Rằm Tháng Bảy - Mùa lễ Vu Lan

Thảo luận trong 'Chuyện khác - Chúc mừng - Thư giãn' bắt đầu bởi kenshin14488, 27/8/07.

  1. kenshin14488

    kenshin14488 Well-Known Member

    Tham gia:
    9/7/07
    Bài viết:
    456
    Thích đã nhận:
    80
    Đến từ:
    Aquarium City
    Nhân dịp ngày lễ Vu Lan, mình xin tổng hợp lại 1 số bài viết về ngày lễ này để anh em trên diễn đàn cùng đọc nhé! Hãy cùng dành chút thời gian để tưởng nhớ và đền đáp công ơn cho tổ tiên và đấng sinh thành của mình! Chúc mọi người có một Đại lễ thật hạnh phúc! Thân!

    Sự tích ngày rằm tháng Bảy

    Tháng 7 âm lịch, người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan. Đây là một đại lễ báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất – một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt, thể hiện tấm lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh.
    Tháng 7 còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang - Chức Nữ.
    Chúng ta cùng tìm hiểu về những sự tích, tập tục đầy tính nhân văn này nhé!
    [​IMG]
    Xuất xứ lễ Vu Lan

    Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

    Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

    Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".
    [​IMG]
    Thành tâm trước cửa bồ đề (Hình ảnh: VNN)​
    Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

    Sự tích ngày xá tội vong nhân:

    Sự tích lễ cúng cô hồn như sau: Cứ theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: "Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên".
    [​IMG]
    Mâm cúng chúng sinh (Hình ảnh: Chit xinh)​
    A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là "thả quỷ miệng lửa", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành "tha tội cho tất cả những người chết". Vì vậy, ngày nay mới có câu : "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".
    [​IMG]
    Nhưng lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng.

    Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ

    Thuở xưa, có vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng tên là Ngưu Lang, vì say mê nhan sắc của một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng thượng đế giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

    Nhưng về sau, Ngọc Hoàng nghĩ lại, thương tình nên ra ơn cho Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hoá thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu(thông thường vào tháng Bảy âm lịch) và gọi họ là ông Ngâu bà Ngâu.


    Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Các phường thợ mộc mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai. Kẻ muốn làm kiểu này, người muốn làm kiểu kia, cãi nhau chí chóe. Đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.

    Bị hoá làm quạ, các phường thợ mộc lại càng giận nhau hơn. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh.

    Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.

    Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.

    Ý nghĩa lễ Bông hồng cài áo

    "Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa".

    (Theo tản văn Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)


    Vẳng đâu đây lời Văn tế thập loại chúng sinh: "Lòng nào lòng chẳng thiết tha, Cői dương còn thế nữa là cői âm"

    Lại đến mùa lễ Vu Lan.

    Vào dịp này, trời thường mưa gió, sập sùi. Thủa trước, khi còn nghèo nàn, quang cảnh thôn quê rất đỗi thê lương. Nguyễn Du từng mô tả trong "Văn tế thập loại chúng sinh": "Trời tháng Bảy mưa dầm sùi sụt; Toát hơi mây lạnh ngắt xương khô; Não người thay buổi chiều Thu; Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng".

    [​IMG]
    Lễ cầu siêu ở nghĩa trangTrường Sơn​

    Tiết trời như vậy thật dễ làm cho con người ta thấy được sự mong manh của kiếp người với cõi người, và lễ xá tội vong nhân vào dịp này dường như càng là sự ấn định hợp lý của Trời, Đất và Đức Phật.

    Theo nhà Phật, đó là lễ Vu Lan, bắt nguồn từ tích Tôn giả Mục Kiền Liên thương mẹ bị đọa đầy dưới địa ngục, được Đức Phật chỉ bảo làm lễ cúng Giàng, chú tâm cầu nguyện thì có thể siêu thoát cho mẹ. Lại có một tích khác của người Trung Hoa kể rằng, ngày lễ trên có liên quan đến câu chuyện "quỷ miệng phun lửa" đến tịnh thất của ông A nan đà đòi ăn. Ông này sợ hãi, đến bạch đức Phật và được Ngài dạy đến rằm tháng Bảy làm lễ cúng quỷ phun lửa sẽ được thêm phúc đức.

