Tản mạn về gà: một dấu tích văn minh nông nghiệp Đông Nam Á

Thảo luận trong 'Sinh hoạt cộng đồng Gia cầm' bắt đầu bởi Nguyen Hoang Ho, 2/4/10.

  1. Nguyen Hoang Ho

    Nguyen Hoang Ho Thành viên uy tín

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,163
    Thích đã nhận:
    1,177
    Đến từ:
    Nha Trang
    Một trong những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam là hệ thống lịch lấy 12 con vật làm biểu tượng cho chu kì 12 năm. Mười hai con vật được sắp xếp thứ tự theo 6 cặp dương (+) âm (-): chuột (+), trâu (-); cọp (+), mèo (-); rồng (+), rắn (-); ngựa (+), dê (-); khỉ (+), gà (-); và chó (+), lợn (-). Không biết người xưa đã căn cứ trên cơ sở nào để sắp xếp 12 con vật theo thứ tự trên, nhưng cứ mỗi độ Tết về, chúng ta có dịp để chiêm nghiệm, suy nghĩ về chúng. Theo tuần tự đó, năm nay là năm gà, một con vật mà chỉ nói đến tên chúng ta cũng có thể cảm thấy gần gụi; một con vật mà hình ảnh của nó đã đi vào thơ ca, ca dao, hội họa dân gian, và là một biểu tượng văn hóa. Ấy thế mà gần đây nó đã trở nên một vấn đề thời sự với những thảm cảnh không mấy hay ho (*).
    Cuộc sống là một hàm số toán học khổng lồ. Mọi người và sinh thực vật, nói như triết lí dependent origination của nhà Phật, phải phụ thuộc với nhau để tồn tại. Không ai có thể tránh khỏi cái mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau. Bài tản văn này muốn khai thác và nhắc nhở giá trị của con gà trong nền văn minh nông nghiệp để chúng ta có một cái nhìn công bằng hơn về loài gia cầm này.

    “Xao xác gà trưa gáy não nùng”
    Nghĩ về con gà. Một làng quê êm ả bên con sông nhỏ. Một buổi trưa hè nóng bức oi ả. Cái nắng chói chang làm khô đống lúa ngoài sân mới gặt về. Một vài ngọn gió hiu hiu thổi qua. Một đàn gà vô tư nhặt lúa. Tiếng gà gáy ó ò o ... Đám gà bên kia sông phụ họa: ò ó o. Đám gà hàng xóm cũng họa theo cái điệp khúc đồng quê mà hình như tự nhiên đã giao phó cho chúng tự bao giờ. Lúc nào cũng đúng giờ Ngọ. Một hình ảnh đầm ấm, no đủ của miền quê Việt Nam. Trong bài Nắng mới, Lưu Trọng Lư tả thật hay cái hình ảnh lung linh đó:
    Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
    Xao xác gà trưa gáy não nùng,
    Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
    Chập chờn sống lại những ngày không.
    Nắng. Làn gió. Sân nhà. Tiếng gà gáy. Những thành tố đó có thể khuấy động hồn quê của mọi người Việt. Xao xác gà trưa gáy não nùng hay lạ! Trong tâm khảm của bất cứ người Việt nào, kể cả những người ở thành thị, cũng hàm chứa một chút cái nhà quê. (Hoài Thanh đã từng nhận xét như thế). Sống trong thời đại chạy đua với thời gian trong cái xã hội mà có người gọi là “hiện đại” này, chúng ta ngày càng đi xa cái nhà quê đó; nhưng một khi có dịp nghe tiếng gà gáy trong cái nắng chang chang thì chúng ta quay về cái nhà quê ấy tức khắc.
    Chế Lan Viên từng viết về cái tâm trạng nhớ quê da diết khi nghe tiếng gà gáy: Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa / Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa / Nhớ chao ôi nhớ! Trời xanh thế! / Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa! Tiếng gà gáy trong thơ Việt Nam, theo nhận xét của Phan Cự Đệ và Mã Giang Lân (1), là tiếng gà rất Việt Nam, nó khác biệt với tiếng cuốc, tiếng oanh, hay tiếng nhạn trong thơ Đường. Tiếng gà gáy trong buổi trưa hè có một tác động phi thường, như khơi dậy những tiềm thức và tầng u ẩn của tâm hồn con người trong cộng đồng làng xóm Việt Nam. Nó khơi dậy cái gốc gác văn hóa nông nghiệp của người Việt.
    Có lẽ trong 12 con vật dùng làm biểu tượng cho chu kì 12 năm trong lịch Việt Nam, con gà đóng một vai trò lớn nhất nhì trong quá trình phát triển văn hóa nông nghiệp. Mà chắc đúng như thế, bởi vì nói đến gà là nói đến con người, hai sinh vật đã chung sống qua hàng chục ngàn năm, và trong thời gian dài đằng đẳng đó con người đã biến đổi gà quá nhiều, nhiều đến độ có thể nói rằng chúng là sản phẩm sáng tạo của con người, chứ không còn là sáng tạo nguyên thủy (là loài chim) của tự nhiên nữa. Mối liên hệ của gà và người có khả năng nói lên sự khác biệt giữa văn hóa Đông và Tây rõ nét nhất. Người Tây phương xem con gà như là một con vật cấp thấp, một con vật họ có thể kĩ nghệ hóa để lấy trứng, lấy chất đạm nuôi con người. Nhưng đối với người nông dân Việt Nam và Đông Nam Á, con gà là bạn và là một biểu tượng văn hóa.
    Hình ảnh con gà không chỉ xuất hiện trong thơ ca mà còn được thể hiện trên ngọn bút của những họa sĩ dân gian. Trong bộ tranh truyền thống làng Đông Hồ, tranh gà và lợn vẩn chiếm đa số. Bộ tranh gà lợn được trang trọng treo trong nhà nhân dịp Tết để diễn tả niềm mong ước được sung túc, viên mãn, hay dồi dào sức khỏe (tranh gà trống) trong năm sắp đến. Hãy để vài phút nhìn và chiêm nghiệm những nét vẽ dân tộc đậm đà trong tranh gà lợn. Bình luận về màu sắc trong tranh gà tranh lợn, một học giả nhận xét: “Tranh gà tranh lợn đỏ như xôi gấc, vàng như lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời người rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực của tranh Tàu, tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh, đỡ thô kệch, điềm đạm thật thà của tranh lợn, tranh gà.” (2). Chả thế mà Nhà thơ Hoàng Cầm tóm tắt ý nghĩa của những bức tranh gà lợn bằng hai câu thơ: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.
    Gà trong văn hóa cổ
    Gà là một dấu tích của văn minh và văn hóa nông nghiệp. Trên Trống Đồng, gà và chim (cùng giống) là những loài vật được thể hiện khá nhiều. Chim đứng trên mái nhà hình thuyền giống chim công, gà và đa số đứng dưới đất là loài chim nước: cò, bồ nông, xít, v.v…

    Người Đông Nam Á cổ (tức người Thái, Mon-Khmer, Tạng-Miến, Mã Lai, hay gọi chung là Bách Việt), chắc phải bị quyến rũ bởi con gà lắm, không phải vì gà là nguồn thực phẩm (trần tục quá!) cho con người, mà có lẽ ở diện mạo màu mè và tiếng hót thánh thót như là biểu tượng huyền bí của thần thánh. Ở Sumutra (Nam Dương) người ta có đền thờ gà và tổ chức ngày lễ hàng năm để vinh danh thần gà. Trong huyền sử Việt Nam, có truyền thuyết cho rằng thời vua An Dương Vương Thục Phán nước Âu Lạc, nhà vua cố công xây thành ở đất Việt Thường, nhưng đấp đến đâu thì đất lỡ đến đấy. Thục Phán cầu trời thì được một con rùa (thần Kim qui) đến giúp. Rùa thần báo cho nhà vua biết ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống đến ngàn năm rồi hóa thành yêu tinh ẩn trong núi, nếu diệt được nó thì việc xây thành sẽ thành công. Bên cạnh núi có một quán trọ, mà chủ quán là Ngộ Không có một cô con gái và một con gà trống trắng vốn là dư khí của quỉ tinh biến thành để làm ám hại dân làng. Đến khi nhà vua giả dạng thường dân ghé lại quán nghỉ qua đêm, và với sự giúp đỡ của rùa thần, nhà vua xua đuổi ma quỉ đến tận chân núi Thất Diệu. Quay về quán, nhà vua bảo Ngộ Không nên giết đi con gà trắng, và khi con gà chết, lập tức người con gái cũng quay ra chết. Sau đó chỉ nửa tháng thành quách xây xong (3). Không chỉ Đông Nam Á, các nền văn minh cổ khác cũng xem gà là một con vật đặc biệt (4) và ý nghĩa tôn giáo (5). Thời đại nữ hoàng Victoria, Người Anh xem con gà trống là biểu tượng của đàn ông tính và sức sống. (Cũng cần nói thêm, tiếng Anh “cock” có nghĩa là gà trống, nhưng tiếng lóng còn có nghĩa là dương vật). Những nhà văn danh tiếng như Aldrovandi có lần cho rằng gà trống là “tấm gương tốt nhất và trung thực nhất về người cha trong một gia đình”, bởi vì không chỉ là một người bảo vệ an toàn cho gia đình, nó còn tất tả lo lắng đến sự sinh tồn cho tất cả thành viên trong gia đình. Con gà Le Coq Gaulois (gà trống Gaulois) là biểu tượng của cách mạng Pháp và vẫn là biểu tượng của người Pháp vì tên khoa học của gà là Gallus gallus (Gallus tiếng Latin có nghĩa là Gaul, và gallus là gà trống).

    Thể thao đá gà
    Ngày nay, có thể chia các loài gà gia cầm thành ba nhóm: nhóm 1 là gà nuôi để cung cấp thực phẩm; nhóm 2 để lấy trứng; và nhóm 3 là gà dùng trong các thú tiêu khiển. Một trong những thú tiêu khiển là đá gà (hay nói theo phương ngữ miền Bắc là chọi gà). Quả thật, nói đến gà mà không đề cập đến văn hóa đá gà thì quả là một thiết sót lớn. Đá gà là một trò chơi dân gian đã được lưu truyền tại vùng Đông Nam Á qua nhiều thế kỉ. Ở nước ta sử sách cũng có đề cập đến đá gà từ thế kỉ 12. Hưng Đạo Vương trong Hịch Tướng Sĩ từng than trách những người ham mê đá gà mà quên việc lớn của nước nhà (6).
    Mỗi khi Tết về đá gà là một loại thể thao tiêu khiển khó có thể thiếu được trong nông thôn. Thời trước 1975 miền Nam còn có hẳn một kĩ nghệ nuôi gà nòi và có nhiều trường đá gà. Trò chơi đá gà không chỉ là một thú vui của nông dân mà còn của giai cấp giàu có, với những cuộc tranh tài được tổ chức rất qui mô và có nội qui nghiêm chỉnh, với sự tham gia của các quan chức cao cấp. (Trước năm 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu phó tổng thống miền Nam, là một trong những người nổi tiếng ham mê đá gà.) Trong các giống gà đá, có lẽ gà tre (chỉ thấy ở miền Tây Nam bộ) là nổi tiếng nhất. Đây là một giống gà nhỏ nhưng rất can đảm, lông màu sặc sỡ, đuôi dài, chân cao, đùi săn chắc, rất lí tưởng cho đấu trường đá gà.
    Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, với sự ra đời của các học thuyết đạo đức mới và biến chứng cờ bạc trong trò chơi, đá gà không được xem là một loại “thể thao”, mà là một hành động tàn nhẫn với thú vật không thể nào chấp nhận được. Nhiều người Tây phương nhìn trò đá gà ở các nước Đông Nam Á như là một tàn dư, một dấu vết về sự “kém văn minh” của người dân trong các nước đang phát triển. Nhưng có lẽ họ quên rằng đá gà có một lịch sử rất lâu dài, đã từng thịnh hành và thậm chí vẫn còn đang tồn tại tại một số nước Tây phương. Theo cổ sử, đá gà là một trong những thể thao phổ biến nhất trong xã hội người Ai Cập, Ba Tư (tức Iran ngày nay), Do Thái, và Canaan (Trung Đông). Thời đó, người nuôi và gây giống gà chọi để đấu và đánh cuộc trong các phiên chợ, cũng chẳng khác gì đá gà trong thế kỉ 20 ở nước ta. Thời thế kỉ thứ nhất (sau Công nguyên), Julius Caesar là người truyền bá thể thao đá gà đến người dân La Mã và sau này đến người Anh. Đến thời vua Henry thứ VIII (thế kỉ 16), đá gà ở Anh thịnh hành đến độ trở thành một loại thể thao quốc gia. Thời đó, những cuộc tranh tài thường diễn ra tại cung điện của nhà vua, và tại các khuôn viên nhà thờ vì các giáo sĩ cũng ham mê đá gà. Đến thời Hoàng hậu Victoria thì môn thể thao này bị suy tàn vì sắc lệnh của triều đình cấm đá gà.
    Ở Tây Ban Nha đá gà là môn thể thao đã và đang tồn tại qua hàng ngàn năm. Chưa ai biết đích xác môn thể thao này du nhập qua Tây Ban Nha từ thời nào, nhưng có thuyết cho rằng nó được truyền bá qua thương gia từ các vùng Trung Đông. Ngày nay, đá gà vẫn là bộ môn thể thao phổ biến tại những vùng như Bilbao, Oviedo, Madrid, Barcelona, và Valencia.
    Ở Mĩ, đá gà cũng có thời rất thịnh hành. Tổng thống George Washington, Thomas Jefferson, Andrew Jackson, và Abraham Lincoln là những người rất ham mê đá gà. Thời đó, đá gà được xem là một môn thể thao của giới đàn ông sành điệu. Có lúc những cuộc chọi gà được tổ chức ngay trong phòng của tổng thống! Đến khi cuộc nội chiến xảy ra, môn đá gà từ đó suy tàn theo thời gian. Cho đến nay, chỉ có bang Louisana và một phần bang New Mexico cho phép đá gà, còn các bang khác đều có luật cấm đá gà.
    Nhưng có nhiều bằng chứng gần đây cho thấy đá gà bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á, chứ không phải từ các nước Tây phương. Theo cuốn “Cockfighting all over the World” (Đá gà khắp thế giới) (7), trò chơi đá gà xuất hiện sớm nhất ở Á châu, đặc biệt là Đông Nam Á vì đây là quê hương cổ xưa nhất của các loại gà trên thế giới ngày nay. Sách Nam Việt Chí chép rằng ở huyện Lỗ Thành có nhiều gà rừng hay chọi nhau, nên dân trong vùng đem gà nhà chọi nhau với gà rừng để bắt lấy. Truyền thuyết Pú Lương Quân cũng kể lại câu chuyện vợ chồng Báo Lương bắt gà rừng về nuôi (8).
    Công cuộc truy tìm nguồn gốc của gà là một đề tài nghiên cứu qui mô của nhiều nhóm khoa học gia trên thế giới, và qua các nghiên cứu này, nhiều phát hiện thú vị đã làm thay đổi cái nhìn về nền văn minh nông nghiệp Đông Nam Á.

