Thức ăn cho cá con

Thảo luận trong 'Nuôi - Chăm cá đĩa' bắt đầu bởi haohao, 23/5/07.

  1. haohao

    haohao Thành viên uy tín

    Tham gia:
    11/11/05
    Bài viết:
    707
    Thích đã nhận:
    406
    Đến từ:
    Q.4, TP.HCM
    Bài mình trích trong link này http://www.aquabird.com.vn/forums/showthread.php?t=19056 vì thấy có thể áp dụng cho cá dĩa con, mình thấy rất khả thi, đơn giản và ít tốn kém, mọi người bổ sung thêm nhé.
    Trùn giấm: những con giun tí hon này là nguồn thức ăn tuyệt vời cho cá con mới nở bởi vì chúng có kích thước rất nhỏ và luôn ngoe nguẩy trên mặt nước. Chúng được nuôi rất đơn giản bằng cách đổ đầy một lọ nước giấm táo cùng với một lát táo. Bạn có thể mua chai nước giấm này ở bất kỳ tiệm bán lẻ nào.
    Bạn cần có một ít trùn giấm để gây giống. Đấy chỉ là một ít giấm cũ có sẵn trùn và bạn chỉ cần đổ chúng vào bình mới. Nhớ để mở nắp hay nắp có đục lỗ để trùn có thể thở.
    Để thu hoạch trùn sau khi chúng sinh sôi nảy nở (sau khoảng 2-3 tuần) bạn cần chuẩn bị sẵn một cái phễu làm từ chai nhựa cắt đáy. Cổ chai được bịt bằng giấy lọc (loại dùng cho máy hút bụi) quấn dây thun. Đổ dấm vào phễu và giấy lọc sẽ giữ lại trùn giấm trên bề mặt.
    Gỡ dây thun, đem giấy lọc rũ trong lọ nước sạch để thu hoạch trùn giấm. Bây giờ bạn có thể đổ lọ nước có chứa trùn giấm vào hồ có cá con. Trùn giấm có thể sống đến 2-3 ngày và là nguồn thức ăn bổ dưỡng cho cá con. Hãy đổ phần nước giấm đã thu hoạch vào lọ để nuôi tiếp vì trong đó hãy còn vô số trùn giấm nhỏ mà giấy lọc không lọc hết. Thay vì dùng phễu nhựa, một vài người sử dụng phin cà phê để lọc nhưng tôi thấy cách lọc này không hiệu quả.
    Lọ trùn giấm sẽ cạn kiệt sau vài tháng khai thác nên tôi thường nuôi 2-3 lọ một lúc để đảm bảo luôn có đủ trùn giấm.
    Trùn cám (microworm): tương tự như trùn giấm bạn cần phải có con giống. Ban đầu, bạn đổ ít cháo vào hộp nhựa. Sau đó bạn thêm nước vào để hoà loãng cháo và bỏ thêm khoảng 10 viên men khô. Trộn cho kỹ trước khi bỏ trùn cám giống vào. Nhớ đục lỗ nắp hộp nhựa để trùn thở.
    Bắt đầu thu hoạch trùn cám khi bạn thấy chúng nghoe nguẩy thật nhiều trên mặt nước và bên thành hộp (quan sát dưới đèn rọi). Bạn có thể dùng ngón tay hay dụng cụ vớt trùn bên thành hộp và đem rửa bằng nước sạch, hoặc sử dụng que kem hay miếng cào lưỡi nhúng vào chậu nuôi. Sau vài giờ trùn sẽ bám đầy trên bề mặt que kem. Dùng nhíp gắp que kem ra đem rửa trong lọ nước sạch. Bây giờ bạn có thể đem nước có chứa trùn để nuôi cá hay lọc vài lần cho sạch chất dơ nếu muốn giữ cho hồ nuôi luôn sạch sẽ.
    Để lọc, bạn chỉ cần đổ thêm nước vào lọ từ vị trí cao để xáo trộn tất cả lên. Sau đó trùn sẽ lắng hết xuống đáy (sau từ 5-10 phút) và bạn đổ phần nước đục phía trên đi. Nếu bạn làm vài lần thì trùn sẽ rất sạch trước khi bạn đem cho cá ăn. Giống trùn này luôn tụ dưới đáy hồ nên không thích hợp với cá con vốn chỉ kiếm ăn trên mặt nước. Vì vậy, tôi luôn cho cá ăn cả trùn giấm lẫn trùn cám cùng lúc.
    Bạn có thể tìm các giống trùn kể trên ở các câu lạc bộ cá cảnh.
     
  2. MQ-MK

    MQ-MK Well-Known Member

    Tham gia:
    1/8/05
    Bài viết:
    136
    Thích đã nhận:
    6
    Đến từ:
    Q1 TP Hồ Chí Minh
    Cái này thấy hay thật nhưng đây là lần đầu tiên nghe nói về hai loại trùn này. Haohao tìm con giống làm mồi gầy ra trước rồi chia lại cho ae thử xem. Cái này mấy anh em nuôi cá dĩa mình biết chưa nghe ai nói.
     
  3. haohao

    haohao Thành viên uy tín

    Tham gia:
    11/11/05
    Bài viết:
    707
    Thích đã nhận:
    406
    Đến từ:
    Q.4, TP.HCM
    Trùn giấm ko bít mình có thể nuôi bằng giấm thường đc ko? Ở nhà thấy làm giầm bằng chuối, ko bít có tạo đc con trùn giấm ko nữa?

    Trùn cám theo em là làm từ mẻ (trong món thịt cầy), em sẽ gầy trùn cám trc rùi thử nghiệm mấy bầy cá bột ở nhà, bít đâu lại gây trấn động thế giới với phương pháp nui cá dĩa bột ko cần cha mẹ =)) =)) =)) =)) =)) =)) =))
     
  4. DUNGHCM

    DUNGHCM Well-Known Member

    Tham gia:
    2/8/06
    Bài viết:
    72
    Thích đã nhận:
    13
    Đến từ:
    TP HCM
    lang thangtrên mạng em chụp được cái này, các bác đọc chơi thui nha vì thứ này ờ thành phố mình nhiều nhưng ở những nơi xa xôi hẻo lánh thì đây có thể là đồ hiếm đấy hihi


    Bo bo (moina) - thức ăn cho cá bột

    Các tác giả R.W. Rottmann, J. Scott Graves, Craig Watson và Roy P.E. Yanong - nguồn http://edis.ifas.ufl.edu/FA024

    Giới thiệu
    Daphnia là loài giáp xác nước ngọt nhỏ gọi là “rận nước”. Tên này không những ám chỉ đến kích thước bé nhỏ mà còn ở chuyển động giật cục của chúng trong nước. Các chi rận nước (Daphnia) và bo bo (Moina) có quan hệ họ hàng gần với nhau. Chúng xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới và thường được gọi dưới tên chung là daphnia.

