con trống giục con ra ngoài, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Tôi cam thấy là hầu hết chúng là những cặp chim còn trẻ và chưa haonf toàn tới thời kì sinh sản. Tôi cũng rút được kinh nghiệm là sẽ là mất thời gian khi cố gằng đưa những con non về hộp, nếu chúng còn sống, bởi vì chúng chắc chắn sẽ lại bị vứt ra. Con non có thể được gởi cho cặp Gould khác hoặc những chú Society. Nếu có thể, thử ghép một con lớn tuổi với 1 con trẻ và chờ cho đến khi nhugnwx chú chim đến đỉnh cao của thời kì sinh sản thì mới cugn cấp hộp đẻ. Tôi kiểm tra màu sắc của mỏ để xác định thời kì sinh sản. Con trống nên có màu trắng ngọc trai với chóp màu đỏ và con mái thì có cái mỏ cực kì đen. (Chú ý: những con đột biến có thể có màu mỏ khác.)[/FONT]

    [FONT=&quot]Các màu đột biến[/FONT][FONT=&quot]
    Có 3 màu tự nhiên dựa vào màu morph trên đầu ở ngoài hoang dã (Morph ở đây được sử dụng thay cho màu đột biến vì nó là dạng dựa vào màu sắc tự nhiên). Thể Đầu Đỏ là hình thức hoang dã bình thường. Thể Đầu đỏ bị chi phối nhiều bởi thể màu đen, nhưng nó đã vượt rất xa sự đa dạng của đầu đen trong tự nhiên. Đầu vang hoặc Cam thì hiếm gặp vì nó là một dạng đột biến lằn và nó cũng cần đến sự hiện diện của gen đầu đỏ để được nhìn thấy.[/FONT]

    [FONT=&quot]Những màu đột biến bao gồm: Ngực trắng (thay vì ngực tím),lưng vàng (loại bỏ màu xanh và màu đen), và lưng xanh dương (loại bỏ màu vàng). Việc làm sao mà những dạng đột biến này xuất hiện và sự kết hợp này có thể gây nhầm lẫn cho các nhà lai tạo.[/FONT]
    [FONT=&quot]Màu đầu – Thể đầu đỏ là morph phân biệt giới tính của con đực mà được xây dựng bởi 1 hoặc gấp đôi đặc điểm của những con đực ?, trong khi con mái thì chỉ cần thừa hưởng 1 gene từ con bố đã có thể xuất hiện mặt đỏ. Những con đực chỉ có 1 yếu tố của đầu đỏ có thể được ghép với cả con mái đàu đỏ lẫn đầu đen. Đầu vàng (hoặc cam vì nó thực sự là một màu cam gỉ) là một tính trạng lặn, và cần sự xuất hiện của yếu tố đầu đỏ để có thể xuất hiện. Nếu như chú chim là đầu vàng (có 2 gene của đàu vàng), nhưng nó có cả gene của đầu đen, thì nó vẫn sẽ có đầu đen. Tuy nhiên chóp của mỏ sẽ có màu vàng thay vì màu đỏ. [/FONT]
    [FONT=&quot]Màu ngực- màu đột biến ngực trắng là tính trạng lặn. Nó loại bỏ màu tím để còn lại một màu trắng tinh. Nó được thừa kế riêng biệt với màu đầu, và có thể kết hợp với bất kì màu đầu nguyên bản nào. Ngực màu hoa Tử Đinh Hương (Lilac) có lẽ liên quan đến đột biến màu trắng bằng cách nào đó. Nó không rõ ràng là do thừa kế mà chỉ đơn giản là một kiểu đàn áp chưa hoàn toàn màu tím của gene màu trắng. Con trống với ngực màu Lilac thường bị nhầm lẫn thành con mái. Màu sắc đậm ở bụng sẽ giúp phân biệt những con này với những con mái bình thường.[/FONT]
    [FONT=&quot]Màu lưng – Lưng màu xanh dương là một tính trạng lặn. Chúng loại bỏ màu vàng trên Gould và tạo nên màu sắc tương ứng. Lưng màu xanh lá thông thường sẽ chuyển sang xanh biển, bụng vàng sẽ bị chuyển sang màu trắng xỉn màu và nếu chú chim có đầu màu đỏ hay vàng, khi đó đều sẽ chuyển thành màu thịt cá hồi (màu da cam hơi hồng). Cái mỏ có màu trắng ngọc trai và không có điểm màu ở đầu mỏ, nên sẽ không có cách nào để phân biệt giữa những chú đầu đỏ lưng xanh dương và đầu vàng lưng xanh dương. Mặt nọ nhìn cũng giống nhau. Chỉ có thể dựa vào thế hệ sau để biết chúng mang gene gì. Tôi đã cho bắt cặp 2 con Gould đầu vàng thông thường với con lưng xanh dương để có được một con đàu vàng lưng xanh dương thực sự. Chúng trông rất là giống những con lưng xanh dương khác với cái đầu màu cá hồi khác. [/FONT]
    [FONT=&quot]Lưng vàng là một dạng đột biến liên quan đến giới tính thuần chủng ở US và Châu Âu. ( Có một tính trạng lặn giống hệt nhau ở Úc và Nam Phi). Những đột biến sẽ lấn át màu xanh biển và đen ở chú chim. Màu lưng xanh lá thông thường sẽ chuyển sang vàng, vòng màu đen trên mặt cũng được loại bỏ và thế hệ của những con đầu đen sẽ có mặt nạ màu xám. Con trống có gen lưng vàng với chỉ một gene được thừa hưởng sẽ bị pha loãng. Chúng vẫn có màu xanh lá trên lưng, nhưng sẽ bị lợt đi và vòng mặt màu đen sẽ bị loại bỏ hoặc suy giảm. Có một sự ngoắt nghéo ở đây, nếu như một con trống thừa hưởng 1 gene lưng vàng, và cũng là một chú ngực trắng, nó sẽ có bề ngoài của một chú lưng vàng. Thông thường sẽ có vài đốm xanh lá trên lưng, nhưng chú ta chắc chắn không phải là một pha tạp. Con mái không thể có những đột biến liên quan đến giới tính, do đó nó sẽ chỉ thừa hưởng 1 gene lưng vàng và có thể trạng của một chú vàng. Do đó, những con mái bị lai sẽ không bao giờ được cho sinh sản dù cho có màu ngực nào.[/FONT]
    [FONT=&quot]Sự kết hợp của 2 màu lưng tạo ra những con có màu mờ nhạt và chỉ cho thấy những màu đã được gỡ bỏ. Chúng được gọi là những con màu xám. Cá nhân tôi, tôi không quan tâm lắm đến việc phát triển chúng khi mà nó loại bỏ những màu sắc đã khiến cho loài Gouldian trở thành loài chim sặc sỡ tuyệt vời đến thế.[/FONT]
    [FONT=&quot]The combination of the two back colors results in a pale bird that only faintly shows the colors that were removed. These are called Silvers. Personally, I see little point to their development as it is the elimination of all the color that makes the Gouldian such a magnificent bird.[/FONT]