    Nguời dân Việt tiếp nhận những tích chuyện này nhưng đã mở rộng ra, biến thành lễ "xá tội vong nhân". Không chỉ là dịp lễ để tỏ lòng thành kính với các bậc sinh thành, cũng không cúng riêng "quỷ miệng lửa" mà cúng tất cả các cô hồn nói chung. Nguời ta cho rằng, những ai khi sống phạm nhiều tội lỗi thì linh hồn sẽ bị xiềng xích chịu đày ải nơi địa ngục. Tuy nhiên, mỗi năm đến dịp rằm tháng Bảy, xiềng gông được mở để mọi cô hồn có dịp trở về dương thế gặp lại người thân, nhận tiền vàng, đồ ăn và quần áo. Mỗi năm một lần, mọi linh hồn, bất kể khi sống thế nào, đến ngày đó vẫn được "xá tội", được hưởng sự yêu thương của đồng loại. Nhà nhà mua sắm đồ vàng mã, nấu cháo loãng, rang bỏng ngô chuẩn bị cúng ngoài trời để đãi "ma đói" - những cô hồn vờ vật không có người thân cúng giỗ.

    Giáo sư Hoàng Như Mai nhận xét: "Ngày lễ Vu Lan, ngày Rằm tháng Bảy, ngày xá tội vong nhân có thể được coi là ngày tình thương Việt Nam vì con người, vì cuộc sống hiền hòa, an lạc, tiến bộ cho loại con người".

    Ngày lễ xá tội vong nhân năm nay có ý nghĩa đặc biệt.

    60 năm trước, nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người ở đồng bằng Bắc bộ. Nhiều gia đình, nhiều thôn xóm không còn ai sống sót. Những cô hồn của nạn đói năm Ất Dậu đang chờ đến ngày Rằm tháng Bảy để trở về dương thế nhận tình thương của đồng loại.

    30 năm trước, chúng ta kỷ niệm ngày kết thúc cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Hơn 4 triệu sinh linh Việt đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh đó. Hàng triệu người dân thường đã bỏ mạng vì tên bay đạn lạc. Đó quả là một sự mất mát, đau thương quá lớn mà những ai không trải qua không thể nào hiểu được. Muốn hàn gắn vết thương đó cần sự nỗ lực thật lớn lao từ tất cả mọi người, và thời gian là một yếu tố không thể thiếu.

    Ngày 27/7 vừa qua, lần đầu tiên, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng, liệt sĩ và đồng bào chiến sĩ trận vong tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Gần một vạn tăng ni, phật tử và đồng bào cả nước đã về đây thành kính dâng hương, tưởng nhớ đến những người đã bỏ mình vì nước. Trong dịp đó, không chỉ ở Quảng Trị mà khắp nơi trong cả nước, nhiều lễ cầu siêu, nhiều hình thức tưởng niệm đã được tiến hành. Các địa phương đều có những việc làm giàu ý nghĩa vừa sâu nặng, vừa thiết thực đối với thương binh và gia đình liệt sĩ, thấm đẫm nghĩa tình đồng bào.

    Do hoàn cảnh trớ trêu, có bà mẹ sinh được hai người con, người theo phía bên này, kẻ theo phía bên kia và đều chết trẻ. Mỗi lần đến rằm tháng Bảy, mẹ lại phải lần đến hai nơi để hương khói cho các con.

    Có một chuyện về bà mẹ Việt con mình hi sinh 30 năm chưa tìm được hài cốt nhưng năm nào đến Lễ Vu Lan cũng thắp hương cho ngôi mộ của phi công Mỹ trong vườn nhà. Đó là đạo lý, là triết lý sống của đa số người Việt.

    Có thể vì thế mà vào những ngày này, lòng chúng ta phần nào chưa yên vì còn không ít đồng bào, đồng hương của mình chưa được nhận nghĩa cả như vậy. Lễ Vu Lan sau 60 năm nước Việt Nam mới và 30 năm thống nhất đất nước, với tâm thức hướng về một chữ Việt toàn vẹn, đủ nghĩa, chúng ta thắp nén hương chung, một lễ cầu siêu chung cho tất cả những người con Việt Nam đã nằm xuống trong nạn đói năm Ất Dậu và trong suốt mấy cuộc chiến tranh. Tiếp tục chăm lo chu đáo hơn cho các gia đình liệt sĩ, thương binh và những người có công, nhưng cũng không quên những nạn nhân khác của cuộc chiến. Để vết thương được vĩnh viễn lành sẹo, để tạo ra sự đồng thuận của cả một dân tộc đang vươn lên thoát khỏi tình trạng kém phát triển, để dành lấy vị trí xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

    Vẳng đâu đây lời Văn tế thập loại chúng sinh: "Lòng nào lòng chẳng thiết tha, Cői dương còn thế nữa là cői âm. Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh. Thương thay thập loại chúng sinh".