    Quê hương gà: Đông Nam Á
    Gà là một giống chim. Hiện nay trên thế giới, người ta thống kê có tất cả 150 giống gà khác nhau, và tất cả đều xuất thân từ loài chim rừng màu đỏ có tên [tiếng Anh] là Red Jungle Fowl, và tên khoa học là Gallus gallus. Rất có thể gà đã được con người thuần dưỡng để lấy thịt từ thời săn bắt và hái lượm. Theo các tài liệu nghiên cứu khảo cổ trong thập niên 1980s, và dựa vào các di vật tìm được trong vùng Thung lũng Indus (tức Pakistan ngày nay), giới khoa học cho rằng loài chim này được con người thuần dưỡng vào khoảng 4000 năm trước đây (9). Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học Trung Quốc dựa vào các di chỉ tìm thấy trong các vùng thuộc sông Hoàng Hà (Yellow River) cho rằng Trung Quốc mới là nơi đầu tiên thuần dưỡng các loài gia cầm như gà và ước tính thời điểm thuần hóa gà xảy ra vào khoảng 6.000 đến 7.500 năm trước đây (10). Nhưng thời điểm này cũng bị nghi ngờ, bởi vì khí hậu và môi trường miền bắc Trung Quốc không thể là nơi lí tưởng cho loài gà rừng Red Jungle Fowl được.
    Trong hai công trình nghiên cứu quan trọng công bố trên Tập san Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mĩ (11-12), một nhóm khoa học gia Nhật so sánh cấu trúc di truyền của 21 giống gà nuôi thuộc gia đình Gallus gallus từ Thái Lan, Nam Dương, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật, Sri Lanka, v.v…, và phát hiện rằng giống gà ở Thái Lan có hệ số phong phú di truyền cao nhất, tức là giống gà ở đây có độ tuổi di truyền cao nhất. So sánh DNA gà Đông Nam Á và DNA các giống gà khác trên thế giới, các nhà nghiên cứu Nhật đi đến kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế giới ngày nay xuất phát từ một giống gà từng sống (hay được thuần dưỡng) tại một vùng đất mà ngày nay thuộc Thái Lan và Việt Nam. Họ còn ước tính rằng thời điểm thuần hóa gà rừng tại Đông Nam Á bắt đầu vào khoảng 8.000 năm về trước.
    Phát hiện này của các nhà nghiên cứu Nhật, dựa vào phương pháp nghiên cứu sinh học phân tử hiện đại nhất, cũng phù hợp với các di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở nước ta. Tài liệu khảo cổ học Việt Nam cho biết có khá nhiều xương cốt của các loài gia cầm như gà, vịt, chó, trâu, bò, v.v… thuộc thời kì hậu đồ đá mới được tìm thấy tại Phùng Nguyên, Gò Mun, Đồng Đậu, và Hoa Lộc. Tại Đồng Đậu, các nhà khảo cổ học Việt Nam còn phát hiện 2 tượng gà nặn bằng đất nung (13). Như vậy, có thể nói gà đã được con người thuần dưỡng ít nhất là 8.000 năm trước đây tại những vùng đất thuộc Việt Nam ngày nay.
    Trong cuốn “Origin of species”, Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Á. Trong một bài viết cho Tập san National Geographic, W. G. Solheim II nhận xét rằng Đông Nam Á là nơi phát triển nền chăn nuôi đầu tiên trên trái đất (14). Gần đây, có hai nghiên cứu từ Nhật cho thấy giống gà Shamo, một loại gà nòi được nuôi chủ yếu cho thể thao đá gà, có nguồn gốc từ Đông Dương và miền Nam Trung Quốc ngày nay (15-16).

    Dấu tích văn minh nông nghiệp
    Gà là một loài gia cầm thuộc nền văn minh nông nghiệp. Có nhiều bằng chứng cho thấy quê hương nguyên thủy của cây lúa nước là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai - Miến Điện (chứ không phải Trung Quốc, nơi mà bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử). Văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15.000 năm trước dương lịch (17). Vài ngàn năm trước Công nguyên, cư dân Đông Nam Á đã đưa cây lúa đến vùng Đông Á và Tây Á, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch (17). Nhận xét này cũng hợp lí bởi vì với khí hậu nhiệt đới Đông Nam Á là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp.
    Như vậy có thể suy luận rằng trước khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, vùng Đông Nam Á đã hình thành một nền văn hóa lúa nước, và cư dân cổ ở đây (dân Bách Việt) đã phát triển một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trong đó có cả văn minh châu thổ sông Hồng, hay văn minh Đông Sơn. Theo Trần Quốc Vượng, chính nghề trồng lúa nước (một ngành nghề đòi hỏi người dân phải nắm vững và thích nghi với thời tiết, môi trường sông nước) đã dẫn người cư dân cổ Đông Nam Á sáng tạo ra lịch dùng 12 con vật gần gụi với nền văn minh lúa nước làm biểu tượng. Do đó, có khả năng lịch 12 con giáp có nguồn gốc từ Đông Nam Á, chứ không phải từ Trung Hoa (18). Có thể qua giao lưu văn hóa, người Trung Hoa cổ đã vay mượn lịch Đông Nam Á và cải tiến lại. Do đó, 12 con vật trong lịch của Ta không giống với 12 con vật trong lịch của Trung Hoa (thử, ngưu, hổ, miêu, long, xà, mã, dương, hầu, kê, khuyển, trư).
    Nhận xét trên có cơ sở. Qua phân tích mối tương quan di truyền giữa các sắc dân trên thế giới, giới khoa học có thể khẳng định rằng con người hiện đại di dân ra khỏi Phi châu và đến Á châu vào khoảng 100.000 năm trước đây. Trong đợt di dân đầu tiên họ đến vùng Trung Đông, nhưng không thể định cư được vì thời tiết khắc nghiệt, sau đó có thể họ phải làm thêm một hành trình thứ hai từ Trung Đông đến tận vùng Đông Nam Á châu và định cư tại đây (19). Từ Đông Nam Á, họ lại di cư một lần nữa: nhóm một đi về hướng nam ra Úc châu và Tân Guinea; nhóm hai đi về hướng bắc đến Trung Quốc và Nhật Bản, và cuộc di dân này xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây. Điều này cũng phù hợp với các dữ kiện di truyền gần đây cho thấy người Trung Hoa ngày nay, nhất là người Trung Hoa ở phía nam Trung Quốc rất gần và có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á châu (20-21).
    Tất cả những bằng chứng này cho thấy Đông Nam Á có thể là một cái nôi văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người (22), và cư dân tại đây rất có thể là những người phát minh ra kĩ thuật trồng lúa nước, chăn nuôi, và truyền các kĩ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung Quốc ngày nay). Phát hiện mới nhất về quê hương Đông Nam Á của loài gà da cầm cho chúng ta thêm một cơ sở để suy luận rằng trong quá trình định cư và phát triển nông nghiệp, người Đông Nam Á cổ đã thuần dưỡng giống gà rừng, và từ đây giống gà này được truyền bá đến miền Nam Trung Quốc, và từ Trung Quốc “di cư” sang Âu châu. Những phát hiện này, cộng với những di chỉ khảo cổ học và di truyền học mới nhất củng cố thêm cho giả thuyết Đông Nam Á là một trung tâm văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới.

    Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn (chuyenluan.net)


    Chú thích và tài liệu tham khảo:

    (*) Ở đây tôi muốn nói đến cái gọi là dịch cúm gà. Con gà khiêm tốn hiền lành đó chợt trở thành một đối tượng do những bản tin nóng do giới truyền thông thế giới, nhất là ở các nước Tây phương tung ra. Tổ chức y tế thế giới (WHO) đầy uy quyền tuyên bố những câu giật gân, những tiên đoán rùng rợn về cái mà họ gọi là “dịch cúm gà”, có thể là nạn dịch lớn nhất thế kỉ! Bằng những ngôn từ mà giới khoa học cũng phải thẹn thùng, họ dõng dạc tuyên bố “dịch gà” có thể lây sang con người, thậm chí làm chết người! Những dự đoán mà cho đến nay chúng ta đã biết là loại “urban myth” (huyền thoại phố phường), là tin đồn, vì có bằng chứng nào đâu! Đột nhiên con vật thân thiết, gần gụi trong nhà trở thành một kẻ thù nguy hiểm. Chưa biết hư thực, bằng chứng khoa học ra sao, người ta hăng say, hỉ hả đi diệt … gà. Đến khi hàng triệu triệu con gà phải bỏ mạng thì người ta mới vở lẽ là có nhiều giống gà quí, dù chẳng bệnh hoạn gì cả, đã bị giết chết, hay có thể tuyệt chủng. Những người cầm cán cân khoa học ở Tổ chức Y tế thế giới gật đầu hài lòng trước cái thành tích dã man đó. Cái mâu thuẫn trớ trêu chung quanh câu chuyện cúm gà là hàng năm ở Mĩ có khoảng 36 ngàn người không may chết vì cúm, thế nhưng chẳng thấy văn phòng nào phải đóng cửa, cơ sở thương mại nào phải ngưng hoạt động; chẳng thấy ai, kể cả Tổ chức y tế thế giới, khuyến cáo đừng di du lịch ở Mĩ!
    Cách giải quyết tốt nhất cho cái gọi là “dịch cúm gà” không phải là phải tiêu diệt hết gà theo kiểu ‘thà giết lầm hơn bỏ sót’ hay bằng những kì thị ngấm ngầm giữa cái trịch thượng của Tây phương và cái thụ động của các nước nghèo, mà phải là một sự hợp tác trong bình đẳng để bình tĩnh gạt qua những thành kiến, và để tiến đến một sự công bằng và thịnh vượng cho các quốc gia nghèo. Nghiên cứu những dị biệt văn hóa là một bước đầu để giải độc những bất khoan dung, để hóa giải những lừa dối của những người tự cao tự đại cho rằng chỉ có họ mới là người sở hữu sự thật.
    1. Phan Cự Đệ và Mã Giang Lân. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2000.
    2. Lê Văn Hòe. Lẽ sống của tranh gà tranh lợn. Văn Nghệ Xuân Quí Tị, 1953; trích theo Văn Ngọc, Đi trong thế giới hội họa, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
    3. Trích từ Lĩnh Nam Chích Quái, bản dịch của Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc Khánh. Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội, 1960.
    4. Sách nhân chủng học và văn hóa học Tây phương cho biết trong văn hóa cổ Syria gà đá được xem là một vị thần. Người Hi Lạp – La Mã xưa xem gà đá là thần Mặt trời (Apollo), thần Thủy (Mercury) và thần Hoả (Mars). Người La Mã còn xem gà như là một nhà tiên tri; họ tin rằng khi con gà xuất hiện từ phía trái là một điềm tốt; khi gà được cho ăn trong chuồng mà chúng vỗ cánh bay đi là một điềm không lành.
    5. Trong Thánh Kinh, Jesus mượn hình ảnh về mối liên hệ giữa gà mẹ và gà con để nói lên tình yêu thương ngài dành cho người dân Hebrew (Do Thái). Nhưng cũng chính Jesus có lúc xem gà trống là một biểu tượng của sự phản bội (“And he said, I tell thee, Peter, the cock shall not crow ths day, before that thou shall thrice deny that thou knowest me – Luke 22:43 và Luke 22:61). Trong phúc âm Phê-rô, tiếng gà gáy được vài nhà chú giải xem như là phương tiện Chúa dùng để thức tỉnh Phêrô đang dần dần sa vào chước cám dỗ.
    6. Trần Hưng Đạo nhắc nhở quân sĩ nên hạn chế bớt chơi đá gà: “…Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển…”.
    7. Finsterbusch CA. Cockfighting all over the World. Diamond Farm Book, 1991
    8. Lã Văn Lô. Xã hội Tày qua truyền thuyết Pú Lương Quân. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 1964; số tháng 8-65.
    9. Zeuner FE. A history of domesticated animals. Hutchison, London, 1963.
    10. West B, Zhou BX. J Archaeol Sci 1988; 15:515-533,
    11. Fumihito A, et al. One subspecies of the red jungle fowl (Gallus gallus gallus) suffices as the matriarchic ancestor of all domestic breeds. Proc Natl Acad Sci USA 1994; 91:12505-9.
    12. Fumihito A, et al. Monophyletic origin and unique dispersal patterns of domestic fowls. Proc Natl Acad Sci USA 1996; 93:6792-95.
    13. Lê Xuân Diệm và Hoàng Xuân Chính. Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu. Tạp chí Khoa học Xã hội, 1983, trang 81.
    14. Solheim II WG. New light on a forgotten past. National Geographic, 1971;139:number 3. Trích đoạn, “Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang đến. Riêng tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Trung Quốc mà người ta biết đến chính là kết quả của một nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền bắc Đông Nam Á lên phía bắc vào khoảng 6000 hay 7000 năm trước Công nguyên.” và […] “Văn hóa Long sơn (Lungshan) vẫn được xem là phát triển từ Ngưỡng Thiều, […] thực ra là đã [được] khai sinh ở Nam Trung Quốc và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình.”
    15. Komiyama T, et al. The evolutionary origin of long-corwing chicken: its evolutionary relationship with fighting cocks disclosed by the mtDNA sequence analysis. Gene 2004; 333:91-99.
    16. Komiyama T, et al. Where is the origin of the Japanese gamecocks? Gene 2003; 317:195-202.
    17. Chesnov Ja. V. Dân tộc học lịch sử các nước Đông Nam Á. 1976. (Trích dẫn theo Trần Ngọc Thêm, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
    18. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Hà Nội, 2000.
    19. Nguyễn Văn Tuấn. Nhân đọc Eden in the East: Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc. Trích trong Một góc nhìn của trí thức, Tập Ba. Tia Sáng & Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 2003.
    20. Chu JY, et al. Genetic relationship of populations in China. Proc Natl Acad Sci USA 1998; 95: 11763-11768.
    21. Su B, et al. Y-chromosome evidence for a northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age. Am J Hum Genet 1999; 65:1718-1724
    22. Oppenheimer S. Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia. Phoenix (London), 1998.
     