    [FONT=&quot]Dưới đây là hình ảnh của các màu đột biến:[/FONT]
    [FONT=&quot]Naturally Occurring Color Morphs[/FONT]

    [FONT=&quot]Black Headed male (click to view)[/FONT]
    [FONT=&quot]Normal wild state[/FONT]
    [FONT=&quot]Red Headed - males (above, middle of page)[/FONT]
    [FONT=&quot]Dominant Sex-linked[/FONT]
    [FONT=&quot]Yellow (Orange) Headed male (Top of page)[/FONT]
    [FONT=&quot]Autosomal Recessive. Also require Red Head to be present[/FONT]
    [FONT=&quot]Mutations Developed in Aviculture (USA)[/FONT]

    [FONT=&quot]Blue Backed RH male (click to view)[/FONT]
    [FONT=&quot]Blue is Autosomal Recessive[/FONT]
    [FONT=&quot]Blue Backed BH female (click to view)[/FONT]

    [FONT=&quot]Yellow Backed White Breasted YH male (click to view)[/FONT]

    [FONT=&quot]Yellow Backed White Breasted RH male (click to view)[/FONT]
    [FONT=&quot]Yellow is Co-dominant Sex-linked. Males in single factor are dilutes[/FONT]
    [FONT=&quot]White Breasted RH male (click to view)[/FONT]
    [FONT=&quot]White Breast is Autosomal Recessive[/FONT]
    [FONT=&quot]Lilac Breasted[/FONT]
    [FONT=&quot]Lilac Breast is Autosomal Recessive. Possible link to White Breast[/FONT]
    [FONT=&quot]Dilute Males[/FONT]
    [FONT=&quot]A single factor Yellow Backed male. No females can be produced[/FONT]
    [FONT=&quot]Silvers[/FONT]
    [FONT=&quot]A combination of Yellow back and Blue Back[/FONT]
    [FONT=&quot]Lutino[/FONT]
    [FONT=&quot]Sex-linked recessive (USA)

