Truyền kỳ mạn lục – Họa mi truyện

Thảo luận trong 'CHIM HỌA MI ( Garrulax canorus )' bắt đầu bởi dcm, 9/1/11.

  1. dcm

    dcm Active Member

    Tham gia:
    3/3/10
    Bài viết:
    32
    Thích đã nhận:
    215
    Đến từ:
    hanoi
    <!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Truyền kỳ mạn lục – Họa mi truyện
    Chùa Kim Liên ở trên đường Tây Hồ Hà Nội nổi tiếng linh thiêng ba mặt là hồ sen, mặt còn lại ngoảnh ra con đường nhỏ uốn khúc. Khí thiêng sông núi tụ lại nằm ở vị trí đắc địa, xung quang có hương thơm cỏ lạ linh khí không biết đâu là cùng. Mỗi sáng sương trắng chưa tan, tinh tú sáng xen, nước trời một sắc, thỉnh thoảng nghe tiếng gió hát trong đám ấu bụi sen, đối đáp với tiếng chim xa xa vẳng tiếng chày giã giấy buổi sớm.Vào ngày chủ nhật hàng tuần có hội chọi mi, bất kể thời tiết đẹp xấu cũng có hơn chục đầu lồng tham gia ngẫm đó mà cũng được hơn ba niên.
    TG người gốc Hà Tĩnh ra Hà Nội đã lâu, tính người sảng khoái giỏi nhiều mặt thơ ca, lấy chim muông làm bạn từ nhỏ. Lúc bấy giờ chưa có hội mi như nay, một lần qua chùa thấy cảnh sắc tươi lạ, cỏ mao vàng và cỏ xanh trải dài dọc đường vào, xung quanh hoa sen thơm ngát, trên cành chim chóc đua ca trong làn sương sớm tự nghĩ đây là chốn linh thiêng nên từ đó cứ ngày nghỉ là đến chùa sớm để thắp hương cúng lễ.
    Đêm đó TG nằm mơ thấy lính lệ đến mời, chàng theo người đó tới cung điện thật lớn, xung quanh lính canh đứng la liệt các ty các tào dàn đều. Lính canh dẫn chàng đến một sân rộng, ngó lên trên điện thấy rèm ngọc phủ treo, sau rèm là màn lụa màu vàng, đèn nến rực rỡ sáng tựa ban ngày, trong ngoài nghiêm chỉnh không một tiếng ho. TG nín thở chờ lệnh. Lát sau thấy một viên lại mặc áo đỏ, thắt lưng bỏ múi từ trong đi ra, truyền báo:
    Cho mời thư sinh vào.
    TG lật đật lên điện thấy giữa điện có một cái sân lớn trải thảm đỏ. Xa xa là hàng chục cái lồng sơn son thiếp vàng phủ áo nhiễu đỏ thắm chia làm các cặp mỗi cặp có hai chiếc đứng ngay sau lồng là một vương công quí tộc ăn mặc sắc phục đời Lý nghiêm cẩn chắp tay đứng hầu. Xa trông thấy trên điện có bậc đế vương ngồi trên ghế lớn mặc áo hoàng bào đội mũ kim sa. TG phủ phục dưới thềm. Trên điện có người tâu:
    Vâng mệnh đã truyền TG tới :
    Lập tức nghe đức vua nghiêm giọng nói:
    Ngươi là người tài trên trần thế trước biết giữ mình, sau biết giúp đời, đam mê hoa cỏ chim muông hôm nay có hội thi chim nên ta cho ngươi tham dự. Trên điện có một người cầm hốt, mặc áo bào xanh đoán là quan văn, thưa với đức vua rằng giờ hoàng đạo đã tới xin được bắt đầu:
    Đức vua nói:
    Chuẩn tấu
    Bèn có một vị viên lại cầm sắc chỉ đi xuống hai bên dẹp thành một hàng dài nghe chỉ. Chỉ thấy ngoài điện trống dục 3 hồi thanh âm hùng tráng. Lại thấy quân lính lập thành một vòng tròn lớn chỉ để hở một lối vào rùi thấy các lính mặc áo đỏ tới lấy lồng chim từ chỗ các vị vương công quí tộc lần lượt xếp thành một vòng tròn nhỏ ở trong vòng tròn lớn. Mỗi cặp cách nhau 1 trượng nhưng ước chừng phải có đến cả chục cặp lồng.
    TG vòng tay thi lễ mắt nhìn trông lòng trộm nghĩ:
    Mình vốn ở ẩn giữa đời, vui với cá chim quên hình hài, nay được tham gia thật là hội thi thật là một cơ may hiếm có.
    Lại thấy trên điện bốn tướng hộ giá mặc áo vàng là những thân vương đầu đội lễ trên đó lễ mỗi người là 1 cái lồng phủ áo vàng có thêu rồng, tiếp đó là lồng thêu phượng thành 2 cặp từ trên điện đi xuống vào giữa vòng tròn. Lại thấy các vị vương công quì xuống bái lậy rồi một viên quan lúc trước cầm chiếu chỉ đi xuống lấy móc vàng đầu khắc rồng đuôi nạm ngọc mà mở từng áo lồng vàng, còn những lính áo vàng thì cầm móc bạc đi mở áo lồng đỏ của các lồng xunh quanh.