    Đ_Phu, huynhhuy23, cdphuong and 15 others like this.
  2. Nguyen Hoang Ho

    Nguyen Hoang Ho Thành viên uy tín

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,163
    Thích đã nhận:
    1,177
    Đến từ:
    Nha Trang
    Gà trong văn hóa Trung Quốc và Việt Nam
    1.1 Gà trong văn hoá TQ
    Trong 12 con giáp chỉ có gà là được vinh dự tôn làm đức cầm, hay loài chim có ‘đạo đức’; Cùng
    với hổ, gà có khả năng ‘thần thông’ nên thường được vẽ trên cửa nhà như là thần giữ cửa. Hình
    ảnh loài gà đã hiện diện từ lâu đời trong văn hoá Trung Quốc/TQ, phản ánh qua những thành ngữ
    tục ngữ như
    Ngai nhược mộc kê : ngẩn ngơ như gà (bằng) gỗ - ngây đơ vì ngạc nhiên
    Kê minh cẩu đạo : gà gáy chó trốn (dựa vào sự tích Mạnh Thường Quân trốn thoát được là nhờ
    giả tiếng gà gáy) - ám chỉ hành vi thấp hèn của người đời ...
    Hạc lập kê quần hay kê quần hạc lập : con hạc giữa bầy gà - chỉ người tài năng hơn người
    Kê mao toán bì : lông gà vỏ tỏi - chỉ những vật không có giá trị
    Kê trùng đắc thất : gà sâu được mất - chỉ những loài/vật không có giá trị
    Kê linh cẩu toái : vụn vặt linh tinh, đầu thừa đuôi thẹo ...
    Kê tranh nga đấu : ngỗng ganh gà đá - hàm ý tranh giành lẫn nhau vì chuyện nhỏ mọn
    Văn kê khởi vũ - ý chỉ người hăng hái (hưởng ứng) ra giúp nước (dựa vào sự tích trong Tổ Địch
    truyện của Hán Thư)
    Kê khuyển bất ninh : gà cho không yên lành - hàm ý rối loạn
    Tẫn kê tư thần : gà mái làm chủ buổi sáng - hàm ý đàn bà soán quyền ... (không hợp lẽ)
    Kê minh khuyển phệ : gà gáy chó sủa - chỉ cảnh thôn quê
    Kê lặc công danh : xương sườn gà như công danh (ăn không ngon nhưng bỏ thì tiếc như công
    danh vậy)
    Kê khẩu ngưu hậu hay kê thi ngưu tùng : miệng gà (hơn là) đít bò - hàm ý thà đứng trước kẻ nhỏ
    chứ không thèm ở sau kẻ lớn, thà làm đầu chuột còn hơn đuôi voi ...
    Kê khuyển bất lưu : gà chó chẳng tha - thẳng tay chém giết ...
    Kê đản bàng thạch đầu : trứng gà va vào đầu đá - hàm ý trứng chọi (với) đá
    Kê mao phi thượng thiên : lông gà bay lên trời - hàm ý làm chuyện gì mới mẻ (chưa từng làm
    bao giờ, như lông gà bay lên trên trời)
    Kê bì ngật đáp : da sởn vẩy ốc, nổi da gà ...
    Kê phi đản đả : đản 蛋 (trứng) - gà bay trứng vỡ, xôi hỏng bỏng không ...
    Kê mao : lông gà, thường gắn vào thơ chỉ sự khẩn cấp như kê mao tín là thơ lông gà, thơ hoả tốc
    Kê mao đạn tử : đạn 撣 (phủi, quét) - cái chổi lông gà
    Kê mao đáng lệnh tiễn : xem lông gà như thẻ lệnh (lệnh tiễn), việc nhỏ xé to ...
    Kê minh báo hiểu : gà gáy (báo) bình minh
    Kê đản lý khiêu cốt đầu : tìm xương trong trứng gà - hàm ý tìm kiếm lỗi lầm khi không chúng
    không hề xẩy ra
    Kê khuyển tương văn : nghe được tiếng gà và chó - hàm ý ở gần nhau lắm
    Kim kê độc lập : gà (trĩ) vàng đứng một chân, một thế võ đứng một chân - lời ca tụng tự mình
    biết lo (độc lập) ...
    Kê khuyển thăng thiên : gà chó lên trời - hàm ý được thăng quan tiến chức nhờ có liên hệ với
    quan 'lớn' …
    Kê khuyển chi thanh tương văn, lão tử bất tương vãng lai : hàm ý không bao giờ thăm viếng
    nhau dù ở rất gần!
    Kê khuyển bất kinh : không được làm gà chó kinh động - chỉ kỷ luật nghiêm khắc
    Kê bì hạt phát : da gà tóc hạc (tóc bạc) - hàm ý già lắm
    …v.v…
    Theo 'Thái Bình Ngự Lãm' thì vào thời Hoàng Đế, phượng 鳳 được coi là gà. Còn theo 'Lưu Tử
    Tân Luận' thì phượng hoàng 鳳 凰 nước Sở chính là con gà rừng (trích "Văn hoá 12 con giáp"
    Thường Tuấn - sđd). Các truyền thuyết TQ trên cho thấy gà cũng có mặt nhưng lại qua dạng
    phượng hoàng, hay 'vua' của loài chim cũng như đã từng là biểu tượng của đế vương.
    1.2 Gà trong văn hoá Việt Nam
    Mỗi độ xuân về, không ai mà không nhớ đến mấy câu thơ Tết như của Tú Xương
    Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
    Om sòm trên vách bức tranh gà
    Gà hiện diện trong truyện Kiều 4 lần (qua âm Nôm gà chứ không phải kê HV)
    Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường (câu 866)
    …v.v…
    Tiếng gà gáy còn cho dân ta các tín hiệu về thời tiết, tình trạng của môi trường chung quanh như
    Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa ...
    Gà gáy canh một hoả tai, canh hai đạo tặc ...v.v…
    Gà còn rất phổ biến ở Việt Nam, dùng làm thuốc, thịt (món ăn), môn chơi (đá gà) ... Hình ảnh
    loài vật này rất phong phú trong văn hoá dân gian1 như qua các thành ngữ tục ngữ :
    Cõng rắn cắn gà nhà (thường gắn liền với vụ Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh đánh Nguyễn
    Huệ để khai phục ngai vàng), gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (khuyên đoàn kết), gà què ăn
    quẩn cối xay (người kém tài thì phải lay hoay kiếm ăn), gà lên chuồng (chỉ thời gian), quáng gà
    (bệnh), (đồ) gà chết (chửi tục), ông nói gà bà nói vịt (không thống nhất), nổi da gà, trông gà hoá
    cuốc (cáo), đẻ như gà (đẻ nhiều), đầu gà còn hơn đầu trâu (tuy ở vị trí thấp nhưng 'dễ thở' hơn), đầu gà
    đít vịt (cọc cạch, chắp nối), đầu gà má lợn (bổng lộc của người có địa vị), trứng gà trứng vịt (suýt soát
    như nhau, không hơn kém bao nhiêu), rối như gà mắc tóc, đẻ như gà, chữ rối như gà, ổ gà, chó
    cậy gần nhà gà cậy gần chuồng, chó ăn đá gà ăn sỏi, vịt rằn gà cúp chớ nuôi, đen như gà ác,
    làm phù thủy không lẽ thường gà, gà đẻ gà tục tác (vạch lưng cho người ta xem, tự làm lộ khuyết
    điểm), gà mở cửa mả, miệng như lỗ đít gà (chửi tục), bút sa gà chết, gà trống (sống) nuôi con,
    gà cỏ trở mỏ về rừng, gà mái gáy gở (điềm gở khi gà mái gáy ... Đàn bà làm việc nam giới
    thường không được), gà mọc lông măng, gà mượn áo công (dựa thế quan chức mà chèn ép thiên
    hạ), gà nhà lại bươi bếp nhà, gà tức nhau tiếng gáy, gà thổ đổ hồ (sống bằng nghề chứa gái đĩ
    hay mở sòng bạc - đều hàm ý ngoài vòng pháp luật) ...v.v…
    Phần trên cho thấy ảnh hưởng của loài gà rất sâu đậm, thành ra rất khó phân tích các khác biệt
    của ảnh hưởng loài gà trong văn hoá TQ và Việt Nam : đây có thể là một đề tài lớn cần được
    nghiên cứu chi tiết thêm.
    Trích : Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (tác giả: Nguyễn Cung Thông nguyencungthong@yahoo.com)
     
    Đ_Phu, moitapchoiga, @gatre and 6 others like this.
  3. hoangthuyvl

    hoangthuyvl Well-Known Member

    Tham gia:
    21/1/10
    Bài viết:
    478
    Thích đã nhận:
    2,300
    Đến từ:
    vinh long
    Cám ơn thầy Hồ vì đã có những nghiên cứu, sưu tầm hết sức nghiêm túc về nguồn gốc của thú chơi của anh em . Có lẽ nhờ thầy mà thú chơi gà ngoài ý nghĩa là một niềm đam mê còn được nâng lên thành một nét văn hóa mang đầy tính hàn lâm ( hi hi nói câu này mấy anh đá tiền đánh tui ko còn cái răng ăn cháo ).
     
    @gatre and Nguyen Hoang Ho like this.
  4. sieunhangaco

    sieunhangaco Well-Known Member

    Tham gia:
    13/2/10
    Bài viết:
    421
    Thích đã nhận:
    701
    Đến từ:
    Vĩnh L0ng
    --> 3 cặp đầu còn có thể hiểu đc vì đối lập nhau, còn 3 cặp sau thì ...........
     
  5. triviet

    triviet Well-Known Member

    Tham gia:
    4/2/10
    Bài viết:
    294
    Thích đã nhận:
    505
    Đến từ:
    Vũng Tàu-TPHCM
    cháu có thắc mắc hơi ngoài lề một chút. đọc một số sách vở cháu thấy có sách ghi là năm Mão tức là con thỏ, một số sách lại ghi là năm Mẹo tức là mèo. hỏi ông nội thì ông trả lời là :'' Trung Quốc thì gọi là năm mão còn Việt Nam thì gọi là năm mẹo" còn lí do tại sao thì ông nội cháu cũng bó tay. theo cháu biết thì 12 con giáp có xuất xứ từ TQ, vậy tại sao về tới VN nó lại bị sai lệch đi mất 1 con giáp như vậy?
     
  6. @gatre

    @gatre Well-Known Member

    Tham gia:
    26/1/10
    Bài viết:
    422
    Thích đã nhận:
    2,076
    Đến từ:
    Vô gia cư
    không fải đâu anh bạn,người VN mình có người gọi năm con Mèo là năm Mão đó chứ.Tui cũng biết trong lịch của người Hoa thì ngta dùng con Thỏ tương đương với con Mèo của người Việt mình nhưng nguyên nhưn tại sao thì tui cũng giống ông nội bạn dù tui hông fải là ông nội bạn,giỡn chút đừng giận nghen:D
     