    [/FONT]
    [FONT=&quot]Một số thông tin thêm[/FONT]
    [FONT=&quot](Phần này nói về một loại bệnh rất nguy hiểm cho Gould. Đó là một loại mạt tên là Air Sac, chúng sẽ tấn công vào đường hô hấp, khiến cho chú chim khó thở. Tiếng thở của những con bị bệnh này khác với tiếng thở thông thường, nó có âm thanh từa tựa tiếng click chuột vi tính, người có kinh nghiệm có thể đặt chúng sát tai để lắng nghe. Kèm theo là cách phòng ngừa và tiêu diệt loại mạt này với khá nhiều tên thuốc, có cả việc sử dụng một loại thuốc trù sâu liều lượng nhẹ không gây nguy hiểm cho Gould để diệt; và cách ngăn không cho lây lan, đó là lấy vải trùm và cách ly. )[/FONT]
    [FONT=&quot]Gouldians seem particularly susceptible to Air Sac mites. This highly contagious parasite invades the respiratory system and will eventually cause the death of the bird. A bird with Air Sac mites will seem lethargic and have difficulty breathing, but the sure sign of the parasite is a clicking sound that the bird makes when breathing. (Bird keepers should hold up a healthy bird to their ear so that they can tell the difference between normal respiration and the labored breathing caused by Air Sac mites.) Some breeders hang a pest strip near their cages as a preventative. Treatment for the mites varies from breeder to breeder. The most popular treatment products today are Ivermectin and a Vetafarms product called SCATT (Moxidectin). With both products (developed as wormers for the cattle and swine industry), a drop is placed on the bare skin of the bird to kill the mites systemically. Care should be taken not to exceed the recommended dosage. Some instructions recommend placing a drop on the bare skin between the shoulders. I find it difficult to part the feathers with the same hand I am using to hold the bird with and use the other hand to administer the medication. I pull back a wing and place the drop in the exposed wing pit. Another method of treatment for Air Sac mites is known as the 'shake and bake' method. A teaspoon of Sevin dust (a pesticide) is placed in a paper bag. The bird is quickly sealed in the bag and as it flaps around it creates a cloud of dust and breathes in some of the pesticide. The trick here is to dose the bird with enough pesticide to kill the parasite, but not so much as to kill the bird.[/FONT]
    [FONT=&quot]Chim Gould đã ngày càng hiếm hơn trong môi trường tự nhiên và đang được xem xét như một loài trong tình trạng bị đe dọa. Sự suy giảm này liên quan mật thiết đến điều kiện môi trường, một số bằng chứng cho thấy là bởi loài mạt Air Sac. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây tập trung vào việc thường xuyên đốt cỏ của người Châu Úc. Những thổ dân đã đốt cỏ để phục vụ cho sự gia tăng của họ. Ddieeeuf này làm giảm nguồn thức ăn cũng như nơi trú ẩn khiến cho số lượng của chúng ngoài tự nhiên ngày càng giảm.[/FONT]
     
    Last edited: 21/8/10
    nttnqb, a_cong, hoaibackts and 18 others like this.
  12. Relax

    Relax Member

    Tham gia:
    22/8/10
    Bài viết:
    20
    Thích đã nhận:
    2
    Đến từ:
    HCMC
    Tuy là bài dịch nhưng bạn cũng phải bỏ rất nhiều công sức mới post bài như thế này được.
    Rất bổ ích cho những người mới tiếp cận loài finch như mình. Cố lên bạn nhé!
    Thanks!
     
  13. tranhuy

    tranhuy Well-Known Member

    Tham gia:
    8/7/08
    Bài viết:
    73
    Thích đã nhận:
    92
    Đến từ:
    tp pleiku
    quá hay, nhưng sao bạn không viết về yến phụng hả bạn?
    cái này mình đang quan tâm, chẳng biết học hỏi kinh nghiệm của ai cả.
    mong bạn chỉ giúp cách nuôi và cả về cách làm thức ăn cũng như công thức pha trộn các loại hạt chim yến phụng lúc non, đến khi trưởng thành và cả lúc đẻ nữa.
    xin chân thành cảm ơn bạn.
     