    Cấu tạo cơ thể của bo bo gồm đầu và thân (hình 1). Râu là phương tiện di chuyển chính. Đôi mắt lớn nằm dưới lớp da ở hai bên đầu. Một trong những đặc điểm chính đó là cơ thể chúng được bao phủ bởi một khung xương. Chúng tự lột lớp vỏ này một cách định kỳ. Túi ấp nơi trứng và ấu trùng phát triển nằm trên lưng của con cái. Ở rận nước túi này đóng kín nhưng ở bo bo nó lại mở.

    [​IMG]
    Hình 1. Bo bo trưởng thành.

    Có sự khác biệt đáng kể về kích thước giữa các chi. Bo bo có kích thước tối đa chỉ bằng một nửa rận nước. Bo bo trưởng thành (700-1,000 µm) có kích thước gần gấp đôi ấu trùng artemia (500 µm) và gần gấp 2-3 lần kích thước của trùng bánh xe trưởng thành (rotifer). Tuy nhiên, bo bo mới nở (nhỏ hơn 400 µm) gần bằng hay hơi lớn hơn trùng bánh xe trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng artemia. Hơn nữa, artemia chết khá nhanh trong nước ngọt. Kết quả, bo bo là thức ăn lý tưởng dành cho cá con mới nở.

    Cá bột của một số loài cá nước ngọt có thể ăn bo bo ngay từ khi mới nở. Tuy nhiên, cần biết rằng bo bo rất khó phân tách theo kích thước. Thí nghiệm lọc bo bo bằng lưới nhuyễn kích thước 500 µm tại UF/IFAS Tropical Aquaculture Laboratory cho kết quả với số lượng không đáng kể. Trong chăn nuôi, cần lưu ý đến khối lượng bo bo tiêu thụ vì chúng lớn rất nhanh, cá bột không ăn nổi. Nếu những con bo bo lớn này tập trung với mật độ cao, chuyển động giật cục của chúng có thể gây hoảng sợ cũng như tổn thương cho cá bột.

    Ở Singapore, loài Moina micrura nuôi trong ao hồ bón chủ yếu bằng phân gà hay phân heo, được sử dụng làm thức ăn chính cho cá bột của các loài cá cảnh nhiệt đới, tỷ lệ cá sống bình quân lên đến 95-99% ở kích thước 20 cm. Không may, có rất ít thông tin về phương pháp nuôi bo bo đại trà và nếu có thì chỉ là những bản đánh máy hay xuất bản hạn chế.

    Yêu cầu hoá học và vật lý
    Bo bo xuất hiện với mật độ cao ở các ao, hồ, vũng nước, dòng chảy chậm và đầm lầy nơi có nhiều chất hữu cơ. Chúng đặc biệt tập trung ở những vùng nước ấm nơi có đầy đủ điều kiện để chúng phát triển.

    Bo bo hoàn toàn thích nghi với nguồn nước kém chất lượng. Chúng có thể sống nơi nồng độ ô-xy hoà tan từ 0 cho đến bão hoà. Bo bo đặc biệt thích nghi với sự biến đổi của nồng độ ô-xy và thường sinh sôi với số lượng lớn trong môi trường nước ô nhiễm ở cống rãnh. Bo bo được cho là có vai trò quan trọng trong việc xử lý các hồ chứa nước thải. Chúng có thể sống sót trong môi trường nghèo ô-xy nhờ khả năng tổng hợp hemoglobin. Sự hình thành hemoglobin dựa trên mức độ ô-xy hoà tan trong nước. Hemoglobin có lẽ cũng phát sinh bởi nhiệt độ cao và mật độ bo bo.

    Bo bo chịu đựng được tầm nhiệt độ rất cao và dễ dàng vượt qua biến đổi nhiệt độ trong ngày từ 5-31° C, nhiệt độ tối ưu với chúng là 24-31° C. Khả năng chịu đựng tốt của bo bo là điểm thuận lợi đối với các trang trại kinh doanh cá ở miền Nam nước Mỹ và việc ươm nuôi làm thức ăn cho cá cảnh tại nhà.

    Thức ăn
    Bo bo ăn các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ (thối rữa). Vi khuẩn và nấm men có giá trị dinh dưỡng cao. Số lượng bo bo phát triển nhanh nhất khi lượng vi khuẩn, men bia và vi tảo dồi dào. Bo bo là một trong những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh Microcystis aeruginosa. Cả bã hữu cơ động lẫn thực vật đều cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng của bo bo. Chất lượng của mùn bã hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc và độ tuổi của chúng.

    Vòng đời
    Bo bo có thể sinh sản theo cách vô tính và hữu tính. Thông thường, bo bo gồm toàn con cái sinh sản theo cách vô tính. Ở điều kiện tối ưu, bo bo cái từ 4-7 ngày tuổi bắt đầu sinh sản với số lượng từ 4-22 con. Mỗi lứa cách nhau từ 1.5 đến 2 ngày, mỗi con cái đẻ từ 2-6 lần trong đời.

    Ở điều kiện môi trường bất lợi, con đực xuất hiện và sinh sản hữu tính bắt đầu, tạo ra trứng tiềm sinh tương tự như trứng artemia. Điều kiện chuyển đổi từ sinh sản vô tính sang hữu tính ở bo bo là việc cắt giảm nguồn thức ăn, kéo theo nhiều trứng được tạo ra. Như vậy, việc cung cấp đầy đủ thức ăn là cần thiết vì nó kích thích bo bo sinh sản theo cách vô tính, nhờ đó có rất ít số lượng trứng tiềm sinh được tạo ra.

    Mật độ cao ở rận nước có thể làm sự sinh sản sụt giảm một cách đáng kể nhưng điều này không xảy ra ở bo bo. Số lượng trứng sinh ra ở rận nước Dapnia magna sụt giảm mạnh khi mật độ từ 95-115 cá thể trưởng thành trên 25-30 lít. Mật độ nuôi thích hợp ở rận nước được ghi nhận là 500 con/lít. Tuy nhiên, mật độ nuôi thích hợp ở bo bo là 5000 con/lít và do đó chúng thích hợp trong chăn nuôi thâm canh.