    triviet thích bài này.
  7. Nguyen Hoang Ho

    Nguyen Hoang Ho Thành viên uy tín

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,163
    Thích đã nhận:
    1,177
    Đến từ:
    Nha Trang
    Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
    ‘Mão/Mẹo/mèo’
    .
    Nguyễn Cung Thông
    Các bài viết trước (phần 1, 2, 3) cho tóm tắt các liên hệ của tên 12 con giáp đến tên gọi các con vật trong tiếng Việt - sự tương đồng này rất dễ nhận ra từ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa cho đến những tiếng Việt Cổ hơn như Dần-kễnh, Thân-khôn/khọn … mà ta phải dựa trên cách thành lập chữ Hán để tìm ra. Từ bài này (phần 4 trở đi) sẽ đi vào chi tiết từng tên mỗi chi một, hi vọng sẽ cởi bỏ các lớp bụi thời gian và không gian sau bao ngàn năm để chứng tỏ rằng 12 tên con giáp rất gần với tiếng Việt chúng ta, nếu không là chủ nhân các tên con giáp. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ để người đọc dễ cảm nhận các bài viết này hơn, thanh điệu của một chữ được ghi bằng số và đứng sau chữ đó, khác với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay phiên âm (pinyin) giọng Bắc Kinh.
    .
    1. Giới thiệu tổng quát
    Mười hai con giáp cho thấy khuynh hướng xa lìa dần thiên nhiên của con người : từ 12 con thú tiêu biểu khi xưa cho đến chỉ vài con vật nuôi trong nhà (pets) hiện tại như mèo và chó mà thôi. Có những con đã ‘mất dạng’ ngay từ lúc 12 con giáp ra đời như rồng, và có những con đang từ từ ít đi như trâu, cọp … Mão là từ Hán Việt (HV) chỉ chi thứ 4 trong 12 chi (thập nhị chi) - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là mǎo theo pinyin (phiên âm phổ thông) viết bằng bộ tiết (bộ thủ thứ 26). Mão dùng để chỉ thời gian, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng hay tháng hai, và chỉ phương đông trong không gian. Theo thiên văn cổ Trung Hoa (TH) và ngay đến bây giờ, biểu tượng của Mão là con thỏ so với con mèo của văn hoá Việt Nam.
    Một cách giải thích sự khác biệt này là sự cố tình đổi chữ và âm của người TH thời tiền Hán như đã nói trong phần 2 đã được đăng (phần “Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp”, lưu trữ vào tháng 6, 8 năm 2006 trên khoahoc.net Tóm tắt tại chú giải (15) của phần 2).
    [​IMG]
    Ngoài ra, mèo rất gần với đời sống dân Việt qua những thành ngữ hay ca dao tục ngữ như ‘ăn như mèo ngửi’, ‘mèo già hoá cáo’, ‘khỉ vẫn là khỉ, mèo vẫn hoàn mèo’, ‘mèo cào không sẻ vách vôi’, ‘mèo mù vớ được cá rán’, ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo hay ỉa bếp’, ‘mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn’, ‘mèo nhỏ bắt chuột con’, ‘mèo nhỏ bắt chuột to’ hay ‘mèo con bắt chuột cống’ - ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo nào cắn mỉu nào’…và …‘con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà…’
    ‘Con mèo con mẻo con meo
    Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà’
    Hay ‘Mèo khen mèo dài đuôi
    Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ trèo’
    Hay ‘Mèo lành ai nỡ cắt tai
    Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em’
    Và ‘Mèo hoang lại gặp chó hoang
    Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai’
    ‘Mèo lành ở mả bao giờ
    Của yêu ai có bày ra ở ngoài’
    ‘Mèo tha miếng thịt xôn xao
    Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi’
    Các câu này được người viết nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài viết vì trong đó có hình ảnh 3 con vật cũng là biểu tượng cho 3 chi thuộc 12 con giáp, ngoài ra các câu này rất sâu sắc cho thấy tim đen con người (trích từ cuốn ‘Tục Ngữ Phong Dao’ tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và ‘Từ điển thành ngữ ca dao’ Viện ngôn Ngữ Học 1994)
    Mèo được nuôi ở khắp nơi trong nước, và cũng có nhiều loại mèo hoang. Ở nông thôn, người ta thường chôn mèo chết dưới gốc cây khế chua, cho rằng như vậy sẽ làm cho khế ngọt. Từ mèo được dùng một lần trong truyện Kiều
    ‘Ra tuồng mèo mả gà đồng’ (câu 1731)
    Cách dùng ‘mèo’ để chỉ người tình, cũng như ‘mèo mỡ’, ‘mèo thấy mỡ’… không thấy dùng trong ngôn ngữ TH, cho thấy sự rất gần gũi của loài mèo với con người Việt Nam. So với cách dùng mèo trong văn hoá TH, ta thấy trong vốn từ bây giờ có chữ miêu HV, māo/máo BK - giọng Quảng Đông là miu4, mau4, mau1, giọng Hẹ là miu2, miu5 … viết bằng bộ trỉ (loài bó sát không có chân, bộ thủ thứ 153) hợp với chữ miêu (mầm mống) hài thanh (HT) hay bộ khuyển hợp với chữ miêu HT. Tương phản với văn hoá Việt, miêu ít thấy dùng trong các thành ngữ hay ca dao tục ngữ TH - chỉ vài ba câu như
    ‘Miêu thử đồng miên’
    (mèo chuột ngủ chung, ý nói sự a dua làm chuyện xấu)
    ‘Miêu khốc lão thử giả từ bi’
    (mèo khóc khi chuột chết, ý nói sự đạo đức giả)
    Các thành ngữ ca dao dính líu đến mèo thường mang tính cách tiêu cực trong cả hai nền văn hoá VN hay TH, như một điển tích đời Đường cho thấy
    ‘Lý Miêu tên là Lý Nghĩa Phú, tính nham hiểm mà ngoài mặt vẫn giữ vẽ hiền lành nên người đương thời gọi là Lý Miêu’ (Tầm Nguyên Tự Điển, Bửu Kế)
    .
    [​IMG]
    Nếu hình ảnh con mèo rất hiếm thấy trong văn hoá Trung Hoa thì ngược lại, chúng ta thường gặp hình ảnh con thỏ hơn - một loài vật hình dạng giống như mèo như hai tai rất lớn, khối lượng (mass) cũng gần nhau … – chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi phân tách chữ viết/khắc cổ của chữ mèo và thỏ vì chữ viết (Hán Cổ, như Giáp Cốt Văn, Chung Đỉnh Văn) thường tượng hình. Lông thỏ thường dài hơn lông mèo và dùng làm bút để viết chữ Hán. Loài thỏ chịu được nhiệt độ cao nhất khoảng 32oC so với loài mèo chịu được tối đa 52oC, phản ánh loài vật sống ở miền lạnh cùng với dân du mục ở phương Bắc so với loài vật sống ở phương Nam ấm hơn với khuynh hướng sống về nông nghiệp.
    Thỏ hay thố HV viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của chữ này trong ngôn ngữ TH, giọng BK bây giờ là tù so với giọng QĐ tou3, Hẹ là tu5, Ngô là thu5 … Xem lại các truyền thuyết trong văn hoá dân gian ta thấy bóng đen(2) trên mặt trăng ‘giống hình’ chú cuội ngồi gốc cây đa… khác hẳn với truyền thuyết TH về con thỏ trên mặt trăng nên mặt trăng (3) còn được gọi là ngọc thố, thỏ bạc, thỏ ngọc, bóng thỏ (bóng trăng), thỏ phách, bạch thố (con thỏ trắng giã thuốc, ý chỉ mặt trăng) … hay thành ngữ ‘thỏ giỡn trăng’, ‘thỏ thoát’ (thoát đi như thỏ) … cũng như một số thành ngữ cổ điển HV như :
    ‘Thỏ tử cẩu phanh’
    (hễ thỏ chết thì đến lượt chó bị làm thịt, hết dùng được thì ăn đi)
    Thổ tử hồ bi’
    (thỏ chết thì ngay cả cáo/chồn cũng buồn thương)
    Thỏ dinh tam quật’
    (thỏ khôn có ba hang, có nhiều cách tính và lối thoát)
    Cũng như ‘Giảo thố tam quật’
    (thỏ khôn có ba hang, khôn có nhiều lối thoát)
    ‘Thỏ khởi phù cử’
    (nhanh như thỏ và vịt trời khi khởi động)
    Thỏ khởi ban cưu lạc’
    (nhanh như thỏ chạy hay chim ban cưu đáp)
    Thỏ ti yến mạch’
    (chỉ có hư danh thôi, ‘có tiếng mà không có miếng’)
    Thỏ tử bất ngật oa biên thảo’
    (thỏ không ăn cỏ ở gần ổ, ý nói kẻ gian không lương lẹo với hàng xóm)
    Thổ tử vi ba trường bất liễu’
    (đuôi thỏ không dài ra được, ý nói một sự kiện rõ ràng ‘như ban ngày’)
    ‘Thủ chu đãi thố
    (khư khư chờ thỏ đến, như ‘há miệng chờ sung rụng’ việc khó đến)
    Thật ra, thỏ đã hiện diện ngay trong Kinh Thi4 qua tựa một thiên là Thố Thủ (đầu thỏ),
    ‘Hữu thố tư thủ, bào chi táo chi’
    (có đầu thỏ để quay để nướng, ý nói vật nhỏ cũng có công dụng …)
    .
    Các thí dụ trên cho thấy hai nền văn hoá VN và TH phát triển rất khác nhau qua hình ảnh mèo và thỏ. Ngay trong tiếng nói hàng ngày, tiếng Việt chỉ dùng nhóm từ sứt môi (hare lip, cleft lip) so với tiếng TH là tùchún (giọng BK hay thố thần HV, môi thỏ ý nói sứt môi giống loài thỏ)(5) và chúnliè (thần liệt, môi sứt) … Tuy rất xa lạ với tộc Việt, ảnh hưởng về sau của thỏ còn thấy trong truyện Kiều, chữ thỏ được dùng hai lần so với mèo chỉ được một lần mà thôi
    Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương’ (câu 1370)
    Lần lần thỏ bạc ác vàng’ (câu 1269)
    .
    2. Các liên hệ hay lẫn lộn giữa mèo và thỏ
    2.1 Như đã viết ở bài 2 phần ‘Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp’, mãn (Việt Cổ) là mèo chỉ hiện diện trong tiếng Việt mà các dạng biến âm khác có thể là miễn, mãn, wan mà tàn tích rất hiếm trong tiếng TH như miễn (thỏ con), man (mèo hoang). Biến âm từ oan (hay môi hoá thành man) ra mãn hay miễn có thể giải thích được, nhưng từ chữ miễn trở thành thố như trong cách viết cổ thời Xuân Thu thì khó giải thích hơn – có thể các giọng địa phương bị ‘thanh lọc’ bởi nhóm nắm quyền hành thời đó, hay vì cố tình thay đổi. Trường hợp này vẫn thấy trong tiếng Việt qua cách gọi chợ Đông Ba (trước là Đông Hoa) hay cầu Bông (trước là cầu Hoa) vì kỵ huý bà Hồ Thị Hoa - mẹ vua Thiệu Trị - giọng địa phương trong trường hợp này là Thừa Thiên. Tương quan Mão-Thố còn có thể liên hệ đến cách dùng tương đương của mạo-thù (oán), mão-thủ (đều nghĩa là đầu), mạo-thụ/thọ (sống già)… Điều này còn thấy trong một cách đọc qŭ (thủ/thỏ HV)6 rất khác với âm miáo (mão, miêu HV) của thành phần HT của chữ miêu (mèo).
    2.2 Ngoài ra, một chữ hiếm thấy là nâu/nậu6, viết bằng bộ thanh hợp với chữ thố, giọng BK bây giờ là nóu, nau4 QĐ, neu2 Hẹ cũng như một giọng đọc Hẹ nữa là wan5 – theo người viết chính là một dạng của âm mãn phương Nam (mèo). Chữ này có nghĩa là một tên cũ của thỏ. Xem cách viết/khắc cổ của chữ thố và miễn, ta thấy rất giống nhau (hai lỗ tai rất rõ nét) trừ một dấu phẩy ở bên phải chỉ đuôi con thỏ.
    Các chữ hiếm khác như lưu, liễu HV (líu, lĭu BK) viết bằng bộ thử (chuột) hợp với chữ mão HT hay lưu HT đều có nghĩa là một loài thú có kích thước như con thỏ - điều này cho thấy cách phân loại xưa kia rất mơ hồ và rất dễ lẫn lộn. Thành ra mèo và thỏ rất dễ thay đổi cho nhau mà ít ai có thể nhận ra được !
    2.3 Ta hãy xem vài tiếng vẫn còn dùng trong vốn từ TH hiện nay : thố tôn HV (tùsūn BK hay sá-lị tôn shēlìsūn BK) là một loại mèo hoang hay mèo rừng dù rằng dùng chữ thố/thỏ. Loài mèo này có lông dày làm áo lạnh rất tốt (theo Từ Nguyên). Dã miêu HV hay yĕmāo BK có nghĩa là thỏ rừng hay mèo rừng!
    2.4 Ngay cả nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đều diễn giải chi thứ tư Mão bằng con thỏ, so với tự điển Việt-Bồ-La (1651) của giám mục Alexandre de Rhodes – ghi nhận giờ Mẹo (mèo) bằng con mèo trước ‘Vân Đài Loại Ngữ’ hơn cả trăm năm ! Điều này cho thấy tình trạng hỗn loạn của văn chương ‘bác học’ lệ thuộc vào tiếng TH hay HV (nâng cấp mèo thành ra thỏ), tương phản với văn chương bình dân vẫn giữ nguyên dạng cũ (mèo). Nhờ các sự sai biệt này mà ta có cơ hội để truy nguyên các chữ.
    2.5 Trong khi tra cứu thêm về dữ kiện khảo cổ để viết bài này, người viết có dịp đọc qua một bản tin từ Tân Hoa (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Đây là lần thứ hai xương các con mèo được tìm thấy trong những mộ cổ khai quật bên Trung Hoa. Những khám phá về khảo cổ ở TH và Việt Nam rất quan trọng để kiểm nghiệm lại nguồn gốc chính xác của 12 con giáp, hỗ trợ cho kết quả từ ngôn ngữ học - tại sao không có xương thỏ ? Mèo là loài động vật ăn thịt (carnivore) và săn đuổi chuột, mà lại không ăn hại thóc lúa nên rất thích hợp cho xã hội nông nghiệp – khác với loài thỏ. Năm 2004, xương mèo và người đã được tìm thấy ở Cyprus (xem thêm http://en.wikipedia.com ) và tuổi ngôi mộ cổ này ước lượng cách đây khoảng 9500 năm cho thấy thời kỳ thuần hoá mèo xẩy ra khá lâu.
    .
    Tóm lại, mèo và thỏ rất dễ bị lẫn lộn mà tàn tích còn thấy trong các cách dùng trên. Có tác giả cho rằng nước Việt xưa không có thỏ, nên đổi thỏ qua mèo - người viết không đồng ý vì không phù hợp với các dữ kiện ngôn ngữ trên và sự thay đổi chữ miễn/mãn thành chữ thố. Các điều này cho thấy nguyên thuỷ chi thứ tư có thể là Mão/Mẹo/mèo và bị đổi thành thỏ, cũng phù hợp với ảnh hưởng văn hoá Cổ Đại của phương Nam lên phương Bắc TH trước khi TH thống nhất, thời kỳ Tần Hán và sau đó văn học Đường Tống khởi sắc và chiều ảnh hưởng lại từ phương Bắc lan ra khắp nơi.
    .
    3. Phụ âm đầu m- của Mão/Mẹo/mèo
    Chữ Mão thường được dùng làm thành phần HT để tạo ra các chữ Hán khác như sao Mão (bộ nhật hợp với chữ Mão), sông Mão (bộ thuỷ hợp với chữ Mão), như liễu (cây liễu, bộ mộc hợp với Mão), mậu (mua bán, bộ bối hợp với chữ Mão) - mậu HV còn là mù, loà - để ý các âm đầu m và l … Nhưng cũng có khi đọc khác hơn như chữ lưu (ở lại, bộ điền hợp với chữ Mão), kiếu/giáo (hầm hố, bộ huyệt hợp với chữ Mão, có thể đọc là liêu/lưu) … Các dạng trên cùng với các phương ngữ TH như BK, QĐ, Hẹ, Ngô (Thượng Hải) và Hán Việt… cung cấp cho ta một số dữ kiện để có thể phục hồi một dạng âm Thượng Cổ của Mão là *mru? Phù hợp với dạng phục hồi của William Baxter trong cuốn ‘A Handbook of Old Chinese Phonology’ (1992), để ý phụ âm l có thể hoán chuyển với r , nhưng theo Bernhard Karlgren thì hơi khác với dạng *mlôg trong cuốn ‘Grammata serica recensa’ (1957). Có những tác giả khác đề nghị dạng lm- thay vì ml- như Andrew Miller chẳng hạn (1951) dựa vào các cách viết và phát âm tiếng Hán Thượng Cổ …v.v… Dù dạng gì đi nữa, ta dễ nhận ra tàn tích của âm liu- và lau- như đã ghi lại trong phần 2.2 ở trên, cũng như âm miêu của HV. Nhìn rộng ra các tiếng phương Nam chỉ con mèo như mèu (Kơho), maau (Thái), maau (Lào), chmaa (Kampuchia), maau (QĐ), māo BK … so với tiếng mèo kêu là miu, meo (Việt), miāo BK, miu (Thái) … cho thấy một tương quan khá rõ nét giữa tiếng mèo kêu và tiếng chỉ con mèo (8), và đương nhiên là tiếng gọi chi thứ tư Mão/Mẹo/mèo. Vậy mà tài liệu TH từ thời tác giả Vương Sung (27-97, trong ‘Thiên Sinh luận’ cuốn “Luận Hành’ thời Hán) cho đến tận ngày hôm nay vẫn cho rằng thỏ là con vật biểu thị cho chi Mão/Mẹo/mèo !
    Phụ âm đầu m có thể là tàn tích của nhóm phụ âm ml- mà ta thấy trong tự điển Việt-Bồ-La như mlầm mlở là lầm lở, mlạt là lạt, mlẽ là lẽ…với âm đầu (tiền tố) m mất đi. Mlầm còn bị ngạc hoá (palatalisation) để cho ra nhầm, mlạt > nhạt, mlẽ > nhẽ, mlớn > lớn và nhớn … Alexandre de Rhodes cũng nhận ra điều này khi ông ghi mnhầm, mnhẽ là lầm, lẽ. Khuynh hướng ml- ngạc hoá cho ra nh- giải thích được sự hiện diện của chữ nheo : mi > *nhi > nheo , lông mi chính là lông nheo. Người viết nhớ lại trong thập niên 1960, khi ảnh hưởng người Mỹ bắt đầu gia tăng ở miền Nam, trong khẩu ngữ từng dùng âm Mẽo để chỉ Mỹ/Mĩ cho thấy biến âm i-eo còn có thể xẩy ra gần đây hơn.
    .
    4. Nguyên âm a và e của Mão/Mẹo/mèo
    Mẹo và mèo là âm cổ hơn của Mão, các nguyên âm chính ở trước (front vowels) như e thường là dạng âm cổ hơn của các nguyên âm sau (back vowels) như a. Thí dụ :
    [​IMG]