  14. thao_nguyen

    thao_nguyen Member

    Tham gia:
    16/6/10
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    279
    Đến từ:
    Hồ Chí Minh
    Uhm, vậy thì mình sẽ tìm bài về yến phụng. Sẽ sớm post lên. ^_^
    ---------- Bài viết thêm vào lúc 09:46 AM ---------- Bài viết trước được viết vào lúc 09:37 AM ----------
    Lên google.com search "Cách nuôi chim yến phụng" là ra một đống rồi. Hi.
    Mình thấy bài này hay nhất, bạn xem thử xem sao. Thân mến. ^_^
    Nguồn: http://cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=5938&/Nu-ocirc-i-chim-Yen-phung.csv

    NUÔI CHIM YẾN PHỤNG [​IMG]Yến Phụng có rất nhiều màu: xanh, tím, vàng, trắng....trong đó có 2 loại mang màu sắc hoang dã trong tự nhiên là vàng mắt đỏ và trắng mắt đỏ<thể bạch tạng>, nếu nuôi chơi thì không bàn, vì càng nhiều màu càng đẹp, còn nuôi đẻ, SB xin các bạn hãy tránh 2 loài trắng mắt đỏ và vàng mắt đỏ ra.lý do là hai loại này đẻ ít lứa hơn các loại khác khi già đi! vậy thôi!

    Nuôi Yến Phụng, ta phải nuôi ít nhất là 2 con, vì loại này có tập tính sống theo đàn, mặc dù có người bảo nuôi 1 con thì để thêm tấm gương vào lồng cho nó, nhưng nên mua thêm một con.

    Yến phụng thể tạng không lớn lắm, nhưng nó cần lồng rộng rãi để bay phạch phạch từ góc này sang góc khác..thế nên, bạn chọn mua lồng càng to càng tốt, có thể ghép từ 2 lồng đơn lại (80x40x40), để nuôi 1 cặp thôi, như thế chim sẽ khỏe mạnh hơn!

    Sau khi có lồng, ta mới đi mua chim...vấn đề là khi ta tung tăng ra tiệm bán chim với hơn 50k trong tay, và đang băn khoăn trước một lồng Yến Phụng quá trời nhiều, con nào cũng hét toáng cả lên..thì phải lựa sao đây??

    Lựa chim:

    - Nên lựa bắt những con "tơ", tức là chim lứa mới ra...đặc điểm nhận biết của chim tơ là mắt tròn, to, đen láy, linh hoạt, chân hồng hào, thân hình gọn gàng, chắc gọn, khi bắt trên tay thấy ít giãy giụa, ít cắn<nhớ đừng bóp nó>.[​IMG]
    -Trong lồng bán thường có cả chim già, hoặc chim đã lớn, hoặc chim bệnh..nói chung là vì một lí do chẳng hay ho nào đó mà người ta mới bán nó đi, đặc điểm của những con chim này là mắt có nhiều tròng trắng, chân màu xám, sù sì, vùng da quanh mũi cũng sù sì, thần hình mập, hay đứng xù lông, hoặc cứ bám vào vách lồng, lông đuôi không còn đủ..những con này chắc chắn 100% là đang bị shock hoặc bệnh, mua về thì.....

    - Nếu muốn mua một đôi chim đẻ, tốt nhất là đến các trại chim, hỏi mua cả cặp<chứ đừng thấy con này con kia đẹp mà đòi tách nó ra>, và nhớ là chỉ mua cặp nào đang nuôi con, Yến Phụng vốn khó tính, nếu mua cặp đang ấp, mình đem về nhà mà nó lên cơn, nó bỏ ấp, và..bỏ nhau luôn.

    - Xác định trống mái: nếu bạn mua chim lớn thì trống mái phân biệt rất rõ, con chim mái, dù là màu gì, thì vùng da quanh mũi nó đều có màu cam vàng vàng, tất cả các màu khác(hồng, xanh) đều là chim trống...tuy nhiên, nếu mua chim tơ dưới 2 tháng tuổi thì ..chịu..mũi con nào cũng như nhau!

    - Sau khi mua về, ta thả chúng vào lồng, phải nhẹ nhàng..không làm chúng hoảng sợ..Yến Phụng mà sợ quá, tự nhiên lăn quay ra..chết!<khi thấy mèo vờn, khi bị shock, khi mất ổ con..v.v>, nhưng thường khi mới mua về thì không sao đâu!

    - Có lồng, có chim, giờ mình tính tới chuyện chăm sóc cho nó!

    - Trong lồng: phải treo nhiều đồ chơi cho nó chơi như vòng để nó đánh đu..nhánh cây nhỏ nhỏ vươn ra để nó leo trèo.Lồng chim phải đặt nơi yên tĩnh, ít chó mèo qua lại..ít nắng chiếu trực tiếp, và không bị gió lùa, mưa hắt..