    So sánh sự sinh sản trong các hồ nuôi Daphnia magna và Moina macrocopa bón bằng men bia và ammonium nitrate NH4NO3 cho thấy lượng thu hoạch ở bo bo (106-110 g/m3) lớn gấp 3-4 lần so với thu hoạch ở rận nước (25-40 g/m3). Khối lượng thu hoạch hàng ngày ở bo bo với thức ăn vi tảo nuôi bằng phân hữu cơ đạt 375 g/m3.

    Giá trị dinh dưỡng
    Giá trị dinh dưỡng của bo bo phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn mà chúng được nuôi. Dù vậy, lượng protein ở bo bo chiếm 50% khối lượng khô. Bo bo trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn bo bo non. Lượng chất béo chiếm 20-27% khối lượng khô ở bo bo cái trưởng thành và 4-6% ở bo bo non.

    Quy trình nuôi
    Nguyên tắc sản xuất bo bo dựa trên chuỗi bầy nuôi liên tiếp. Tóm lại, bầy nuôi mới được tạo ra hàng ngày trong các bồn chứa riêng biệt theo quy trình ở dưới. Khi tất cả nấm men, vi khuẩn và tảo được tiêu thụ hết, thường từ 5-10 ngày sau khi ươm, bo bo được thu hoạch và bầy khác được ươm tiếp. Nguyên tắc này đặc biệt thích hợp khi có một số lượng nhất định bo bo được thu hoạch mỗi ngày bởi vì việc sản xuất hàng ngày được điều khiển tốt hơn nhiều.

    Một nhóm bồn nuôi cũng thích hợp để duy trì sự đồng nhất vì rất ít khả năng bo bo có đối thủ cạnh tranh (chẳng hạn như sinh vật đơn bào, trùng bánh xe, giáp xác copepod) hay những kẻ săn mồi (như thuỷ tức, bọ gạo, ấu trùng bọ bắp cày hay cà niễng, ấu trùng chuồn chuồn hay con xin cơm).

    Bồn nuôi bán liên tục có thể duy trì đến 2 tháng hay hơn bằng việc thu hoạch hàng ngày, thay nước, cho ăn thường xuyên và duy trì tốc độ tăng trưởng. Sau đó, bồn nuôi sẽ không sinh sôi nhanh chóng khi bón thức ăn. Khi chúng không còn phát triển tốt nữa, nên thu hoạch toàn bộ bo bo và bắt đầu nuôi bầy mới.

    Bo bo có thể được sản xuất bằng cách nuôi kết hợp với thức ăn của chúng hay nuôi riêng rẽ. Nuôi kết hợp đơn giản hơn nhưng nuôi riêng rẽ lại cho kết quả tốt hơn.

    Khi nuôi riêng rẽ, bồn nuôi vi tảo được đặt sao cho nó chảy vào bồn bo bo (hình 2). Sản xuất từ những bồn riêng biệt có điểm bất lợi là cần nhiều không gian để nuôi vi tảo. Tuy nhiên cũng có điểm thuận lợi là ít có khả năng lây nhiễm bệnh, điều khiển tốt hơn và thu hoạch được nhiều bo bo hơn.

    Ghi chú: dù áp dụng cách nuôi dưỡng nào cũng luôn phải duy trì hàng loạt hồ nuôi bo bo để đề phòng trường hợp chúng bị chết.

    [​IMG]
    Hình 2. Sắp xếp hàng loạt bồn nuôi bo bo và thức ăn của chúng.

    Bồn nuôi
    Bồn nuôi trung bình có thể tích khoảng 38 lít. Tuy nhiên, thể tích này chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu của một người nuôi cá bình thường. Để nuôi với mục đích thương mại thì phải sử dụng bồn chứa, hồ nhân tạo (bằng xi măng, kim loại, plastic hay sợi thủy tinh) và hồ đất. Ngoài ra, bất cứ vật dụng nào cũng có thể được tận dụng như bồn tắm cũ, bồn rửa chén, ngăn tủ lạnh và chậu nhựa. Đừng sử dụng loại bồn kim loại ngoại trừ chúng được làm bằng loại thép không rỉ.

    Trong những bồn chứa lớn, độ sâu của nước không nên vượt quá 90 cm, từ 40 đến 50 cm là lý tưởng. Mực nước nông giúp các sinh vật phù du quang hợp và nồng độ ôxy hòa tan được tốt hơn.

    Bồn nuôi bo bo nên để ở nơi có ánh sáng khuyếch tán và bóng râm. Môi trường có cây cối và mái che bằng vải bạt (giảm 50-80% cường độ chiếu sáng) là lý tưởng. Bồn nuôi cần được che mưa để tạo độ ổn định và chắn lưới để phòng ngừa các loại côn trùng ăn thịt.

    Bồn nuôi không cần phải giữ quá sạch nhưng một số thứ như tảo sợi và ấu trùng của các loài côn trùng ăn thịt (lăng quăng, chuồn chuồn, bọ…) có thể làm giảm sản lượng bo bo. Bồn nuôi cần được sát trùng trước bằng cách phơi khô hay tẩy bằng dung dịch acid nhẹ HCl có nồng độ 30%.

    Nước
    Bo bo rất nhạy cảm với các chất hóa học và kim loại (như đồng, kẽm là những chất thường xuất hiện trong nước máy), bột giặt, chất tẩy và những chất độc hại khác trong nguồn nước. Phải đảm bảo bồn nước không bị nhiễm những chất độc trên. Nên xục khí nước máy trong ít nhất hai ngày để chlor bay hơi, hay bỏ chất trung hòa chlor như sodium thiosulfate (Na2S2O3) nếu muốn rút ngắn thời gian. Nguồn nước tự nhiên là lý tưởng. Nước mưa cũng rất tốt để nuôi bo bo nếu được hứng từ vùng không bị ô nhiễm không khí. Nước đã qua xử lý lọc cũng có thể dùng được.

    Nhiệt độ lý tưởng để nuôi bo bo là từ 24 đến 31 độ C. Chúng chỉ có thể chịu đựng được nhiệt độ cao hơn 32 độ C trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, nhiệt độ thấp khiến chúng sinh sản chậm lại.