    Để ý một số nguyên âm e BK bây giờ đã từng có âm cổ a, hay nguyên âm a BK bây giờ có các dạng âm cổ hơn là o, ô và u – và cũng tuỳ các phụ âm đứng trước cùng thanh điệu chứ không thống nhất như chuỗi biến âm mèo-Mẹo-Mão9. Một điểm đáng chú ý là từ mẹo còn có nghĩa là phương thức (mưu mẹo) khi viết chữ Nôm thì mượn trực tiếp chữ Mão HV. Mưu HV viết bằng bộ ngôn hợp với chữ mỗ HT, giọng BK móu so với mau4 QĐ, meu2, meu3, miu2, miau3 Hẹ và âm mẹo cũng là âm cổ của mưu HV vẫn hiện diện trong tiếng Việt. Điều này phù hợp với khuynh hướng tương đồng của nguyên âm sau so với các nguyên âm trước (o/u ~ e) cũng như a ~ e đã nói phần trên. Ngoài ra yêu(10) HV viết bằng bộ nhục hợp với chữ yêu HT, yāo BK là giọng bây giờ so với jiu1 QĐ, jau1, jeu1, rau1 Hẹ, io1 (Ngô), iau1 (Minnan/Đài Loan) mà eo là một dạng âm cổ hơn được duy trì trong tiếng Việt.
    .

    5. Thanh điệu và kết luận phần 4

    Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt vẫn gây nhiều tranh luận (9), tuy nhiên liên hệ mèo-Mẹo và Mão cho thấy những thanh điệu còn lại qua một thời gian giao lưu văn hoá rất lâu. Vài nhận xét sơ khởi là mả-mồ-mộ so với mô, mu, mồng, mộng và giọng BK bây giờ mù, mú (viết bằng bộ thổ hợp với chữ mô HT) mou6 QĐ, mu5, mu6 Hẹ, mo6 (Ngô) và bong7 (Minnan/Đài Loan - để ý dạng bong7 tương ứng với bùng, bồng, bung, bổng…). Các thanh huyền, nặng và ngang đều thuộc thanh (âm) vực trầm (trọc), nhưng thanh hỏi mả cho thấy sự khác biệt do thời gian trong tiếng Việt lâu hơn nên có nhiều biến dạng hơn. So sánh các thanh điệu sau đây :
    [​IMG]
    Thâm HV hay shēn, shèn BK, sam1 QĐ, chim1, cim1, cihm1 Hẹ, chhim1 (Minnan/Đài Loan), sơng1 (Ngô/Thượng Hải) có các dạng khác nhau như sâm, xâm (xâm xẩm), thẳm (thăm thẳm), đậm, thầm (tối tăm)11… cho thấy tương quan thanh điệu như mả-mồ-mộ-mô trên, cũng như một liên hệ có từ rất lâu - trước thời Đường Tống khi các biến âm sh-th, s-t xẩy ra một cách hệ thống hơn và khi hệ thống âm thanh Hán Việt bắt đầu hoàn chỉnh hơn. Liên hệ mèo-Mẹo-Mão và meo cũng phù hợp với những biến đổi thanh điệu như trên : các thanh huyền (mèo), nặng (Mẹo), ngang (meo) và ngã (Mão) đều thuộc thanh vực trầm.

    Một hiện tượng nên được ghi nhận nơi đây là sự rút ngắn âm cuối (12) (apocope). Tác giả Lê Hữu Mục trong cuốn ‘Truyện Kiều và tuổi trẻ’ (Toronto, Canada 1998) có nhận xét về ‘…luật n/i rất nổi tiếng và tôi học được từ thầy tôi..’ (trang 93), được trích ra như sau :
    [​IMG]
    Hiện tượng rút gọn âm cuối cũng xẩy ra trong tiếng TH hiện nay như wú-wáng BK (vô-võng HV), nán-ná BK (nam HV), màn-mù-mò BK (mành), xìng-sōu (tân HV, đỏ) … hay khi mượn từ tiếng TH vào tiếng Nhật như hōng (hồng) thành ko-, wăng thành mo- ..

    Một số tác giả cho rằng khi rút gọn âm cuối thì tạo ra thanh điệu, điển hình và đầu tiên hết là nhận xét của học giả André Haudricourt trong các bài viết từ năm 1954, sau đó Edwin Pulleyblank bổ túc thêm về nguồn gốc thanh điệu qua các dữ kiện về tiếng Hán Cổ. Thí dụ như vào đầu công nguyên, tiếng Việt không có thanh điệu và quá trính các biến âm ghi lại trong bảng sau :
    .
    [​IMG]

    .

    Tóm lại, liên hệ của Mão-Mẹo-mèo có thể giải thích qua các dạng âm cổ phục hồi như trên, từ âm tiết đến thanh điệu. Để giải thích sự thay đổi từ mèo qua thỏ/thố, ta cần có liên hệ của mãn-mèo qua hiện tượng rút gọn âm và vết tích từ các văn tự cổ : chữ thố và miễn (hay mãn HV wăn BK) viết cùng một chữ trên bia khắc thời Hán và nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán (13). Thành ra ta có cơ sở để cho rằng Mão-Mẹo đã từng là mèo, nhưng có sự thay đổi chữ viết, có thể vì cách dùng địa phương (nên triều đại đương quyền muốn chỉnh đốn lại) hay là cố tình bôi xoá nguồn gốc ‘Nam man’ của chi thứ tư chăng ? Hay có thể là đổi loài vật cho hợp với gốc du mục của nhóm cầm quyền ? Nhớ rằng chỉ có tộc Việt (14) mới dùng con mèo cho chi thứ tư mà thôi, các ngôn ngữ khác bị ảnh hưởng văn hoá TH đều dùng thỏ (xem bảng so sánh – bài viết phần 2).
    .
    6. Phụ chú và tài liệu tham khảo chính

    (1) Bằng cách khôi phục lại môi trường sinh sống của 12 loài vật khi đi ngược dòng thời gian, ta có thể tìm ra được phần nào địa lý (vùng không gian) mà chủ nhân của 12 con giáp đã từng cư ngụ - do đó tăng mức chính xác về nguồn gốc tên 12 con giáp từ lăng kính thời gian và không gian. Đây là một trong những vấn đề còn mở ngõ. Một thí dụ gần đây hơn là loại thỏ sống trên núi bên Mỹ, gọi là pika, vì khí hậu thay đổi và nhiệt độ tăng dần làm cho chúng phải lên miền cao hơn để sống và có hiểm hoạ diệt chủng !

    (2) Các bóng đen trên mặt trăng thật ra là các thung lũng do chất lỏng nóng (lava) từ các núi lửa xưa chảy xuống. Vì có nhiều chất sắc (iron) nên trở thành màu đen nếu quan sát bằng mắt trần hay viễn vọng kính (telescope) từ trái đất. Các bóng đen này gọi là maria (tiếng La Tinh nghĩa là biển) vì các nhà thiên văn xưa kia tưởng chúng là những hố lớn chứa nước … Chính các nhà khoa học từng lầm nữa huống chi những người bình thường dùng mắt trần. Các hình ảnh trên mặt trăng không rõ ràng như trên đã tạo ra không biết bao nhiêu huyền thoại tìm thấy qua bao nhiêu nền văn hoá con người.

    (3) Hằng Nga hay Thường Nga, vợ Hậu Nghệ, lấy trộm thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu và bay lên cung trăng ở và sống mãi không chết (chuyện Thường Nga bôn nguyệt). Tương truyền Hằng Nga là cô gái rất đẹp.

    (4) Kinh Thi là một trong Ngũ Kinh nổi tiếng của TH gồm có 305 bài thơ, có bài viết từ 1000 TCN (Trước Công Nguyên) – tương truyền Khổng Tử (551-479 TCN) có đóng góp trong việc soạn lại Kinh Thi.

    (5) Hiện tượng (bệnh) sứt môi ít thấy trong các loài chó, và rất là hiếm thấy trong các loài mèo. Năm 2004, một loại gen đặc biêt đã được tìm thấy làm tăng gấp 3 lần khả năng bệnh này. Thổ dân Mỹ và người Á Châu bị nhiều nhất so với dân Mỹ gốc Phi.

    (6) xem thêm http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php

    (7) xem thêm http://www.china.org.cn/english/features/Archaeology

    (8) phải cẩn thận khi so sánh những tiếng nói khi có thể chúng là tiếng tượng thanh (nhái lại tiếng động của đối tượng, sound symbolism) - rất có thể chúng không có liên hệ họ hàng (họ ngôn ngữ, language family) và các tính chất giống nhau là do sự nhái lại của cùng một âm thanh (cùng nguồn) mà thôi, hay sự trùng hợp có tính cách ngẫu nhiên (accidental). Đây là mục đích của các khảo cứu về nguồn gốc ngôn ngữ con người rất lí thú nhưng không nằm trong phạm trù các bài viết này. Để ý tiếng mèo kêu (thường lắp láy) là miaau (tiếng Afrikaans), mjau (Albani), miaou (Ả Rập), mijau (Croatia), miauw (Hà Lan), miaou (Pháp), miau (Đức), miau (Hungari), miyau (Do Thái), mya:u (tiếng Ấn Độ/Hindi), miao (Ý/Itali), meow (Thái), miyauv (Thổ Nhĩ Kỳ), miau (Ba Lan), mjau (Thuỵ Điển), myau (Nga) … so với nyaa (Nhật), ngeong (Inđônêsia), (n)ya-ong (Đại Hàn), ngoeo (Việt) …v.v… Nhưng khi xét các từ chỉ động vật như voi, chuồn chuồn, bướm, ong, mèo, cóc, vịt …cũng như tên 12 con giáp thì còn các vết tích trên trong vốn từ TH hiện nay, dù rằng rất hiếm và đã biến dạng nhiều từ âm thanh đến phạm trù nghĩa. Điều này cho thấy một kết quả của một ‘nước TH rời rạc’ đã từng tiếp xúc với các dân tộc phương Nam thời Thượng Cổ, trước khi TH thống nhất và ngôn ngữ phản ánh dân tộc cầm quyền phương Bắc mà hệ thống âm thanh rất khác so với phương Nam.

    (9) xem thêm các tác giả William Baxter (sđd), Bernhard Karlgren (sđd) và Edwin G. Pulleyblank qua cuốn ‘Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin’ (1991), ‘Middle Chinese : a study in historical phonology’ (Vancouver, Canada 1984). Tác giả Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn ‘Một số vấn đề về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1985) và ‘Lịch sử ngữ âm tiếng Việt’ (Hà Nội, 1995) cũng phân tách các khuynh hướng biến âm trên như Lê Văn Quán qua cuốn ‘Nghiên cứu về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1981)

    (10) yêu HV có phạm trù nghĩa không rõ ràng : có thể là cái lưng, thận hay thường dùng hơn là cái eo. Các từ chỉ bộ phận con người như bàng (bả vai, cánh tay trên, bong bóng..), đỗ (bụng, dạ dày..), cổ (bắp vế, hông..) có nghĩa không chính xác vì quá rộng hay mơ hồ, và trải qua một thời gian rất lâu - tương ứng với hiện tượng đặt tên các loài thú như mèo-thỏ, rồng (không có định nghĩa rõ ràng), rắn (trăn, lươn ?) … Khuynh hướng phương Tây đi vào chi tiết các tên gọi như trong tiếng Anh, thỏ là rabbit, hare, pika, cottontail, bunny (hay bunny rabbit), coney (hay cony), buck (thỏ đực), doe (thỏ cái); Mèo tiếng Anh là cat, tom (mèo đực, hay tomcat), queen (mèo cái), một đàn mèo gọi là clowder …v.v… so sánh với hai chữ thỏ/thố và mèo trong vốn từ tiếng Việt. Các loài vật được phân loại theo họ, chi … theo hệ thống rõ ràng như sau (rất tóm tắt)

    Phân loại -- Thỏ -- Mèo
    Kingdom -- Animalia – Animalia
    Phylum -- Chordata – Chordata
    Class --- Mammalia – Mammalia
    Order --- Lagomorpha – Carnivora
    Family -- Leporidae – Felidae
    ….. -- …. -- ….

    Các chi được chia thành những chi động vật phụ (genus) như mèo (nhà) thuộc chi Felis, và nhánh phụ (species) là F. Silvestris …v.v… Những cách phân loại rõ ràng và dữ kiện về giải phẫu (anatomy), quá trình tiến hoá (evolution) làm cho ta dễ phân biệt hơn.

    (11) thâm HV có thể liên hệ đến đêm, đen …là các tiếng thường gặp trong ngôn ngữ họ Nam Á (Austroasiatic) hay nhánh Môn-Khme. Tại sao như vậy ? Ta hãy nhìn từ đen của tiếng Mường là têm hay zơm (phụ âm t- và z- đầu, liên hệ đến t/đ- và sh-), bêtăm (tiếng Môn), tam/yong (Kơtu), đăm (Thái), đơm (Li), hitam (Mã Lai, Chăm) … so với từ đêm của tiếng Mường là lêm, têm và mlăm, pđăm (Chăm), rêm, mlăm (Thái), đăm (Nùng), đêm (Aslian), têm/tăm/đum, htêm, btêm (Môn) … cho thấy có thể các dạng trên đều cùng một gốc (phương Nam) mà ra. Trong vốn từ tiếng TH hiện nay có chữ đàm HV ít dùng với giọng BK bây giờ là tán, tam4 QĐ, tam2 Hẹ so với tham5 Ngô viết bằng bộ á nghĩa là sâu đậm. Đàm HV viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ đàm HT nghĩa là cái đầm (sâu), đàm HV viết bằng bộ mã hợp với chữ đàm HT nghĩa là con ngựa đen... cho thấy tàn tích của *đam (đậm, đen) của phương Nam trong tiếng TH.