    50 ngày trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: "Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi". Người không phân biệt gia đình thuộc phía bên nào. Người chỉ thấy hạnh phúc khi mọi người Việt Nam đều trở thành con một nhà, là công dân của một nước độc lập, dân chủ, tự do, phồn vinh và thịnh vượng để cùng sánh vai với các nước năm châu.

    Hiếu thảo - Giá trị muôn đời của con người

    TTO - Tình thương của cha mẹ vô bến vô bờ mà không bao giờ mong báo đáp. Và cũng không ai có thể hiểu được sự “cam chịu” của lòng mẹ trước những sóng gió cuộc đời đến đâu!

    Lòng hiếu thảo với cha mẹ như dòng chảy tự nhiên trong con người, nhưng người ta vẫn cần nhiều nỗ lực - để chữ hiếu còn là một chuẩn mực hành vi với những phương pháp, những kỹ năng làm người hiện đại.

    Sự hiếu thảo của con là điều mong đợi của cha mẹ, là nỗi niềm riêng tư có khi thật thầm kín của những người từng mang nặng đẻ đau và sinh thành dưỡng dục. Nhiều người con đã tìm cách tỏ bày sự hiếu thảo với mẹ cha, nhưng có khi chỉ mang lại sự buồn bực và âu lo, sự giận hờn và hối tiếc...

    Cuộc hành trình của mỗi chúng ta còn dài nhưng việc được sống bên cạnh mẹ cha không phải lúc nào cũng định liệu được. Hãy xem việc được gần gũi cha mẹ như một đặc ân, như một điều may mắn để “ngộ" được đạo làm con và đạo làm người mà cha mẹ từng ao ước cho con.

    Hiếu thảo không chỉ là thể hiện tình yêu thương với mẹ mà còn là điều kiện để chúng ta được sống như là chính mình, để cảm thấy mình vẫn cứ bé nhỏ khi về với gia đình thương yêu, vẫn như là những đứa trẻ tranh nhau nép mình vào vòng tay cha mẹ.

    Để trở thành người hiếu thảo, người ta phải được giáo dục và biết cách thể hiện điều mình muốn. Hiếu thảo là bổn phận, là cách sống thông thường của những người bình thường. Tấm gương của chính thái độ đối xử của cha mẹ với ông bà chính là nền tảng để nuôi dưỡng và sáng tạo những ứng xử hiếu thảo sau này cho con cái. Nói khác đi, sống có hiếu với cha mẹ ngày nay, đó là sự ươm mầm cho sự kính trọng của các con đối với chúng ta ngày sau.

    Xã hội ngày càng phát triển với những thay đổi tích cực về các giá trị, có thể chữ hiếu hôm nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau, mỗi người thể hiện sự hiếu thuận theo hoàn cảnh của mình, nhưng chắc chắn rằng, tính chất của mối quan hệ cha con, mẹ con sẽ không bao giờ thay đổi.

    Dưới mắt cha mẹ già, những đứa con bao giờ cũng nhỏ bé và cần được chở che và bảo bọc. Do đó, những chỉ dẫn ân cần, những lời răn chi tiết dù biết rằng có lúc sẽ hơi... lẩm cẩm nhưng lại là niềm vui của mẹ cha khi họ nghĩ rằng, họ vẫn còn dạy dỗ được con cháu. Vẫn biết có khi cha mẹ già cực kỳ khó tính, cực kỳ bảo thủ và cực đoan, song sẽ là thất thố khi cố tình tìm cách thay đổi thói quen của họ cho hợp vối nếp sống ngày nay!

    Hiếu thảo chỉ là một danh từ đơn giản nhưng đã trở thành ngôn từ thiêng liêng, trở thành một “điểm son” trong truyền thống gia đình, một danh xưng được tôn vinh cho người nào xứng đáng với nó.

    Theo Vietnamnet và TTO.
     

Chia sẻ trang này