    Xục khí
    Xục khí giúp cung cấp ôxy hòa tan cho bo bo, trộn đều thức ăn và gia tăng lượng sinh vật phù du, dẫn đến kết quả là gia tăng số lượng trứng, số lượng bo bo cái mang trứng và mật độ bo bo. Duy trì một dòng chảy nhỏ trong bồn cũng giúp gia tăng sự sinh sản. Hồ có dung tích 1.5 m3 chỉ cần duy trì từ 1 đến 2 ống xục khí. Nên tránh điều chỉnh để bọt khí thật yếu vì đầu xục có thể bị kẹt làm bo bo ngộp thở nổi lên mặt nước và có thể chết.

    Thức ăn
    Dưới đây là danh sách và tỷ lệ một số loại thức ăn dành cho bo bo. Hãy cho chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau để tìm xem đâu là loại thích hợp nhất cho bo bo của bạn. Tỷ lệ thức ăn ở đây chỉ để tham khảo và bạn cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng của mình.

    Lượng thức ăn được tính toán trên thể tích nuôi là 379 lít. Lượng thức ăn sẽ tăng thêm từ 50 -100% sau khoảng 5 ngày nuôi:

    Men làm bột bánh mì: 8.5-14.2 g.

    Men và phân hóa học: 8.5-14.2 g men và 14.2 g ammonium nitrate (NH4NO3)

    Men, cám và cỏ linh lăng (alfalfa): 8.5 g men, 42.5 g cám gạo hay lúa mạch và 42.5 g cỏ.

    Men, cám và phân bò hay bùn: 8.5 g men, 42.5 g cám gạo hay lúa mạch và 142 g phân bò hay bùn.

    Men, hạt bông và phân bò hay bùn: 8.5 g men, 42.5 g hạt bông hay lúa mạch và 142 g phân bò hay bùn.

    Phân bò hay phân ngựa khô hay bùn: 567 g phân khô hay bùn.

    Phân gà hay heo khô: 170 g phân khô.

    Men và bột tảo spirulina: 6 g bột bánh và 3 g bột tảo. Cho bo bo ăn hỗn hợp này trong hai ngày trước khi thu hoạch. Chú ý: trộn nước ấm vào men và bột tảo và để khoảng 30 phút. Khuấy đều và đổ vào bồn nuôi bo bo qua lưới lọc nhuyễn. Lưới sẽ lọc hết cặn bã.

    Phân hữu cơ thường tốt hơn phân hóa học vì cung cấp vi khuẩn, nấm, bã hữu cơ và sinh vật phù du là những thức ăn của bo bo. Có rất nhiều thứ có thể làm thức ăn cho bo bo với kết quả là chúng sinh sôi rất nhanh. Phân hóa học cũng có thể dùng làm thức ăn nhưng tốt nhất nên dùng cho hồ đất hơn là bồn và hồ nhân tạo.

    Phân tươi tốt hơn vì chúng chứa nhiều chất hữu cơ và vi khuẩn. Tuy nhiên, chuồng gia súc cần được chống muỗi để phân không chứa lăng quăng làm ảnh hưởng đến đàn bo bo. Mặc dù không tuyệt đối cần thiết nhưng phân nên để cho khô trước khi sử dụng. Loại phân bò và bùn khô bán ngoài thị trường có thể được sử dụng để nuôi bo bo.

    Mặc dù phân gia súc thường được sử dụng để nuôi bo bo, các loại thức ăn khác như men, cỏ linh lăng (alfalfa) và cám tuy không tốt bằng nhưng cũng dùng được. Bột làm bánh, cám và cỏ linh lăng khô có bán ở các cửa hàng thực phẩm.

    Những chất hữu cơ thô như phân gia súc, bùn, cám và dầu thực vật thường được đựng trong túi lưới. Khăn, vải lọc, bao nylon hay bất loại sợi dệt nào đều có thể được sử dụng tuy nhiên túi nylon và sợi tổng hợp không bị mục như vải và khăn. Với bồn lọc nhỏ, vớ nylon sử dụng rất phù hợp, rẻ tiền và thuận tiện. Sử dụng túi để loại bỏ cặn khi thu hoạch bo bo và cho phép điều khiển việc cho ăn tốt hơn.

    Cho quá nhiều thức ăn có thể làm nước mau dơ. Dù nuôi bằng loại bồn nào thì cũng nên cho ăn nhiều lần, mỗi lần một ít rồi tăng dần một khi bạn đã có kinh nghiệm. Nếu nấm men xuất hiện trong bồn chứa vì nước quá màu mỡ, bao chứa chất hữu cơ nên được lấy ra. Nếu nấm men phát triển quá mạnh, nên xả bồn chứa và làm lại từ đầu.

    Độ pH quá cao (lớn hơn 9.5) do rêu phát triển mạnh và sự gia tăng nồng độ chất độc ammonia (không phân ly) có thể hạn chế sự phát triển của bo bo. Độ pH của bồn nuôi nên điều chỉnh ở mức từ 7-8 bằng dấm ăn (acetic acid).

    Ươm nuôi
    Sử dụng con giống thuần để ươm. Tránh sử dụng con giống yếu hoặc thoái hoá, con giống đẻ trứng tiềm sinh hay con giống có lẫn loài săn mồi. Tỷ lệ gây giống khoảng 100 con bo bo/ 25 lít. Mặc dù trên lý thuyết chúng ta có thể chỉ cần bắt đầu bằng một con bo bo cái nhưng hãy luôn sử dụng một số lượng đầy đủ để phát triển đàn bo bo một cách nhanh chóng. Nếu ươm ít hơn, đàn bo bo sẽ phát triển chậm hơn do vậy số lượng thức ăn lúc đầu phải giảm xuống để tránh làm ô nhiễm nước. Nếu ươm nhiều hơn thì có thể thu hoạch sớm hơn và giảm nguy cơ nhiễm bệnh. Bo bo bắt đầu được ươm sau khi bồn được bón phân khoảng 24 giờ hay lâu hơn. Nhưng nếu bón bằng men bia thì có thể ươm bo bo sau vài giờ sục khí nếu chất lượng nước và nhiệt độ phù hợp bởi vì bo bo có thể ngay lập tức ăn các tế bào men. Một ít vi tảo hiện diện trong nước và bao tử của bo bo giống là đủ để chúng phát triển bùng phát.