    (12) hiện tượng rút ngắn âm cuối thường xẩy ra trong họ Ấn-Âu như trong tiếng Anh chữ morning trở thành morn, photograph trở thành photo, tên riêng Alexander trở thành Alex, Thomas thành Tom … Cinéma (tiếng Pháp) trở thành xi nê … Không những là một cách tạo ‘chữ’ mới, khuynh hướng rút gọn trên cũng là luật ngữ pháp căn bản cho một số ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha : thí dụ như uno (một) nhưng khi viết thành un mundo (một thế giới) thì âm cuối –o của uno mất đi…v.v…

    (13) chữ thố/thỏ và miễn viết giống nhau thời Xuân Thu theo các tác giả Triệu Bá Bình và Thời Học Tường, chủ biên cuốn “Lâm Ngữ Thú Thoại” - bản dịch ra tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin – Hà Nội (2005)…’ âm đọc của thố và miễn rất gần nhau, do đó người xưa đã dùng âm đọc của miễn để biểu thị chữ oan…’ (trang 489)

    (14) theo từ điển ‘Việt-Mông’ tác giả Thào Seo Sình, Phan Xuân Thành và Phan Thanh – NXB Giáo Dục – Hà Nội (1999) : chi thứ tư Mão đọc là mir (mèo) hay luôr (thỏ). Dân tộc Hmông (hay Mông, Mèo, Miêu) có những đặc tính giống tộc Việt như truyền thống con rồng cháu tiên, rất thích âm nhạc (nhảy múa), dùng trống đồng trong âm nhạc cổ truyền, cũng thuộc về bộ lạc Si Vưu …v.v… Người viết chưa đọc được một văn bản hay dữ kiện khảo cổ nào liên hệ tên 12 con giáp đến văn hoá cổ đại của dân tộc Mông, cũng như dân tộc Lê (ở đảo Hải Nam, thuộc nhóm Bách Việt) vẫn còn tập tục xăm mình và gọi tên ngày theo tên 12 con giáp. Đây là những vấn đề cần phải khảo cứu thêm để soi sáng rõ nguồn gốc tên 12 con giáp thời Thượng Cổ.
     
    Đ_Phu, Ha Huy, triviet and 1 other person like this.
  8. Nguyen Hoang Ho

    Nguyen Hoang Ho Thành viên uy tín

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,163
    Thích đã nhận:
    1,177
    Đến từ:
    Nha Trang
    [​IMG] Chiến sĩ đảo Tốc Tan B, cụm đảo Tốc Tan, quần đảo Trường Sa chăm sóc gà.
    Tiếng gà gáy nơi đảo xa
    Sống giữa quần đảo bão tố toàn sóng và gió… như một điệp khúc muôn đời của đại dương, những lời động viên, chia sẻ qua các lá thư nhà; những món quà của đất liền đối với bộ đội trên đảo nổi, đảo chìm đáng quý biết bao… Một chiến sĩ trên đảo Tốc Tan B (cụm đảo Tốc Tan), quần đảo Trường Sa tâm sự với tôi: Dù các đảo đã có ti-vi, sách, báo trong đất liền gửi ra, có cả lực lượng “vệ sĩ” hùng hậu là những chú chó vện hằng ngày trực canh cùng người lính đảo, nhưng vẫn thiếu “nhịp sống” thường ngày ở đất liền rất đỗi yêu thương, gần gũi, ví như tiếng gà gáy lúc sang canh, tảng sáng… Chính vì thế, chuyến tàu nào từ đất liền ra, anh em cũng không quên dặn bạn bè, đồng đội: Lần sau nhớ mang cho đảo một “cặp” gà nhé.
    Nuôi gà ở Trường Sa không dễ. Đảo Tốc Tan B được đất liền mang ra không dưới 3 lần gà giống, thì lần nào tàu ra đến nơi cũng không thấy gà “cất giọng”. Hỏi ra mới biết: Gà ở đất liền không quen hơi mặn, nuôi được ít bữa là chết. Rút kinh nghiệm những lần nuôi không thành, cán bộ, chiến sĩ Đảo Tốc Tan B trước khi ra công tác đã cho gà “làm quen” hơi mặn bằng cách cho gà “nếm” vị mặn dần ngay từ khi ở trong đất liền thông qua nước uống, thức ăn. Vì thế gà dần “trụ vững” được trước sóng gió và khí hậu thời tiết khắc nghiệt trên đảo. Có chiến sĩ về tận vùng quê Đông Tảo (Hưng Yên) để mua loại gà giống “có tiếng” với hy vọng được nghe loài gà này gáy giữa đảo xa nhưng không may, mấy chú gà giống mang ra lại là gà mái. Tuy vậy, anh em chiến sĩ vẫn vui vì “nhân giống” được gà trên đảo và còn được nghe tiếng cục tác mỗi khi gà đẻ trứng.
    Bài và ảnh: DIỆU NGỌC (QĐND - Thứ Năm, 28/01/2010)

    Tiếng gà gáy quận Cam
    Lao Động Cuối tuần số 6 Ngày 16/09/2006
    [​IMG]
    (LĐCT) - Huỳnh Hữu Cửu là bác sĩ nhãn khoa nhưng nặng tình với nghiệp viết. Viết với ông là để giãi bày nỗi nhớ quê hương xứ sở bởi ông mắc căn bệnh nhớ quê "khá nặng".
    Sinh năm 1932 tại Cần Thơ, hiện sống ở Mỹ, Huỳnh Hữu Cửu đã xuất bản một số tập ký, tạp văn, truyện ngắn như: "Sông Mỹ, sông Việt", "Cây trái quê mình" (viết chung với Nguyễn Văn Ba)... Y.T

    Tôi nhớ mãi kỷ niệm thuở nhỏ ở làng xa bên quê nhà - làng Tân Bình, Cần Thơ - buổi trưa trời nắng gắt, sân đình và sân trường vắng teo, tôi ngồi chơi một mình không biết làm gì thì bỗng nghe có tiếng gà gáy ở đâu cất lên, tiếng ngân dài từ xa vọng lại. Tiếng gà buổi trưa lúc ấy có mang theo một âm điệu gì lạ lùng, gợi lên một nỗi buồn nhè nhẹ, làm hai mắt tôi cay cay, mí mắt nặng xuống...

    Hoặc có những lúc khác, cũng ở Tân Bình, trời sắp rạng đông, ngoài trời còn tối lờ mờ, tôi đang nằm êm ấm ngủ trên giường, bỗng có tiếng gà đập cánh độp độp sau chuồng, tiếp theo là những tiếng gà gáy rộn rã. Nằm nghe tiếng gà, tôi cảm thấy sung sướng được tiếp tục ngủ yên, trong lúc đó má tôi đã phải dậy nấu nước dưới bếp, và trong làng, bao nhiêu người cũng đã thức, cả một sức sống đã bắt đầu cựa quậy...

    Qua đến xứ Mỹ, ít khi tôi được nghe tiếng gà gáy lắm. Ở thành phố, nuôi gà thật bất tiện, vả lại hàng xóm biết có chịu để cho mình nuôi không, nhất là nuôi những con gà trống hay gáy và gáy lớn tiếng làm người ta mất ngủ buổi sáng. Tôi có anh bạn là bác sĩ Bùi Thiều ở Texas kể chuyện rằng, một hôm được một bệnh nhân đem lại phòng mạch biếu một con gà trống lớn, lông màu đỏ điều rất đẹp. Anh đem gà về cho đứa con trai nhỏ của anh, đứa bé mừng và thích lắm.

    Hai cha con bèn lo chăm sóc con gà, cho ăn uống cẩn thận và để cho chạy chơi thong thả quanh nhà. Cả hai đều rất thích thú, nhất là đứa bé thỉnh thoảng được nghe con gà giương cổ gáy một tiếng thật to. Nhưng hàng xóm thì lại không thích chút nào, vì lúc gần sáng, đang ngủ, bị tiếng gà đánh thức. Thế là có người đến phàn nàn.

    Anh bạn chưa biết tính sao, cứ để ngày trôi qua, cho đến một hôm, anh đi làm về, thấy con gà biến đâu mất, trong thùng thơ có giấy của toà hành chánh thành phố báo là đã xuống bắt con gà về tạm giữ, vì có hàng xóm lên thưa, anh muốn lãnh về nuôi phải lên xin giấy phép. Thấy việc nuôi gà khó khăn như vậy, anh bạn bỏ cuộc, tuy nhiên hai cha con buồn bã, mất ăn, mất ngủ một thời gian rất lâu. Tội nghiệp cho con gà, trong trí tôi cứ tưởng tượng này nọ mãi, không biết số phận của nó đã ra sao.

    Nhưng ở quận Cam tại Cali đây, tôi đã tìm được một chỗ có nuôi gà rất nhiều, tha hồ lúc nào muốn thì đến ngồi ngắm gà và nghe gà gáy cả buổi cũng được, không phiền hà ai cả mà lại khỏi mất công nuôi. Chỗ đó là ở cuối con đường Mesa Drive, ở ven bìa cái đầm chim ở Newport Beach, từ khu Sài Gòn Nhỏ xuống đó lái xe chỉ mất mười lăm phút thôi. Thật ra, do tình cờ mà tôi tìm ra được cái trại nuôi gà ấy. Hôm đó, tôi coi bản đồ để ra đầm chim bằng con đường Mesa Drive, tức là bằng một con đường mới lạ tôi chưa đi lần nào.

    Tôi vừa đi tới chỗ cuối đường, đậu xe lại, bước xuống, định đi theo con đường đất nhỏ trước mặt để xuống đầm chim, thì bỗng nghe có tiếng gà gáy từ sau lùm cây bên mặt vọng ra. Tiếng gáy nghe văng vẳng xa, nhưng rất rõ ràng, từng tiếng kéo dài giữa cái không khí khá tĩnh mịch ở đó. Tôi còn ngạc nhiên và vui thích thì lại có một tiếng gáy khác gần hơn tiếp theo, tiếng gáy vui nhộn và nghe như thúc giục.

    Tôi bèn tò mò đi lại chỗ hàng rào có bụi cây mọc che um tùm, nhìn vào trong thì thấy có một cái sân khá rộng, bóng rợp mát, trên sân có nhiều gà, vịt đang lúi húi kiếm ăn. Trong đám gà có năm, bảy con gà trống và từ lúc tôi nhìn vào sân chưa được một phút thì đã có hai con tranh nhau gáy. Trong sân cũng có vài con ngỗng, ngoài ra, cũng có một bầy vịt trắng đang rúc rỉa dưới một cái ao nhỏ. Xa xa phía trong, một mái nhà bằng gỗ màu xám nhô lên khỏi những bụi cây chanh vàng trĩu trái và những bụi bông giấy tím đỏ.

    Hôm ấy tôi thích quá, đứng lại coi bầy gà vịt rồi ra ngồi luôn trên một khúc thân cây thông đặt dài theo hàng rào phía trước để nghe những con gà trong sân thi nhau gáy. Tôi đến trại gà này vài lần mới biết là ở đó người ta chỉ nuôi gà vịt như một thú tiêu khiển thôi, chứ không phải để bán. Dưới gốc các cây chanh chỉ có vài cái chuồng gà nho nhỏ, cất sơ sài giống như là những cái chuồng gà, chuồng vịt ở nhà quê bên Việt Nam.

    Nếu nuôi để bán thì phải có chuồng lớn, tươm tất, ngăn nắp hơn, có lưới sắt bao quanh cẩn thận chẳng hạn, và gà thì phải ở trong chuồng chứ không thả ngoài sân. Trái lại, gà ở trại này, chẳng những được thả tự do ngoài sân mà còn có khi nhảy qua hàng rào, ra tận bãi cỏ dọc theo con đường phía trước nữa, buổi tối còn có những con gà đi tìm ngủ ở chỗ khác, mà có lần tôi bắt gặp. Hôm đó tôi ra chơi ở đầm chim tới chạng vạng mới về, khi về ghé lại trại gà, tò mò bước lại hàng rào nhìn vào sân coi ra sao.

    Tôi vừa bước tới mấy lùm cây cạnh hàng rào, bỗng nghe có tiếng sột soạt trên cao, nhìn lên thì thấy hàng chục bóng đen tròn treo trên các nhánh cây. Nhìn kỹ lại thì ra đó là những con gà đang nằm ngủ vắt vẻo trên đó. Thấy động, chúng nhốn nháo, thòng đầu xuống kêu "cọt... cọt...".

    Gà vịt ở đây nuôi một cách tài tử như vậy cho nên bà chủ trông cũng khác thường: Thay vì nước da rám nắng, quần áo lam lũ một chút thì đằng này, bà chủ lại là một người trắng trẻo, quần áo bằng tơ lụa, mắt đeo kiếng cận, trông như là một bà giáo. Một buổi sáng chủ nhật tốt trời, tôi đang đến ngồi ngắm mấy con gà thì thấy bà chủ từ trong nhà bước ra cúi xuống lượm tờ báo quăng ở cổng. Lượm xong tờ báo, bà còn đứng nhìn quanh một vòng.

    Nhìn thấy tôi ngồi đằng xa, bà mỉm cười nói một câu xã giao: "Hôm nay trời nắng đẹp quá phải không ông?". Tôi chào bà, đáp lại: "Dạ thưa phải, nắng thật đẹp!". Thế rồi thôi, không nói thêm gì nữa cả. Bà ấy đã biết tôi đến đây, đậu chiếc xe bên bờ lề đó, rồi ngồi phơi nắng trên khúc thân cây này để làm gì rồi, như là đã thấy bao nhiêu người khác cũng làm như vậy.