    Áo lồng vừa mở các con chim đồng loạt kêu nghe râm ran như khúc nhạc thần tiên, chúng đều là chim họa mi mà đều là những con xuất chúng từ các miền được các vị vương công tuyển chọn mang tới. Chợt có tiếng chói tai nghe như tiếng thanh la làm các con chim khác ngừng hót, mở mắt đã thấy con chim từ lồng phủ áo vàng bay ra khỏi lồng đậu trên móc. TG thốt lên trong tâm. Bạch mi vương. Con chim họa mi trắng vua của các loại họa mi đứng hiên ngang trên nóc lồng ngẩng cao đầu như một giọt nước của trời, nó không hót mà chỉ lắc mạnh cái đầu đánh mắt quan sát xung quanh. Liền đó con chim từ lồng phượng bay ra cũng là một con bạch mi dáng chừng nhỏ hơn mỏ vàng chân vàng cặp mắt màu đồng lượn một vòng đậu xuống gần con chim kia. Đoán chừng là một cặp mi bởi con mái búng cánh nhẹ đuôi chếch cao làm một điệu như múa.
    Từ bé đến giờ TG mới nhìn thấy một cặp mi tuyệt diệu đến thế ko phải chỉ ở sự quí hiếm mà ở độ thuần khiết về màu lông cũng như về tài nuôi dưỡng. Phải chăng đây là cặp chim thần bởi càng nhìn càng thấy hút vào chúng như một ma lực khó cưỡng. Chân cứ bước đầu óc mơ hồ ông tiến lại gần chúng mà không cách nào cưỡng lại được. Khi còn cách vài trượng thì chợt thấy tay chân lạnh toát mồ hôi vã ra bừng tỉnh khỏi giấc mộng.
    Tỉnh dậy ông vội mặc quần áo chỉnh tề lên xe nhanh đến chùa Kim Liên để thắp hương giải mộng. Đến trước cổng chùa trong ánh sáng sương mù chợt thấy có một đám tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không liền sụp lậy ở đó đến sáng. Khi cổng chùa mở mới dám đứng lên lật đật vào thắp hương trong chùa lúc xong thì mặt trời đã lên cảnh sắc tươi sáng chim hót đua ca. Chợt thấy bên trái chùa có một con chim họa mi đang hót tiếng hót véo von bên khung cửa sổ của tường gạch hình tròn có các đường chia ngẫm ra giống với cách sắp xếp nơi các vị vương công quí tộc đứng trước lồng. Vội vàng tới trước cửa vái lậy, chợt có một bàn tay đỡ vai dậy. Lúc đó thần phách không ổn định sợ đến nỗi không dám mở mắt vẫn quì mọp không dám đứng lên. Nhưng cảm giác ấm nóng của bàn tay ấy truyền xuống làm cho các kinh mạch lưu thông khí huyết tràn đầy như người bị lạnh gặp bếp lửa hồng, như trời hạn gặp mưa rào. Mới mở mắt đứng dậy thì thấy người đó là vị sư trụ trì chùa liền lật đật vái lậy. Khi TG vào sảnh chùa thưa lại chuyện sư trụ trì nói “ Chơi chim để dưỡng tính” việc chơi họa mi khới nguồn từ đời Lý ông đã có cơ duyên tới tận chỗ vương triều nhưng thiên cơ bất khả lộ. Ông đã nói ra và nhân việc ông tự tiến tới sảnh của 2 con mi vương là phạm tội lớn nên không được hưởng phúc nếu không tu nhân ngay ắt gặp đại họa cho con cháu. TG phủ phục xin trụ trì cứu lấy kẻ hèn vì lúc ấy ngu muội nhìn thấy bảo vật không kìm được lòng mình mới phạm tội lớn mong tìm cách hóa giải. Trụ trì nói tôi giúp ông kể như cũng tiết lộ thiên cơ nhưng thấy người chết mà không cứu cũng là làm điều trái với răn của Phật. Nói rồi lên kệ lấy một quyển sách dạy nuôi chim của người xưa trao cho TG nói rằng. Số phận đã thế ông phải theo nuôi chim mà dưỡng tâm tính, đến khi đắc đạo thì phải truyền lại sự học cho đời mới tránh được tội nghiệp tiền kiếp của mình. TG cầm sách về từ đó chuyên tâm nuôi chim tu dưỡng tâm tính không trễ nải, lấy mọi điều sách dậy ứng dụng đều thấy đúng. Lại lấy chỗ sảnh trái chùa làm nơi tụ họp cho đồng đạo chơi mi mỗi sáng chủ nhật cứ vậy thấm thoát đã ba niên. Một hôm nằm mơ thấy có lính lệ đến đòi sách từ đó không chơi chim nữa tất cả chim chóc trong nhà cho tặng hết mà không bán một con. Khi ông ra đi tiếng thơm để lại muôn đời đệ tử của ông có rất nhiều tiếp bước thành danh, những người không được gặp thì ao ước được làm đệ tử của ông. Nhưng chơi chim chọi cũng có cái bạc cũng dính vào 3 chữ “tham”, “sân”, “si” nên hậu vận của những người chơi cũng không được tốt gia đình lục đục, con cháu ly tán, về già ốm bệnh mà chết. Chỉ có những người biết dừng lại đúng lúc mang cái hay truyền lại cho đời mới không tránh khỏi chữ t”ham”, cứ ôm lấy một mớ chỉ truyền cho đám đệ tử hay con cháu thì cũng là kẻ háo danh. Những người chơi đích thực mới tránh được chữ “sân” không thì mất anh mất em, mất thấy mất trò. Còn những người biết coi chơi họa mi chọi là 1 thú chơi đúng nghĩa chứ không phải nghề kiếm ăn mới tránh khỏi chữ “si”.
    Chuyện xưa kể lại để răn đời dạy người.
     