    Theo dõi
    Theo dõi bồn nuôi hàng ngày để xác định tình trạng sức khoẻ của bo bo:

    Xác định sức khoẻ của bo bo bằng cách khuấy bồn nuôi, múc một muỗng lớn (15 ml) nước bồn rồi đem quan sát dưới kính lúp từ 8X đến 10X hay kính mổ. Bo bo màu xanh hay đỏ-nâu với bụng căng tròn và chuyển động linh hoạt là dấu hiệu của bầy nuôi khoẻ mạnh. Bo bo màu nhợt nhạt với bụng rỗng hay bo bo đẻ trứng là dấu hiệu của môi trường kém chất lượng hay thiếu thức ăn.

    Xác định mật độ của bo bo bằng cách nhỏ cồn 70 độ vào một muỗng trà nước bồn (3-5 ml) để giết và rồi đếm số lượng bo bo trên đĩa thí nghiệm bằng kính lúp hay kính mổ. Mật độ thu hoạch chứa từ 45-47 con trong một muỗng trà. Bằng kinh nghiệm, mật độ bo bo có thể được xác định thông qua quan sát mà không cần phải đếm.
    Mật độ thức ăn trong nước khi quan sát qua ly thuỷ tinh nên hơi xanh hay nâu nhạt như nước trà. Nước trong là dấu hiệu của sự thiếu thức ăn. Bồn nuôi nên được bón thêm từ 50-100% lượng thức ăn ban đầu nếu độ trong suốt lớn hơn 30-40 cm. Điều này có thể xác định bằng một đĩa nhựa trắng hay viền kim loại đường kính 10 cm, gắn vào một đầu gậy. Độ trong suốt là chiều sâu mà đĩa còn được nhìn thấy khi nhúng trong nước.

    Nếu phát hiện những loài săn mồi (như thuỷ tức, bọ gạo, ấu trùng bọ bắp cày hay cà niễng, ấu trùng chuồn chuồn hay con xin cơm) thì cần xả bồn nuôi, làm sạch và tiêu diệt chúng để khỏi làm ảnh hưởng đến vụ nuôi sau.

    Thu hoạch
    Thu hoạch bằng cách dùng vợt lưới nhuyễn vớt những “đám mây” bo bo nổi trên mặt nước. Cũng có thể thu hoạch bằng cách xả hay hút nước qua lưới lọc kích thước từ 50-150 µm. Tắt máy xục khí và để thức ăn lắng xuống trước khi thu hoạch. Với bồn nuôi bán liên tục, không nên thu hoạch quá 20-25% bo bo mỗi ngày trừ khi bắt đầu nuôi lứa khác. Nếu thu hoạch bằng cách xả nước bồn thì cần phải thay nước trước khi thu hoạch. Thu hoạch mỗi lần một ít và thả bo bo vào bồn nước sạch để giữ chúng sống sót.

    Chất cặn dưới đáy bồn cần được quậy lên hàng ngày cùng với lúc thu hoạch để thức ăn nổi lên và ngăn cản vi khuẩn yếm khí phát triển.

    Bổ xung
    Các loài bo bo khác nhau về kích thước, sinh sản và điều kiện sống tối ưu. Cần điều chỉnh chế độ nuôi dưỡng tùy theo loài và dòng bo bo nhất định. Gia tăng diện tích bề mặt có thể thu được những kết quả tích cực trong sản xuất bo bo. Với rận nước, khi diện tích tăng lên gấp 4 lần nhờ đặt những tấm nhựa thì khối lượng thu hoạch cũng nhiều gấp 4 lần. Không rõ là nhờ chất lượng nước được cải thiện khi vi khuẩn phân huỷ ni-tơ bám trên các bề mặt, hay sự thay đổi phân bố của rận nước hay chế độ dinh dưỡng được cải thiện.

    Không nhất thiết phải sản xuất bo bo dựa trên nhu cầu tiêu thụ của cá bột. Lượng bo bo thu được có thể trữ nhiều ngày trong bồn nước sạch đặt trong tủ lạnh. Chúng sẽ tỉnh lại khi nhiệt độ ấm lên. Chất lượng dinh dưỡng của bo bo trữ lạnh có thể không tốt bởi vì chúng bị nhịn đói một thời gian, vì vậy bo bo nên được nuôi bằng vi tảo hay men bia trước khi đem cho cá ăn.

    Bo bo có thể được trữ lâu dài bằng cách trữ lạnh trong nước muối nồng độ thấp (nồng độ 7 ppt, 1.0046) hay trữ khô. Cả hai phương pháp đều làm bo bo chết vì vậy cần phải xục khí liên tục giữ chúng lơ lửng trong nước để cá bột có thể ăn. Bo bo đông lạnh và bo bo khô không bổ dưỡng bằng bo bo tươi và cá con cũng không chuộng thức ăn này lắm. Tuy nhiên, thành phần dinh dưỡng của bo bo đông lạnh và khô cũng không bị thay đổi nhiều, những chất dinh dưỡng không tan quá nhanh vào nước. Hầu hết những enzyme hoạt động bị phân huỷ trong vòng 10 phút sau khi bỏ bo bo vào nước. Sau một giờ, tất cả những acid amin tự do và acid amin kết hợp đều bị phân huỷ.
     
    Last edited by a moderator: 25/5/07
  5. minhphong

    minhphong Làm ít nói nhiều

    Tham gia:
    19/9/06
    Bài viết:
    1,465
    Thích đã nhận:
    187
    Đến từ:
    Biệt thự ổ chuột
    THỨC ĂN CỦA CÁ ( Tiếp theo )
    Một số thức ăn động vật cho cá cảnh:

