Tên khoa học các loài chó.

Thảo luận trong 'Chó, Mèo' bắt đầu bởi greenarowana, 9/3/08.

  1. greenarowana

    greenarowana Well-Known Member

    Tham gia:
    4/10/07
    Bài viết:
    1,367
    Thích đã nhận:
    89
    Đến từ:
    Hòn ngọc Viễn đông .
    Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay trên thế giới có hơn 400 giống chó nhà, trong số đó chó cảnh chiếm hơn 150 giống quý hiếm. Chúng đều có những bộ mã rất đẹp, oai phong, dễ thương và có trí thông minh, trung thành, nên đa số đã không còn phải vào rừng đi săn, hay làm những công việc lao dịch nặng nhọc khác như cha ông bao đời của chúng nữa, mà được con người nuôi nấng dạy dỗ, yêu thương như một thành viên trong gia đình.Những thông tin về các loài chó thì khá nhiều nhưng để biết thêm thông tin chính xác tên khoa học thì GA mời các bạn tham khảo thêm một số thông tin tên khoa học các loài chó dưới đây .Có thể seach tên khoa học của các loài chó sẽ ra rất nhiều thông tin và hình ảnh thu vị trên mạng Google.

    Chó khoang cổ viền: tên khoa học Border collie, cỡ 51cm, nguồn gốc mơ hồ, tính khí mạnh mẽ, thường được dùng để chăn cừu. Chúng có bộ lông xù xì, hoặc láng bóng, với độ biến thiên lớn về màu sắc.

    Chó Chihuahua: còn gọi là chó săn chồn Mễ Tây Cơ, tên khoa học Chihuahua, có 2 giống lông dài hoặc ngắn, nặng từ 1-2,75kg, là giống chó nhỏ nhất thế giới, chúng mang tên một bang của Mexico do có nguồn gốc ở đó, và chúng còn được gọi là “chó bỏ túi”. Chúng rất thích săn chuột, và có thể sống thuận thảo với mèo. Tiếng sủa nghe như khuyên can.

    Chó ngựa: tên khoa học Cavalier king Charles, được dịch là “chó ngựa xù của vua Charles”, do có nguồn gốc là chó quý của vua Charles Đệ nhị, cỡ 5,5-8,1cm. Chúng rất duyên dáng với đôi mắt to màu đen, lông dài mướt như tơ màu đen xen trắng, hoặc màu trắng. Chúng lành tính, rất thông minh và dễ luyện tập, thường xuyên ngoe nguẩy đuôi, sống thuận thảo với mèo.

    Chó fox: nguồn gốc tại Pháp, tên khoa học Fox, nặng 3-4kg, cao 30cm, nòi chó săn chuột, sóc, và cáo. Thân hình nhỏ nhắn gọn gàng, chạy rất nhanh. Bộ lông ngắn, đôi khi sát như lông bò, màu trắng hoặc vá nâu hay vàng, có khi màu đen đặc biệt. Giữ nhà rất giỏi, tiếng sủa to và dai, rất trung tín, dám lăn xả vào kẻ thù mà cắn xé.

    Chó bướm: giống chó nhỏ, hao hao chó Nhật Bản, tên khoa học Papillon (tiếng Pháp nghĩa là con bươm bướm), cỡ 20-28cm, nặng 3kg, do chúng có hai tai vểnh lên, đầu vành tai hướng ra hai bên nên trông thành hình con bướm đang dang cánh khi đậu. Nguồn gốc của giống này từ nước Pháp, sau đó mới được sống ở các nước châu Âu, rồi sang châu Á.


    Chó Bắc Kinh: còn tên khác là Chian-Lion (chó sư tử). Tên khoa học Pekingese, hoặc Pékinois, là giống chó quý hiếm cả mấy ngàn năm qua của Trung Quốc, nặng đến 5,5kg. Chúng nổi tiếng táo bạo, can đảm như sư tử, bướng bỉnh và ngoan cố, vô cùng kiêu ngạo và cực kỳ thông minh. Thân hình có phần trước nặng hơn phần sau. Lông bờm bù xù rậm rạp, có những tua dài nhằng phủ tai, phủ chân và đuôi, với nhiều loại màu sắc.

    Chó trắng Tô Cách Lan: giống chó xưa kia chuyên dùng để săn chồn và rái cá, có nguồn gốc từ cao nguyên Tô Cách Lan, nên có tên khoa học là West Highland terrier, cỡ 28cm, được biết đến vào năm 1904. Giống chó này bạo dạn, có bộ lông trắng trinh nguyên, hộp sọ đầu hơi gồ, mũi sư tử, đôi mắt đen.

    Chó Springer Anh: (giống lông mượt tai cụp) tên khoa học English Springer spainiel, được xem là tổ tiên của các giống chó xù Anh quốc, kích cỡ trên dưới 50cm, rất dễ huấn luyện do chúng thông minh và kiên trì, thường được dẫn đi săn vịt trời, chim đồng nước...

    Chó săn thỏ lông dài Nga: tên khoa học Levrier Barzoi, cỡ 69-74cm, với tầm vóc to cao và thông minh nhanh nhẹn, nên xưa kia được các hoàng đế nước Nga ưa dùng để đi săn chó sói. Chúng là giống chó nòi, có vẻ đẹp duyên dáng.

    Chó đầu to: tên khoa học Bull terrier, nổi danh “mãnh cẩu đầu to”, xưa được dùng để đấu bò, săn chồn trắng, có nguồn gốc từ Anh quốc. Chúng có vóc dáng gồ ghề, tướng đi tự tin tự mãn. Cái đầu hình chữ nhật. Đôi mắt đen hình tam giác, sụp xuống.