    RUA01, soncaxin, tuancl and 15 others like this.
  2. KtsBim

    KtsBim Ăn ngủ Hoạ mi

    Tham gia:
    7/4/09
    Bài viết:
    1,880
    Thích đã nhận:
    6,442
    Đến từ:
    ***Hà Đông***
    TG ở đây không biết có phải là cụ Thái Giang không ạh??
     
    toilavu and mechimrung like this.
  3. vusg

    vusg Well-Known Member

    Tham gia:
    22/11/08
    Bài viết:
    50
    Thích đã nhận:
    111
    Đến từ:
    Saigon
    NHÀ THƠ HAI LẦN “THỦ KHOA” THƠ

    VŨ TỪ TRANG

    Lần theo ngõ nhỏ quanh co nhiều khúc ngoặt bất ngờ, không cần hỏi thăm, nhìn chiếc lồng chim nhỏ treo bên cửa, tôi nhận ngay ra nhà của ông. Ông là nhà thơ đã hai lần chiếm giải cao trong hai cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ, lại có một thời mê chơi chim như mê thi ca. Đó là nhà thơ Thái Giang. Nếu nói chuẩn xác, năm 1960, ông được giải nhất với trường ca “ Lửa sáng rừng ” do tạp chí Văn Nghệ, tiền thân của báo Văn Nghệ tổ chức. Tiếp đó, cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ , năm 1965. bài thơ “ Vào đêm ” của ông được giải nhì. Kỳ thi đó không có giải nhất, vì thế, anh em viết vẫn quý mến suy tôn ông là nhà thơ hai lần “ thủ khoa ”.

    Nhà thơ Thái Giang có tên thật là Thái Đình Thụy. Ông sinh năm 1933, tại quê xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông gia nhập quân đội rất sớm. Hơn mười năm trong binh ngũ ( 1950-1960 ), ông có may mắn được hành quân và dự nhiều trận đánh giặc dọc Trường Sơn. Chính vì thế, cảm hứng đời sống đã khơi nguồn cho cảm hứng thi ca luôn hừng hực và đắm say xuyên suốt trường ca “Lửa sáng rừng” của ông. Trường ca này , đã đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tạo của nhà thơ, ngay từ khi còn rất trẻ.