    1. Rận nước Daphina
    [​IMG]

    2. Bọ một mắt Cyclops
    [IMGo]http://i102.photobucket.com/albums/m118/minhphong83/bmtmtcyclops.jpg[/IMGo]

    3. Trứng nước Moina
    [​IMG]

    4. Artemia
    [​IMG]

    5. Cung quăng muỗi
    [​IMG]

    6. Trùn chỉ
    [​IMG]

    7. Giun ống (Tubifex)
    [​IMG][​IMG]

    8. Trùn bánh xe
    [​IMG]
    Trong thiên nhiên, cá sống trong nước sinh trưởng được bình thường nhờ có nguồn thức ăn tự nhiên phong phú về chủng loại và về số lượng, như côn trùng, cá nhỏ, ếch nhái, thân giáp thủy sinh, rong, tảo ...
    Còn trong môi trường bể nuôi, với nguồn nước sử dụng, nhất là nước máy, thì hoàn toàn không có thức ăn tự nhiên cho cá. Làm thế nào cho cá sinh sống được bình thường và chóng lớn. Người ta đã nghiên cứu và chế ra nhiều loại thức ăn nhân tạo cho nhu cầu chung cho các loại cá dù là cá ăn thịt hay cá ăn cỏ, hoặc riêng cho từng loại cá. Có nhiều loại thức ăn được chế biến khác nhau, như thức ăn thái lát, thức ăn lỏng, nén, dạng bánh, bọt hay miếng làm đông lạnh. Có đủ loại thức ăn không những để cho cá sinh sống bình thường mà còn giúp cho cá trưởng thành suốt đời sống của cá, từ lúc còn là cá bột mới nở rất nhỏ, đòi hỏi thức ăn hiển vi, cho đến cá lớn có thể ăn được mồi có cỡ lớn.
    Tuy nhiên, thức ăn tổng hợp này, dù có phong phú về chủng loại và đầy đủ về chất thì cũng bị giới hạn, vì chỉ là một kiểu thức ăn giản đơn sẽ gây ra một số phiền phức: cá chán một cách đặc biệt thức ăn đơn điệu này. Những điều rủi ro chủ yếu là khi người ta dùng loại sản phẩm nhân tạo này là sự dư thừa thức ăn. Cá ăn có mức độ mà người nuôi thì không hiểu hết nhu cầu của cá. Do vậy, cái nguy hiểm chính gây ra từ thức ăn dư này. Nếu cá ăn quá nhiều sẽ tích tụ mỡ làm giảm tuổi thọ của chúng. Mặt khác, phần thức ăn do cá ăn không hết sẽ tan rã ở trong nước bể nuôi và làm ô nhiễm nước nhanh hay chậm gây ra những hậu quả tai hại đối với sức khỏe của cá dẫn tới việc phải thay nước, bố trí lại bể, ...
    Luật nuôi cá là cho cá ăn ít nhưng nhiều lần, một lần vào buổi sáng, lần nữa vào buổi trưa và một lần cuối vào buổi chiều tối theo nhịp độ đều hàng ngày; miễn là phần thức ăn sử dụng mỗi lần phải có chừng mực. Lần cho ăn cuối ngày phải đúng trước lúc tắt nắng là có tính đến những loài sinh hoạt về đêm.
    Thêm vào những loại thức ăn công nghiệp đã khử nước, giàu về protein có bán tại các cửa hàng bán cá, mà ta thường gặp các loại dạng viên nhỏ đóng bao, ta có thể cho cá ăn nguồn thức ăn sống. Các loại cung quăng như cung quăng muỗi Culex, giun ống Tubifex, rận nước Daphnia pulex, trứng nước hay bo bo Moina, bọ một mắt (con độc nhãn) Cyclops, giun bùn, cả ấu trùng côn trùng, côn trùng thủy sinh, cá con ... Các loài thức ăn tươi thích hợp với tất cả các loài cá. Cá thường thích sử dụng cách săn bắt mồi hơn là chỉ hấp thu.
    Thường nói đến là:
    - Trùng bánh xe Rotatoria : thuộc ngành Giun tròn Nemathelminthes là nhóm động vật không xương sống rất nhỏ (1-3mm) tìm thấy ở ao và vũng nước ngọt. Những loài phổ biến nhất là Brachionus rubens và Hydatina senta. Có thể dùng vợt dài 60cm, đường kính vợt 15cm với lưới bằng nilông mịn mặt đặt ở chỗ nước tĩnh. Trùng bánh xe là thức ăn quan trọng của cá bột và cá ăn nổi.
    - Rận nước Daphnia thuộc bộ Râu chẻ Cladocera, lớp Giáp xác Crustacea ngành Chân khớp Arthropoda. Rận nước cũng thuộc nhóm sinh vật nhỏ, thường gặp là Daphnia pulex sống ở ao, trong bể lọc nước uống và trong bể bơm nước gia dụng.
    - Bọ một mắt hay con độc nhãn Cyclops cũng là một nhóm sinh vật nhỏ thuộc bộ Chân kiếm Copepoda lớp Giáp xác, ngành Chân khớp như Rận nước. Thường nhỏ hơn Daphnia có màu xanh xám. Chúng là thức ăn tốt cho cá săn bắt mồi. Không nên cho chúng vào bể nuôi sinh sản nếu thấy chúng có mang theo trứng hay con.
    - Giun ống Tubifex, thuộc họ Tubificidae, lớp Giun ít tơ Oligochaeta ngành Giun đốt Annalidae. Giun đỏ đỏ mờ, nhỏ, thường dài 1-5cm, sống và sinh sản ở những nơi dơ bẩn nhất của ao, hoặc ở cống rãnh. Thường được bắt và bán ở các cửa hàng cá cảnh. Chúng thường khó tách khỏi chất dơ bản mà chúng sống. Nên xử lý trước trong nước muối pha loãng nồng độ 0,1%, số lươợg chỉ bỏ vừa cá ăn trong ngày. Nếu bỏ quá nhiều, cá ăn không hết, giun sẽ chìm xuống đáy bể, thiếu không khí và chết làm thối nước trong bể, có thể làm cá ngộ độc.
    Cũng cần lưu ý là thuộc họ Giun ống, còn có một loài giun khác Limnodrilus hoffmeisteri kết thành các búi dày đặc màu hồng ở cống rãnh và ao nuôi cá cũng có sinh khối lớn, dùng nuôi cá tốt.
    - Cung quăng, lăng quăng là ấu trùng của các loại muỗi khác nhau, là loài thức ăn quan trọng của nhiều loài cá nuôi. Thường gặp ấu trùng này ở bề mặt các ao, hồ ... Phải vớt nhanh nếu không chúng sẽ di chuyển xuống đáy. Chỉ nên cho cá ăn vừa đủ trong 1-2 ngày, không nên bỏ vào bể quá nhiều, cá ăn không hết, hóa mụôi gây bệnh nguy hiểm.
    Trùn chỉ : Việc sử dụng các mồi sống trong tự nhiên không phải là không có trở ngại, bởi vì chúng có thể mang vào bể nuôi cá bệnh tật và các loại thù địch của cá. Giun ống hay giun chỉ gặp trong bùn ở cửa sông, gần xế các cống, cần được giữ dưới dòng nước chảy. Cũng có thể chó cá ăn những giun đất nhỏ (tránh dùng các con giun trong đất có thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ ...). Cũng có nhiều loài cá ăn các thức ăn dư thừa của người: thịt bò chín băm nhỏ, tim bò, đậu hà lan, xà lách, cải thảo, bối xôi và cả thịt trai, cá, trứng á, thịt sống băm nhỏ, các loại hạt đậu, cám ...