    Chó đốm: tên khoa học Dalmatien, cỡ 56-61cm, có nguồn gốc mơ hồ còn tranh cãi, chính là những ngôi sao trong phim hoạt hình “101 con chó đốm”. Chúng có bản tính dịu dàng, nhưng không biết sợ hãi, không ưa gây hấn. Lông ngắn và cứng, màu trắng có những đốm màu đen hoặc màu gan. Đuôi dài tới nhượng chân, có lốm đốm nhiều.

    Chó Beagle: hay chó gián điệp, nguồn gốc Anh quốc còn đang tranh cãi, khả năng thiên phú với khứu giác phi thường, nòi chó săn, cỡ 33-40cm. Chúng đa số có màu tam thể, đầu mút đuôi màu trắng.

    Chó Celte: tên khoa học Cairn terrier, còn gọi là chó săn chồn mộ đá, cỡ 28-31cm, thân hình chắc nịch, rất cân đối. Lông không thấm nước, màu kem hoặc màu lúa chín, màu xám đen... Ngày nay, giống chó nhỏ nhắn lông xù này được trở thành giống chó cảnh an nhàn trong mát.

    Chó gộc: còn gọi là chó vệ binh, hay chó võ sĩ, tên khoa học Boxer, nguồn gốc ở Đức, cỡ 54-63cm, rất lanh lợi và thích nô đùa. Bộ lông màu hung hung, hoặc màu da bò có xen trắng.

    Chó Yorkshire: tên khoa học Yorkshire terrier, nặng từ 3-3,5kg, là giống chó xuất xứ từ huyện York miền trung du nước Anh. Có bộ lông dài, tơ mịn màng, màu hung hung ánh vàng và màu thép lam. Chúng là những tay canh gác can đảm, sẵn sàng săn những loài gặm nhấm.

    Chó xù lớn Tây Tạng: tên khoa học Lhassa apso, cỡ 25cm, là một trong 4 giống hiện có ở Tây Tạng, thuộc dòng dõi của những giống chó săn cừu có lông dài ở Trung Á. Chúng có bộ lông như bức rèm che mắt. Giống này cực kỳ thông minh, không biết sợ hãi.

    Chó fox terriere: tên khoa học Fox terriere, có hai giống lông mướt hoặc cứng, kích cỡ tối đa 39cm, là giống chó có nguồn gốc mơ hồ, được biết đến từ thế kỷ XIX. Giống chó này rất liều lĩnh, đôi lúc láu lỉnh tinh ranh, sẵn sàng cãi cọ với giống chó khác, và rất dũng cảm.

    Chó Saint Hubert: tên khoa học Bloodhound, còn gọi là chó mật thám do xưa kia người ta dùng chúng trong công việc này, được đặt tên của người nuôi dưỡng tổ tiên chúng là ngài Saint Hubert (ông dùng chúng để đi săn). Giống chó này nhạy cảm, quý phái, rất trung thành với mỗi một chủ nhân. Bộ lông bóng nhẵn không thấm nước, thường có màu lửa xen màu đen, hoặc màu đỏ hoe.

    Chó Cocker: tên khoa học Cocker Spanie, cỡ 38-41cm, xuất hiện ở Tây Ban Nha trước thế kỷ XIV. Chúng có dáng đi lật đật. Mõm vuông vức, mắt nâu thẫm, tai dài, lông bóng nhẵn mịn như tơ với màu sắc đa dạng. Chó Cocker có đầu óc sắc sảo, rất năng động, thích nô đùa.

    Ngoài ra còn phải kể đến các giống chó cảnh phổ biến khác như:

    Chó trọc Tàu, tên khoa học Chien nu de chine

    Chó đầu cao Bỉ, tên khoa học Schipperke

    Chó săn thỏ Nhật (Nippon Terrier)

    Chó lông xù đốm (Clumber Spainiel)

    Chó tai dài lông xù (Setter inglés)

    Chó lông xù Gordon (khoa học Setter Gordon)

    Chó nhặt mồi lông xoắn (Curly-coated Retriever)

    Chó nhặt mồi lông xệp (Flat-coated Retriever)

    ... và rất nhiều giống chó cảnh quý hiếm, lạ lẫm và rất đắt tiền chưa được giới thiệu trong chủ đề này mong các bạn có hình ảnh và thông tin khác bổ sung thêm :D
     
  2. Doraemon25

    Doraemon25 Well-Known Member

    Tham gia:
    28/1/08
    Bài viết:
    110
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    Dalat
    Bác green ơi, bác có hình minh họa cho mấy cái tên này không? Nếu coi mỗi cái này thì em nhìn vẫn không biết loài nào ra loài nào cả?
     
  3. vicky

    vicky Well-Known Member

    Tham gia:
    4/12/07
    Bài viết:
    298
    Thích đã nhận:
    85
    Đến từ:
    hcm
    mình đang tổng hợp lại các thông tin này , theo phân loại của FCI , gồm tên gốc ( là tên gọi mà fci đã công nhận chứ ko gọi là tên khoa học , vì chó ko thuộc đối tượng nghiên cứu khoa học ( và tên gọi tại vn) . vài hôm nữa xong mìnhgio7oo7i1 thiệu cho các bạn , và từ từ sẽ cập nhật hình ảnh của từng con .thân
     
  4. thuggip

    thuggip Active Member

    Tham gia:
    29/9/07
    Bài viết:
    32
    Thích đã nhận:
    2
    Đến từ:
    quang ninh
    Nếu có thể bạn nên cho hình đại diện cho mỗi loài chó chứ chỉ chữ đọc xong chẳng nhớ mà cũng không muốn đọc lắm
     

Chia sẻ trang này