    Người khác lên đây không phải chỉ đến ngắm gà không thôi, hoặc nghe gà gáy như tôi không thôi đâu. Họ lên đây còn mang theo đồ ăn cho gà vịt ăn nữa. Họ mang bắp rang, khoai tây chiên, bánh mì, liệng vào trong sân cho đàn gà, đàn ngỗng giành nhau mổ. Người đi đến xem gà cũng rất đông, nhiều khi có gia đình dắt theo bốn, năm đưa trẻ. Một buổi sáng, tôi chứng kiến cả một lớp mẫu giáo với vài chục học sinh tí hon đến học và quan sát về gà vịt, làm không khí rộn lên với những tiếng cười nói líu lo của đám trẻ bên ngoài hàng rào, chen lẫn với tiếng kêu liếp nhiếp lạp cạp của gà vịt bên trong.

    Có một lần đang ngồi nghe gà gáy, tôi bỗng có ý nghĩ: "Ờ, tiếng gà mình thích nghe như vậy, không biết những con gà, vịt và ngỗng có nghe hay không?", vì nhìn bề ngoài thì thấy tất cả đều có vẻ thản nhiên, đứng rỉa lông rỉa cánh hoặc nghiêng cổ lơ đãng nhìn lên trời. Nhưng mà tôi tin chắc là dù sao đi nữa, chúng đã quen nghe gà gáy lắm rồi, tiếng gà gáy đã ăn sâu vào tiềm thức của chúng, nếu có thể nói được như vậy.

    Bởi vì nếu vắng tiếng gà gáy, những con gà, vịt và ngỗng ấy chắc sẽ ngơ ngác, sẽ thấy thiếu thốn và khổ sở biết chừng nào! Cả cái sân gà kia sẽ buồn thiu, những cây chanh nặng trĩu những trái kia có thể rồi sẽ không còn sai trái nữa, những cái trứng trên ổ mà những con gà mẹ đang ấp trong chuồng kia cũng sẽ nở chậm, và những người thích đến ngắm gà, nghe gà gáy cũng sẽ không còn ai trở lại viếng thăm trại gà nữa!

    Nhân nói đến tiếng gà gáy và làm sao giữ mãi được tiếng gà, một anh bạn tôi là hoạ sĩ Nguyên Khai nhắc tôi hôm nào đến trại gà thì mang theo một cái máy thâu âm để thâu. Anh Nguyên Khai nói rằng tiếng gà gáy là một trong những âm thanh thân thiết nhất của quê hương, như tiếng cút kít, rào rào của cái cối xay lúa, tiếng uềnh oang của ếch và ễnh ương ngoài ruộng, hoặc tiếng lộp bộp của nước mưa đổ xuống một tàu chuối ban đêm ở sau hè.

    "Trời ơi!", anh Nguyên Khai nghe nhắc đến đó bỗng kêu lên, đôi mày nhíu lại, hai mắt sáng hoắc, giọng nói thấp xuống và đầy nhiệt tình. Anh nói: "Trời ơi, những tiếng ấy, những âm thanh ấy mỗi lần nghe nhắc đến là tôi thấy đau nhói trong tim anh à!". Anh nói rất tiếc, ngày trước không thâu tất cả những thứ tiếng ấy để bây giờ nghe lại.

    Anh khuyên tôi nên xuống trại gà thâu ngay đi. Vâng, thưa anh, tôi sẽ nghe lời anh mang máy xuống thâu, để ngày nào đó tôi không xuống đó nghe được nữa, hay là không còn có gà nuôi ở đó nữa, tôi cũng còn có tiếng gà để nghe, những tiếng gà dù phát ra từ một cái máy đi nữa, nhưng cũng đủ sức làm sống lại trong tôi những kỷ niệm hết sức đậm đà và thắm thiết ở quê nhà ngày xưa cũ.
    Huỳnh Hữu Cửu
     
    Last edited: 5/4/10
    Đ_Phu thích bài này.
  9. Đ_Phu

    Đ_Phu CLB Gà kiểng ABV TP Vĩnh Long

    Tham gia:
    24/8/06
    Bài viết:
    1,960
    Thích đã nhận:
    3,494
    Đến từ:
    Vĩnh Long
    Hay quá Thầy ơi ,cám ơn Thầy !
     
    Nguyen Hoang Ho thích bài này.
  10. Nguyen Hoang Ho

    Nguyen Hoang Ho Thành viên uy tín

    Tham gia:
    4/7/08
    Bài viết:
    1,163
    Thích đã nhận:
    1,177
    Đến từ:
    Nha Trang
    Phong trào nuôi gà trong vườn nhà ở Mỹ
    Các thành phố tại Hoa Kỳ đều có những luật lệ qui định để giữ gìn cảnh quan và vệ sinh cho cư dân. Những nơi được qui định là thành phố thì dân chúng thường không được nuôi gà, mặc dù hầu như nhà nào cũng có sân trước, vườn sau rộng rãi. Nhưng hiện nay xu hướng nuôi năm ba con gà ở vườn sau đang trở thành một phong trào ở nhiều thành phố. Mời quí vị theo dõi các chi tiết sau đây trong Câu Chuyện Nước Mỹ tuần này với Lan Phương.
    Ngay ở Việt Nam lúc sau này, người dân thành phố, nhất là trẻ em, không còn được thấy hình dáng con gà, không được nghe tiếng gà gáy giữa trưa hè ra sao vì tình trạng đô thị hóa. Riêng tại Hoa Kỳ, các thành phố đều có qui hoạch. Khi môt khu vực được qui định là khu gia cư thì chủ nhân các căn nhà trong đó phải tuân thủ những luật lệ của thành phố, phải xây nhà theo kiểu nào, phải giữ vườn tược ra sao và không được chăn nuôi gia súc. Ngừơi dân thành phố giữ gìn thảm cỏ xanh mướt, sân trước trồng hoa, cây cảnh, sân sau cũng vậy. Nếu nhà nào thích ăn rau tươi trồng theo phương pháp tự nhiên thì họ có thể biến sân sau thành một vườn rau, cà chua, ớt, dưa leo, bầu bí, xà lách. Những ngừời gốc Việt thì còn thêm vào vườn rau đủ những thứ húng, ngò, tía tô, rau răm...tuyệt nhiên không thấy ai nuôi gà, nuôi heo để ăn thịt vì luật lệ không cho phép.
    Nhưng theo tờ St.Louis Post Dispatch cho biết thì hiện nay rất nhiều người ở các thành phố khắp nước Mỹ đang gia nhập phong trào nuôi gà tại tư gia. Họ lý luận rằng nuôi gà để lấy trứng rất phù hợp với những nỗ lực vận động bảo vệ môi trường, khuyến nghị dân chúng mua thực phẩm sản xuất tại địa phương để đỡ hao tổn xăng dầu chuyên chở, và có được loại thực phẩm tinh khiết không bị nhiễm hóa chất và phân bón hóa học. Đây cũng là phong trào trở về với đất đai, và trong thời buổi kinh tế khó khăn, trứng gà nuôi lấy cũng là một cách để tiết kiệm tiền bạc cho những gia đình lợi tức thấp.
    Đã vậy, được ngắm năm ba con gà bới đất tìm sâu, chạy đuổi nhau trong sân là cảnh tượng thật vui mắt cho cả người lớn lẫn trẻ em. Vì thế, mới đây, thành phố Mission thuộc bang Kansas, hội đồng thành phố đã đưa đề nghị thay đổi luật lệ để cho dân được nuôi gà ở sân sau. Bà Jerritt Dayhoff, một cư dân thành phố, thuộc tổ chức bảo vệ công chúng trong khu vực, đã đệ đơn yêu cầu thay đổi luật vì bà xuất thân từ một nông trại và gia đình bà muốn nuôi ít con gà trong sân.
    Bà Dayhoff nói rằng gà không ồn như chó, nuôi gà sạch hơn là nuôi chó, và trứng gà tươi do nhà nuôi lấy thì thật là bổ dưỡng thơm ngon. Cứ mỗi buổi sáng khi dọn điểm tâm cho con nhỏ, thật là điều thú vị khi bà nói cho chúng biết rằng: món ăn sáng này là trứng của hai con gà ở sân nhà đấy.
    Một cư dân khác tại thủ đô Washington rất thích nuôi gà. Mỗi ngày sau giờ làm việc trở về, bà Conrad ra sân sau, mở cửa chuồng, thả 3 con gà bà nuôi cho chúng chạy nhảy trong sân giữa những cây ăn quả và các luống rau mà bà tự tay gieo trồng.
    Trong mùa xuân năm nay, phong trào nuôi trồng ngay tại sân nhà lại được thêm một khích lệ tượng trưng, khi gia đình Tổng thống Obama cho làm một vườn rau rộng 102 mét vuông ngay tại Tòa Bạch Ốc.
    Từ năm 2004, thành phố Madison, bang Wisconsin, là một trong những thành phố đầu tiên tại Hoa Kỳ đã thay đổi luật lệ để cho phép nuôi một số ít con gà ở mỗi tư gia. Muốn nuôi như vậy chủ nhà phải tuân thủ nhiều qui định. Ví dụ như tại Madison, bang Wisconsin, cũng như tất cả những thành phố có luật lệ tương tự, đều chỉ cho phép nuôi gà để lấy trứng, chứ không được giết thịt, phải nuôi trong chuồng hay sân có rào kín, và chỉ là gà mái, gà trống gáy ồn ào điếc tai hàng xóm đều bị cấm.
    Nhiều trang web và tạp chí Backyard Poultry ủng hộ nỗ lực này, cho biết phong trào nuôi gà trong sân nhà đang phát triển không những ở Hoa Kỳ mà còn ở các nước Anh và Canada.
    Tuy nhiên, những người chống đối việc nuôi gà trong sân, như ủy viên thành phố Mission, ông John Weber, 77 tuổi, cho biết ông đã chứng kiến thành phố phát triển thành các khu gia cư, thì không có lý gì lại trở về với lề lối nông trại cũ.
    Tại các thành phố không được phép nuôi gà như vậy, hoặc chỉ được nuôi một số giới hạn chừng 5 con trở xuống, nếu ai vi phạm luật thì nhà chức trách phải có biện pháp.
    Ông Dave Marak, một giới chức trông coi sở kiểm soát súc vật tại thành phố Kansas City, bang Missouri, cho biết nhân viên của sở thỉnh thoảng vẫn đến bắt đi những con gà nuôi trái phép, đem về cơ sở dành cho những con vật như chó mèo bị chủ bỏ, đi lạc, chạy lang thang ngoài đường. Nếu người chủ gà muốn đến đem chúng về sẽ phải nộp phạt mỗi con 25 đô la, cộng thêm với 10 đô la chi phí nuôi giữ mỗi ngày, và người chủ gà còn có thể bị phạt tiền. Số tiền phạt có thể lên đến 250 đô la, nhưng thường thì quan tòa không tuyên phạt đến mức đó và đôi khi cho bãi luôn vụ án.
    Theo ông Dave Marak, sở kiểm soát súc vật thường chỉ thi hành luật khi có ai trong thành phố than phiền, chẳng hạn như chủ gà thả cho những con vật này chạy rông, hay có một nhà nào mới dọn đến không chấp nhận việc nuôi gà trong sân, cho dù là sân nhà hàng xóm.
    Quay trở lại với gia đình Tổng thống Obama, sau vườn rau, nếu gia đình ông bà muốn gia nhập hàng ngũ những người thích nuôi ít con gà trong sân thì có được hay chăng? Theo phát ngôn viên của vụ đặc trách người tiêu thụ và qui định của thủ đô thì đây là một câu hỏi khó trả lời. Trên nguyên tắc thành phố không cho phép nuôi gà ở sân nhà, nhưng thủ đô Washington và vùng phụ cận tập hợp nhiều khu vực, mỗi khu lại có luật lệ khác nhau, vì thế khó mà biết được là dân, ngay cả gia đình tổng thống, có được phép nuôi gà trong sân hay không. Vì sự mù mờ đó mà dân nuôi gà tại tư gia thuộc khu vực thủ đô bị chia ra làm 2 loại: một là những người nuôi gà công khai hợp pháp, và hai là phải nuôi lén!.
    Ông Dave Marak không có ý kiến gì trong vụ tranh chấp nuôi gà hay không nuôi gà. Ông chỉ cho biết là bên chống cũng như bên ủng hộ đều mạnh. Nhưng ông kết luận: chẳng có gì ngon miệng hơn là một quả trứng gà tươi!
    Nguồn: voanews.com