    [​IMG]- Cho ăn: Yến Phụng rất dễ nuôi, cho ăn lúa không nó cũng sống! Bình thường cho ăn với tỉ lệ 5 lúa 5 kê, nhưng khi nó đẻ thì tắng kê lên 7 phần, và thỉnh thoảng phải cho thêm bắp non để chim nuôi con. Ngoài ra, phải cho chim ăn thêm rau xanh, như xà lách, rau muống.Yến phụng rất thích rau mà! nhưng rau cho chim ăn phải lựa và ngâm rửa kĩ hơn..cho người ăn nữa..nếu không, chim sẽ bị bệnh tiêu chảy! Ngoài rau, còn phải bổ sung khoáng cho chim ăn nữa...công thức khoáng trong sách nuôi Yến Phụng của tác giả việt Chương là được! nếu không có thời gian làm, bạn có thể cho chim ăn mai mực, cũng khá ổn!

    - Tắm: Yến phụng rất thích tắm, bạn cho ăn rau mà còn nước, sẽ thấy nó lao vô "tắm khô" trong lá xà lách..khoảng 3 ngày một lần, bạn để một dĩa nước nhỏ, có pha thêm chút muối vào lồng,, để chim tắm mát, và ngừa rận mạt.

    - Vệ sinh: phân Yến Phụng không hôi như phân gà vịt hay cà cưỡng, nhưng cứ 2 ngày một bạn nhớ thay vĩ phân bên dưới đi, không thì đó là nguồn gốc bệnh tật sau này!

    - Bệnh: nuôi Yến Phụng trước giờ, thứ bệnh duy nhất là bệnh tiêu chảy, chim bị bệnh này phân nó hôi lắm..cái này là do rau xanh rửa không sạch sẽ, chú ý đến vấn đề thức ăn, cho ăn thức ăn sạch sẽ kĩ lưỡng một thời gian, bệnh sẽ tự hết! còn một bệnh nữa là bệnh "bong vảy", đó là hiện tượng lớp vảy chân chim bong lên, sù sì, xấu....bệnh này nếu chớm thì mình bắt chim ra, lau chỗ bị bệnh bằng thuốc tím mỗi ngày, nhưng nếu nặng thì..bó tay! bệnh này cũng do chuồng dơ bẩn nhiều đó thôi.
     
    Last edited: 21/9/10
    nttnqb, phamimhdung, haohao and 4 others like this.
  15. ConChimNon

    ConChimNon Well-Known Member

    Tham gia:
    13/11/08
    Bài viết:
    482
    Thích đã nhận:
    230
    Đến từ:
    Vũng Tàu Biển Hú
    tiếp đi bạn ơi , đang hấp dẫn mà , mình đang chờ phần 2 đây
     
  16. Solid Blue Discus

    Solid Blue Discus Well-Known Member

    Tham gia:
    3/9/05
    Bài viết:
    1,248
    Thích đã nhận:
    1,846
    Đến từ:
    Thành Phố Hồ Chí minh
    Link gốc của bài viết từ diễn đàn mình mà rồi bạn thaonguyen lại đi quote về tận đâu đâu.
    http://www.aquabird.com.vn/forum/showthread.php?t=3647&page=1

    Lưu ý thêm rằng bây giờ nếu chân chim bị bong tróc/ scaly feet, thì chúng ta vẫn có thể chữa khỏi bằng cách bôi ivermectin đều đặn hằng ngày. Lúc trước viết bài đấy thì SB chưa tìm ra được cách chữa hữu hiệu. :)
     
    khoekhoang, cuonganpha and ToanDN like this.
  17. hoanglata

    hoanglata Well-Known Member

    Tham gia:
    10/2/10
    Bài viết:
    63
    Thích đã nhận:
    58
    Đến từ:
    ho chi minh
    hiện tại mình cũng chỉ nuôi 3 loại này thôi, đơn giản vì chúng rẻ tiền hơn các loại khác và chỉ có mai hoa là khó đẻ thôi nhưng chúng có màu sắc đẹp và giọng hót hay .
     
    truc_luoichi thích bài này.
  18. hoanhhoach

    hoanhhoach Well-Known Member

    Tham gia:
    26/8/13
    Bài viết:
    53
    Thích đã nhận:
    19
    Đến từ:
    tphcm
    rất hữu ich cho mem mới đang cần tham khảo như mình.cám ơn chủ thớt nhiễu thân!
     
  19. vusoftsoil

    vusoftsoil Well-Known Member

    Tham gia:
    28/6/08
    Bài viết:
    74
    Thích đã nhận:
    50
    Đến từ:
    TP.HCM
    Bài viết thật giá trị, nguồn thông tin tham khảo phong phú cho mọi người nuôi chim cảnh nói chung và dòng Finchs.
     

Chia sẻ trang này