    Không nên vớt những loài thân giáp thủy sinh ở những nơi có nhiều loài cá sinh sống trong thiên nhiên, bởi vì chúng có thể mang bệnh vào bể nuôi. Có khi người ta vô tình mang theo những kẻ địch của cá lúc các loài này còn non. Các kẻ địch này có nhiều loại, chủ yếu là ấu trùng của Dyticus marginalis, Notonecta, Gyrinus và các ấu trùng chuồn chuồn, ta thường gọi là bắp cày của Aeshna, Libellula Sympetrum và có thể là cả những thủy tức, đỉa, ốc sên và những động vật nhỏ khác nằm trong lưới vớt mà ta không lưu ý. Do dó, đối với các kiểu thức ăn này, cần phải lọc cẩn thận. Cung quăng muỗi vớt từ sông, ao, các bể nước mưa đều được các loài cá ưa thích.
    Có những loài động vật làm thức ăn cho cá có thể nuôi để có nguồn thức ăn thường xuyên :
    - Trứng nước hay bo bo Moina sp., cùng với rận nước Daphnia, thuộc bộ râu chẻ Cladocera, ngành Chân khớp Arthropoda, và cũng đều được nuôi công nghiệp làm thức ăn cho cá con. Trứng nước phân bổ trong các thủy vực nước ngọt, thường tập trung thành đám dày đặc màu đỏ vào buổi sáng ở các ao, hồ, đầm, vũng nước, cửa cống rãnh chứa nhiều chất hữu cơ. Từ lâu, nhân dân ta thường vớt chúng làm thức ăn cho cá bột và các loài cá tra, trê, tai tượng, chép ... và nhất là để nuôi cá cảnh. Việc vớt trứng nước trong thiên nhiên không giải quyết chủ động thức ăn cho cá bột và thời gian hiện diện và đạt sản lượng cao quá ngắn cũng như có thể lẫn nhiều bọ gạo, bắp cày là những sinh vật có hại cho cá nuôi. Do đó, để chủ động trong việc tạo nguồn thức ăn cho cá, người ta phải nuôi.
    Trứng nước có lối sinh sản đặc biệt là trinh sản sinh hay sinh sản đơn tính là con cái có thể sinh ra những thế hệ con hoàn toàn cái trong điều kiện môi trường thuận lợi về thức ăn, nhiệt độ và mật độ. Trái lại, khi điều kiện sống không thích hợp, có sự xuất hiện con đực và sinh sản hữu tính cho ra trứng ở trạng thái tiềm sinh giúp chúng qua được điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Trứng nước có khả năng sinh sản rất nhanh, như Moina rchrostris, từ một con cái mới nở sau 48-60 giờ sinh sản lần thứ nhất và sau đó 25-30 giờ lại sinh sản lần thứ hai. Số con mỗi lần sinh sản trung bình từ 15-20 con. Với khả năng sinh sản cao như vậy, sau 7 ngày, chúng sẽ đạt sinh khối tối đa khoảng 9000 - 15000 con/líy môi trường nuôi.
    Thức ăn của chúng chủ yếu là những loài tảo đơn bào, các loại tế bào nấm men và các vi khuẩn. Phương pháp nuôi bằng môi trường vi khuẩn đơn giản và dễ áp dụng rộng rãi. Ví dụ, người ta dùng phân chuồng tươi, tốt nhất là phân ngựa đem phơi khô và pha theo công thức: Phân khô 18,9g, đất ao 100g, nước ao 1 lít. Cho 3 thành phần này vào một lọ chứa để trong mát. Sau 4 ngày lọc lấy phần nước, bỏ bã. Dung dịch pha loãng với 4 phần nước ao đã lọc sạch hay nước máy để sau 24 giờ cho hết chlor để dùng nuôi trứng nước.
    Người ta còn nuôi cả trùng cỏ Paramecium caudatum
    - Artemia, mà chủ yếu là Artemia salina thuộc họ Chân mang Acostraca, lớp Giáp xác, ngành Chân khớp. Trong thiên nhiên, Artemia sống ở bờ nước rất mặn hoặc mặn vừa ở ven biển và cả ở nước ngọt trong thời gian ngắn. Khi nồng độ muối thay đổi thì chạc đuôi của Artemia cũng biến dạng. Thường sinh sản vô tính. Loài này thường được nuôi nhân tạo để làm thức ăn cho cá con, tôm he.
    Artemia cũng giữ vai trò quan trọng trong thức ăn của cá trong bể nuôi, chủ yếu cho cá bột. Trứng của chúng có thể bảo quản được lâu; chúng chỉ nở ra khi người ta nhúng chúng vào nước mặn. Các ấu trùng nauplius của những Artemia vừa mới nở, tạo thành thức ăn lý tưởng của cá bột. Artemia có chất dinh dưỡng cao, lại không bị nhiễm bệnh. Có thể nuôi quay vòng để có thức ăn liên tục cho cá. Trứng Artemia thường có sẵn để dùng dưới hai dạng có vỏ và không có vỏ; loại sau thường cho năng suất cao hơn.
    Giữ gìn thói quen chăm sóc cá
    Chăm sóc cho cá có nguồn thức ăn thay đổi và đủ chất dinh dưỡng là cần thiết, lại còn phải chú ý giữ cho nơi ở của chúng trong tình trạng vệ sinh hoàn hảo nhất. Do vậy, phải theo dõi bể nuôi thường xuyên, trông coi cá, nạo tảo, làm vệ sinh chỉ đòi hỏi ít thời gian quan tâm hàng ngày, hoặc một giờ hay hai giờ là cùng.
    Sự giám sát hàng ngày được thực hiện chẳng khó khăn gì vào lúc nuôi cá. Chỉ cần thử xem chúng có đủ không và có mạnh khỏe không. Nếu thiếu thì phải xem cá có bị chết không ? Phải tức khắc vớt chúng ra tránh tình trạng cá chết trên đường phân hủy sẽ làm ô nhiễm nước trong bể và lan truyền bệnh tật. Phải xem nhiệt độ nếu là ở thời điểm lạnh, kiểm tra bộ phận lọc và thông khí, đèn. Phải rửa chùi các vòi lọc ngâm vào nước, các bộ phận thông khí, ít nhất cũng làm mỗi tháng 1 lần. Phải loại bỏ các lá cây, tỉa bớt các cành lớn và tách các cành già ra trồng nơi khác. Phải cọ rửa tảo bám vào kính ở phía trước, trừ lại ở một số nơi các mặt kính phía sau cho cá ăn tảo có thức ăn.
    Hàng tháng phải thay nước ít nhất một lần (nếu thực hiện được hàng tuần lại càng tốt), mỗi lần bớt đi 20 - 25% và thay bằng nước sạch ở nhiệt độ tốt. Nhân dịp như vậy mà lấy hết các chẩn đọng ở đáy bể và cọ rửa kính bảo vệ. Trong một thời gian nào đó, các đá bọt thông khí sẽ bị nghẽn tắc. Cần lau chùi và rửa sạch. Phải giặt các tấm bông hay len thấm bẩn hoặc thay lớp hút bẩn khác vào bình lọc.