    Chợ Trời Ở Mỹ

    Người viết sinh năm 1958, từ năm 1978- 1982: giáo viên cấp II Trường Quốc Việt, Quận 6, dạy môn Họa. Năm 1988, định cư tại San Jose, Bắc California, Tốt nghiệp AA & AS từ trường Đại học Cộng Đồng Mission Valley College, CA. Công việc đang làm: Technician cho hãng Nectex Microware RF Hitec Inc. ở Santa Clara, CA.
    Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, tác giả Bùi Ngọc Quang cho thấy ông có sức viết mạnh mẽ khác thường: một hơi, gửi luôn... 11 bài. Sau đây là bài thứ bai và thứ bẩy.
    *
    Hồi ở Việt Nam, tôi hoàn toàn không bao giờ biết được rằng ở bên Mỹ cũng có cái chợ Trời như cái chợ khu dân sinh ở Sài gòn. Qua đây rồi, một thời gian sau, tôi cũng thử đi chợ Trời chơi cho biết với thiên hạ.
    Đầu tiên, thì giá ticket cho một chiếc xe khi chạy vào cổng được tính một đô, xe Van dài thòng, hay xe sport 2 cửa nhỏ gọn cũng vậy. Một giá cố định: 1 đô cho 1 xe. Cứ thế, ào ào, hết xe nọ đến xe kia nối đuôi nhau chầm chậm, rề rề tiến vào cổng mua vé, trả tiền, rồi được tự do chạy tà tà tìm parking ngay hàng thẳng lối để đậu. Xe vào sau, đậu kế xe vào trước. Làm thành một bãi xe đủ màu, đủ cở, đủ loại, nhịp nhàng, nhộn nhịp,… rần rần mở cửa xe người nhảy ra, kẻ lock cửa… xong xuôi đâu vào đấy, khoan thai, nhàn cư đi mua sắm…
    Lúc đầu là vậy, nhưng sau người chủ của cái bãi chợ Trời ấy cảm thấy lỗ, lỗ vì sao, vì có nhiều chiếc xe Van 8 chỗ ngồi, vậy mà mấy "cha nội người Mễ" nhét luôn vào đó chẵn chục, ngồi sát rạt như cá mòi trong hộp chưa khui. Vẫn một đồng khi xe chạy ngang qua cổng. Phải chi họ ngồi êm, làm mặt lạnh lùng như sao băng thì chắc cũng không có chuyện gì… đằng này họ say "Hi" với mấy em bán vé, ra điều vui sướng lắm lắm. Dĩ nhiên, mấy nàng "mắt xanh mũi lõ" yêu kiều nhà ta, cũng đâu thua gì. Thọt lên xếp. Xếp thọt lên chủ. Chủ ta bèn hạ bút ký sắc lệnh mới toanh, ban hành lại giá biểu là một dollar cho một đầu người. Chỉ trừ trẻ em dưới 12 tuổi là được nữa giá discount. Thế là, dân Mễ "vua" vượt biên lậu sang biên giới Hoa kỳ phen này ngậm đắng nuốt cay.
    Cái lai lịch về giá biểu một đồng cho một người, tôi đã hầu chuyện cùng các bạn, còn phần bên trong chợ bày bán những gì… thì tôi xin thưa tiếp với bạn sau đây: "Nó tùm lum, nó không theo thứ tự hàng hóa được bày bán ở cửa hàng siêu thị đâu. Và cũng chẳng có sạp gì hết. Một miếng "bông sô" trải xuống đất. Rãi đầy tất cả mọi thứ đồ dư dùng trong nhà, đem ra đây ngã giá. Và giá thì thật là rẻ bèo. One buck, two bucks, hoặc 50 cent… nghe mà sướng cái lổ tai, cho hả lòng ham muốn…
    Cũng nên biết thêm, ngươì vào để đi mua là một đồng khi qua cổng; còn kẻ vào để bán được tính 15 đô cho một xe. Bạn chở cái gì trong xe, không ai cần hỏi, cần biết. Miễn bạn đưa đủ 15 đô chẳn là O.K.
    Có lần tôi thấy một chiếc xe đạp đua, ghi đông cuộc, 2 dĩa, 5 líp, vỏ michelin, căm niền bằng nhôm, cả khung sườn cũng vậy, nhẹ bâng. Hỏi "how much?" Một tiếng gọn lơ: "Ten bucks" Trời ơi! "ten bucks" chỉ có 10 đồng thôi. Sao mà rẻ ơi là rẻ. Hồi còn ở quê nhà, tôi nhớ năm 1978, hồi tôi đi dạy học ở trường cấp II phổ thông Quốc Việt, quận 6. Tôi cũng chạy một chiếc xe đạp cuộc, nhưng toàn là đồ "local" không, chạy nặng như là đang cỡi trâu ngoài đồng. Mà muốn ráp một chiếc xe đạp "xịn" vào thời buổi " gạo châu củi quế" đó đâu phải là dễ. Chín tháng lương hoặc một năm lương chẳn: nếu chịu hà tiện để dành, nhịn đói không ăn. Bây giờ, ở đây, " ten bucks" trời ơi nghe sao mà sướng. Tôi định mua ngay không cần trả giá, nhưng tôi nghĩ khi đem về nhà, chắc con vợ tôi nó sẽ hỏi: "Are you crazy? Anh có điên không? Mua nó đem về nhà thờ hả?". Ôi ! Nghĩ mà bực mình ! Vợ tôi đâu biết khi tôi nhìn thấy chiếc xe đạp này dựng ở nhà, là tôi thấy được tôi ở trong đó, thấy được tôi của những ngày ăn "gạo độn với bo bo", uống "cà phê làm bằng bắp rang khét", thấy đươc một khoảng đời cơ cực đã trôi qua.
    Mà thôi, đang đi một vòng để xem dân cho biết sự tình, mà đem kỷ niệm buồn ra đây kể thì thiệt là lảng ồm… Tôi bèn đi tiếp, để hầu còn thưa chuyện với bạn thêm:
    Thượng vàng hạ cám, đồ thập cẩm, tạp bín lù… nồi niêu, song chảo, microwave, bình pha cà phê, bàn ghế, tủ, giường, quần jean đủ size lớn nhỏ, áo thun, áo sơ mi, dao, kéo, kềm, spraygun, súng bắn hơi, lò nướng than, gà, vịt, dê, chó, mèo, bồ câu, chim, tên bắn, kiếm, tượng bán thân, tranh ảnh, sách báo, trái cây, rau quả, vân vân và vân vân. Thật không ngờ cái gì cũng có, giá rất hạ, nhiều cái thấy không cần, nhưng lại quá rẻ, ham mua tôi bê về cho nhiều thứ, lỉnh kỉnh chất đầy một góc ở nhà xe. Dĩ nhiên, lại một phen bị bà xã càm ràm, nhưng không những chỉ bị bà xã ở nhà càm ràm thôi, mà còn bị hàng xóm complain, rồi đưa tới chuyện bị police gỏ cửa cho giấy warning chỉ vì một cặp gà tre nhỏ, gáy inh ỏi vào mỗi buổi sáng sớm tinh mơ hằng ngày. Chuyện đó, làm cho tôi chừa cái tật ham nuôi gà ở Mỹ. Sau này, nghe nói ở Sacramento, có mấy người Lào hay Miên hoặc Phi luật Tân gì đó, nuôi gà nòi đá độ ăn tiền bị cảnh sát bắt cho tù… làm tôi phát hoảng ï luôn. Thì ra "nhập gia là phải tùy tục", chuyện đá gà ở Việt Nam là chuyện bình thường, hoặc nuôi gà tre để làm kiểng, nuôi cho đẹp sân, đẹp vườn; dẫu sáng nó có gáy ò ó o là chuyện đương nhiên. Láng giềng, hàng xóm còn "welcome" vì biết đã là một ngày mới, trời hừng sáng rồi. Đâu có như ở đây.
    Còn một điều cũng thú vị không kém, khi tôi đi chợ trời thỉnh thoảng thấy bày bán những chiếc đồng hồ xưa loại lên giây, hoặc tự động, nói là xưa nhưng vì người chủ giử kỹ hoặc ít khi dùng tới, nên trông nó vẫn còn mới, và đẹp như lúc mấy chục năm về trước nó được bày bán trong tủ kính của những cửa hàng danh tiếng hạng sang mắc tiền. Bây giờ, có lẽ chủ nhân thấy không cần, hoặc chủ nhân là người con (thế hệ sau) không biết giá trị của món đồ, để hoài chật tủ, lôi ra đem bán cho rãnh nợ đời. Đươc vào những dịp đó, người con không biết giá, nói "ten bucks" là tôi mua ngay. Vỏ vàng 14k, mặt origin, hiệu Omega mà "ten bucks" thì còn gì bằng. Đúng là phước ba đời mới với được của quí. Tôi hớn ha hớn hở như kẻ đi "đào kinh thủy lợi" Lê minh Xuân ở vùng Bà Hom, Bình Chánh đào được cục vàng. Ôi ! Nước Mỹ với chợ trời, chỉ one buck, two bucks là có được cả một gia tài…
    Nhưng, bạn đừng cho rằng lúc nào nó cũng là cả một gia tài đâu nhá ! Có lần, tôi mua một cái microwave cũng quá rẻ, "five bucks" nhưng nếu so với một cái mới nguyên trong tiệm là 50 đô. Không biết nó có hư hay không. Tôi muốn chắc ăn, tôi bảo người bán phải warranty-Chủ nhân liền: "O.K., it doesn't work, I give money back for you. Big deal." Đúng là big deal. Tội gì không mua. Nhưng rồi khi về nhà thử, thì hởi ôi ! No work. Mà cũng chẳng money back được. Vì khi quay lại thì người bán đã dọn đồ "go home" lúc nào rồi. Chẳng biết địa chỉ, cũng chẳng có số phone. Return hay exchange cho ai đây ?
    Nên tôi khuyên các bạn có đi chợ trời thì nên đi chơi thôi. Đừng như tôi, bị bà xả cằn nhằn: "Đó! ông thấy chưa, đồ của nó hư nó muốn đi bỏ, sẵn vào chợ trời, nó nhờ ông đổ rác dùm, mà nó còn được ông cho thêm "five bucks" nữa. Sướng chưa?!"
    Thôi, từ đây "Flea Market" ở nước Mỹ, tôi xin chừa…
    Bùi Ngọc Quang (Việt Báo Thứ Bảy, 4/5/2003)

    “Tam giác gà” của người Việt ở Mỹ


    [​IMG] Một nhà chuồng nuôi gà thịt tại Austin (bang Texas). Ảnh: NGỌC LINH

    “Muốn giàu nuôi gà, muốn khá làm nail”. Mỗi năm Mỹ sản xuất 25 triệu tấn thịt gà cung ứng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
    Ban đầu chỉ vài gia đình người Việt đến khu vực tam giác Houston-Waco-Austin ở bang Texas mua trang trại nuôi gà. Thế rồi người đi trước chỉ dẫn cho người đi sau, đến nay đã có hơn 100 hộ gia đình người Việt trở thành chủ trại gà công nghiệp ăn nên làm ra trên vùng “tam giác gà”.
    Muốn giàu nuôi gà
    “Muốn giàu nuôi gà, muốn khá làm nail” (làm móng chân tay). Câu thành ngữ cải biên này do một số người nuôi gà thành công ở Mỹ nói vui với bạn bè. Muốn nuôi gà đòi hỏi phải có vốn lớn, bởi một trang trại có 5-6 nhà chuồng cần vốn đầu tư trên một triệu USD, chưa kể tiền mua đất.
    Ông Ngọc Phan, chủ trại mới mở rộng thêm hai nhà chuồng, cho biết: “Đây là trang trại mua lại của chủ trước chứ làm mới thì mỗi nhà chuồng có diện tích 30 x 60 m cộng thêm thiết bị nữa phải có giá hơn 250.000 USD. Một nhà chuồng như vậy có thể nuôi được 30.000 con. Nếu người đầu tư có ít nhà chuồng, chưa chắc các công ty chịu ký hợp đồng”.
    Vợ chồng ông thuộc số người đến với nghề nuôi gà sớm nhất ở vùng Austin do người bạn đi trước mở đường thành công. Hầu hết chủ trại ở vùng “tam giác gà” đều là dân sống ở bang California. Nhờ giá nhà đất lên cao của thời vàng son địa ốc, thêm nữa con cái trưởng thành ra riêng, vợ chồng ông quyết định bán nhà về lập nghiệp ở vùng đất khô cằn miền Nam Texas.
    Hai vợ chồng mượn thêm tiền ngân hàng mua lại trang trại có sẵn năm nhà chuồng và ký hợp đồng nuôi gia công cho Công ty Henderson sản xuất thịt gà lớn thứ tư tại Mỹ.
    Công ty cung cấp gà con một ngày tuổi và thức ăn, người nuôi chỉ việc chăm sóc, cho ăn theo định lượng. Sau sáu tuần, con gà đạt trọng lượng 6 pound (khoảng 2,7 kg), người nuôi được hưởng 36 cent, cứ thế mà nhân lên với số lượng gà xuất chuồng.
    An toàn vệ sinh trên hết
    Hầu hết các chủ trại gà đều có rất ít nhân công. Thường những người trong gia đình cùng nhau chăm sóc trại gà. Nếu thiếu nhân lực, họ thuê mướn từ một đến hai người làm công việc nhặt xác gà hoặc bẻ cổ những con gà còi cọc trong nhà chuồng.
    Ngồi trong phòng điều khiển nhìn các thiết bị đo nhiệt độ và điều chỉnh lượng thức ăn cho các trại gà, ông Ngọc dùng điện đàm nhắc nhở người làm công quan sát cẩn thận để phát hiện xác gà bị giẫm đạp chết mà nhặt ra. Mỗi ngày số gà chết có thể lên đến ba, bốn chục con. Không phát hiện kịp thời, xác gà phân hủy dễ tạo mầm bệnh.
    Ông Ngọc kể, nhiều trại gà rất nghiêm ngặt trong an toàn vệ sinh chuồng trại và gần như không tiếp khách ở trại gà. Khách được vào phải mặc đồ bảo hộ trùm kín đầu, mang bao tay, đi ủng riêng của trại.
    Theo quy định an toàn sinh học, mỗi nhà chuồng phải nằm trong diện tích rộng ít nhất sáu mẫu, chuồng này cách chuồng kia hơn 50 m. Chủ trại nào cũng mua bảo hiểm thiên tai, dịch bệnh cho trang trại nhưng trước tiên rất coi trọng công việc bảo đảm an toàn vệ sinh dịch bệnh.
    Gà đến ngày xuất chuồng, công ty sẽ cho người đến bắt, sau đó làm vệ sinh chuồng trại, phun thuốc khử trùng rồi mới chuẩn bị cho đợt nuôi khác. Riêng phân gà có một công ty chịu trách nhiệm xúc phân dọn sạch sàn chuồng. Tiền phân gà một năm có thể bán được hơn chục ngàn USD.
    Nuôi gà đi bộ
    Nhiều chủ trại có diện tích đất nhỏ thường có khuynh hướng nuôi gà đi bộ để cung cấp cho nhu cầu người Việt mình thích gà thả chuồng hơn gà công nghiệp.
    Ông Phạm Thanh Sơn trước đây nuôi gà thịt nhưng mỗi ngày cứ phải vặt cổ gà còi cọc, ốm yếu khiến lòng ông bất an. Ông bán chuồng trại, mua lại 20 mẫu đất cách trại gà ông Ngọc hơn chục cây số, mở trại nuôi gà đi bộ.
    Mỗi năm trại ông cung cấp ra thị trường hơn 50.000 con gà sau hai mùa nuôi. Mỗi đợt ông nuôi bốn tháng rồi mướn người làm thịt, cấp đông đem phân phối ngay cho các siêu thị trong bang Texas và các bang lân cận. Ông nói gà này thịt ngon, luộc lên da hơi vàng, dù vậy so với gà Tam Hoàng thả vườn ở Việt Nam thì không sao bằng được.
    Nuôi gà đi bộ cực công chăm sóc nhưng bù lại bán được giá cao. Tại siêu thị, giá một con gà đi bộ nặng chừng ba cân (mỗi cân bằng 453,6 g) 10 USD. Trong khi đó, giá thịt gà công nghiệp chỉ 60 cent mỗi cân.
    Bán đảo Delmarva, nơi giáp ranh với các bang Delaware, Maryland và Virginia, là khu vực chăn nuôi gia cầm lớn nhất nước Mỹ. Tại đây có hơn 2.700 chủ trại với doanh số hơn 1,7 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường đất và nước do phân gia cầm thải ra ngày càng trầm trọng. Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ sẽ xử phạt rất nặng sau khi kiểm tra mẫu đất.
    Nguồn: phapluattp.vn
     
    Last edited: 5/4/10
    Đ_Phu thích bài này.

Chia sẻ trang này