    Nguồn : Cá cảnh - Võ Văn Chi - NXB KHKT 1993
    Sưu tầm tại : Việt Linh
    Hình ảnh : tìm bằng google
     
  6. haohao

    haohao Thành viên uy tín

    Tham gia:
    11/11/05
    Bài viết:
    707
    Thích đã nhận:
    406
    Đến từ:
    Q.4, TP.HCM
    Hiện giờ artemia là sự lựa chọn tốt nhất cho cá bột, các bạn nên mua atermia của VN dù giá có mắc hơn loại của Mỹ vì 2 nguyên nhân sau:
    1. loại của VN tỉ lệ nở là khoảng 80%, cỏn của Mỹ chỉ khoảng 50%.
    2. loại của VN con nhỏ hơn, cá nở vài ngày là có thể xơi tốt, loại của Mỹ nở ra con bự hơn nên chỉ những con cá lớn trong đàn mới có thể ăn đc, còn những con cá nhỏ con hơn coi như chết đói.
    các bạn lưu ý là bảo quản theo đúng hướng dẫn nha để tránh phải mua hộp mới khi hộp cũ xài chưa hết. Hiện nay còn có loại của Thái, chất lượng và giá cả cũng ngang với loại của VN.

    Cách ấp artemia
    pha 2 muỗng canh muối (khoảng 70-100g) với 1 lít nước và 2g artemia, sủi khí 24 giờ, khi thấy artemia bơi đc là OK, tắt sủi, để khoảng 30 phút để artemia đã nở chìm xuống đáy còn vỏ đen thì nổi lên mặt nước, dùng ống xi phông nhỏ hút artemia dưới đáy ra, cho sủi oxy để giữ artermia ko chết, nhớ dùng vợt lưới dày để vớt.
     
  7. trangvt

    trangvt Well-Known Member

    Tham gia:
    8/4/07
    Bài viết:
    70
    Thích đã nhận:
    15
    Đến từ:
    Vũng tàu
    Hôm qua mới đi khảo sát 1 trại nuôi tôm giống, có mấy thứ thức ăn cho tôm giống có thể bổ ích cho cá đĩa mới nở, tất cả đều của thailand :
    • Thức ăn dạng bột cho ấu trùng tôm mới nở gồm 2 loại : mới nở và sau 3 ngày. Hai loại này có độ đạm 52%, có đủ các loại dinh dưỡng cần thiết.
    • Thức ăn dạng hạt cho ấu trùng tôm từ 7 ngày tới 25 ngày, có 3 kích thước hạt khác nhau, có độ đạm 42% + ...
    • Artemia của thái có 4 loại : 200.000 đ, 225.000 đ, 275.000 đ và 300.000 đ hộp 425g
    Trangvt có xin thử một ít thức ăn bột và thức ăn hạt nhỏ nhất về cho đàn cá bột ở nhà ăn, thấy cá cũng ăn nhưng chưa có thời gian theo dõi hiệu quả.
    Vừa rồi cặp cá da rắn xanh đẻ khoảng 100 trứng nhưng chỉ nở khoảng 50 con, sau 14 ngày ( kể từ ngày bám cá bố mẹ ) thì tách bầy. Ngày đầu tiên không con cá con nào ăn artemia cả trangvt phải cho ăn bằng lòng đỏ trứng vịt luộc chín cà nhuyễn mà chúng ăn cũng ít thôi. Hôm sau thì bắt đầu ăn artemia và hôm sau nữa thì ăn artemia rất khỏe. Cho ăn xen kẽ 3 lần artemia và 2 lần lòng đỏ trứng vịt. Có khoảng 5 em có lẽ không thích nghi kịp với thức ăn mới nên rớt xuống đáy rồi chết, số còn lại hiên rất khỏe. Sẽ cho ăn chính bằng artemia và bổ xung bằng thức ăn mới xin được xem sao. Đàn cá này đến hôm nay là 25 ngày ( kể từ ngày bám cá bố mẹ ) còn kể từ ngày đẻ thì cũng tròn tháng rồi, lớn cỡ hạt dưa.
    Cặp cá bố mẹ đẻ lứa thứ hai cách đây 3 ngày, tỷ lệ trứng ung khoảng 20%, hôm qua thay nước hơi nhiều nên sáng nay không còn một quả trứng.
    À mà làm sao đếm được cá con nhỉ, chúng bơi loạn xạ, chỉ áng chừng thôi.
     
  8. lamvn

    lamvn Super Moderators

    Tham gia:
    24/6/04
    Bài viết:
    770
    Thích đã nhận:
    208
    Đến từ:
    Bình Dương
    Cản ơn anh Trangvt luôn thực nghiệm tìm tòi những phát kiến mới cho anh em, cá bột thì chỉ có cách vớt ra đếm mới biết được chính xác bao nhiêu, thường khi tách bầy kết hợp viêc này, nhắm chừng có khi cũng ko chính xác lắm, sai số có khi hơn 25%.
     
  9. trangvt

    trangvt Well-Known Member

    Tham gia:
    8/4/07
    Bài viết:
    70
    Thích đã nhận:
    15
    Đến từ:
    Vũng tàu
    Đám cá con có lúc tụ lại 1 góc hồ đớp gì đó trên mặt nước nhưng sau đó lại tản ra kiếm ăn một lúc rồi lại tụ lại. Có phải bị bệnh viêm mang không, bắt đầu phát hiện lúc cho ăn buổi chiều 16 giờ, vừa mới phát hiện một con sa xuống đáy nằm rồi. Trị bằng têtracilin thì viên 500mg dùng cho bao nhiêu lít nước.
     

Chia sẻ trang này