    Tôi được biết ông vào những năm đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ. Khi đó, ông đang làm việc ở báo Lao Động. Trang văn nghệ của báo dạo đó thường xuyên giới thiệu các tác phẩm thơ, truyện ngắn của anh em viết trẻ. Lứa anh em viết trẻ ở Hà Nội dạo đó, thường qua lại nhà ông, đọc ông nghe những sáng tác mới và nhờ ông góp ý. Ônh góp ý rất chân tình và nhiệt tình giới thiệu những sáng tác nào xứng đáng trên báo. Một loạt cây bút được ông dìu dắt ngày đó, nay đã là những cây bút vững vàng trên văn đàn. Đấy là thời người biên tập rất vô tư và rất chăm đỡ người viết. Tình cảm vô tư, chân tình và ấm áp của người biên tập, tôi thấy hình như chỉ có được ở thời điểm đấy, về sau này như thiếu hụt đi rất nhiều.

    Sự nghiệp văn học của ông rất sớm được khẳng định. Cuộc thi thơ năm 1960 đã sớm phát hiện những tài năng trẻ. Ông viết trường ca “ Lửa sáng rừng ” khi hai mươi sáu tuổi. Ở độ tuổi đó, thời điểm đó, thơ ông đã có tầm khái quát cao. Một giọng thơ cuộn chảy và hào sảng. Những câu thơ chắc khỏe, băm bổ, khác hẳn giọng thơ nặng về kỷ niệm của một thời. Bài thơ “ Vào đêm ” của ông viết tại bến phà Ghép ở Tĩnh Gia , Thanh Hóa, năm 1965. Đó là những năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại. Khu vực miền Trung được coi là tuyến lửa khốc liệt. Ông vẫn nhớ như in khung cảnh sôi động công trường bờ sông Yên, bến phà Ghép ngày đó. Trên trời, máy bay giặc điên cuồng gầm réo. Dưới mặt đất, cuồn cuộn từng dòng quân, dòng xe ra trận. Những người thợ quả cảm, bất chấp đạn bom, trần lưng thông đường, thông phà. Không khí chiến tranh hừng hực và khẩn trương, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người ra trận, người ở hậu phương, đã đi vào thơ của ông với những vần thơ sống động. Hơi thơ liền mạch, những câu thơ tài hoa, cho đến hôm nay đọc lại, vẫn thấy xao xuyến “ Vít cong sào chống cả bão mưa ”.

    Ông kể lại, ông và nhà thơ Nguyễn Đình Hồng đã làm đơn đề nghị Ban biên tập cho đi vào tuyến lửa. Thực tế chiến trường khi ấy, là nơi hấp dẫn với bất kỳ người cầm bút nào. Ngoài việc viết báo phản ánh tinh thần hăng say lao động sản xuất phục vụ chiến đấu, ông đã viết được chùm thơ và kịp thời gửi về dự thi báo Văn Nghệ. Chính nhà thơ Xuân Quỳnh đã báo cho ông biết, bài thơ của ông được giải. Ông rất vui, vì đây là lần thứ hai ông được giải cao của báo. Nhà thơ Nguyễn Đình Hồng cùng chuyến đi thực tế đó, cũng viết được “Bài thơ tình trên sông Nhật Lệ ” mà anh em viết cũng rất khen ngợi.
    Dạo đó, ông như được mùa về trường ca. Sau trường ca “Lửa sáng rừng” Thái Giang đã viết tiếp trường ca “Sóng đất”, giải thưởng đề tài văn học công nhân, năm 1972; trường ca “Điều không thể mất”, giải thưởng đề tài thương binh liệt sỹ, năm 1974; trường ca “Khi con người có Tổ quốc”, in năm 1973. Ngoài ra, ông còn viết hàng loạt truyện hình sự, với bút danh Phương Yên, từng in dài kỳ trên báo Lao Động, rồi xuất bản thành sách. Đó là cac tập “Kỳ đà mốc”, năm 1978; “Người thoáng hiện”, năm 1986; “Cánh hạc đêm”, năm 1989.

    Tôi không rõ ông có niềm vui thú chơi chim và săn chim tự năm nào. Chỉ biết miền quê rừng núi Hương Sơn của ông có rất nhiều chim. Tiếng chim vang rừng, vang làng xóm. Ông có người bác ruột chơi chim nức tiếng khắp vùng. Những buổi theo chân ông bác đi săn chim, những bữa ngồi xem ông bác sửa cánh sửa mỏ cho chim hót và chim chiến, đã khơi gợi niềm đam mê và cho ông bao kinh nghiệm chơi chim sau này.

    Ông đam mê chơi chim đến kỳ lạ. Không biết có phải giữa phố phường chật chội, giữa áp lực công việc căng thẳng, hoặc trong thẳm sâu tâm hồn ông có nỗi cô đơn nào đó, mà ông tìm đến niềm vui thú này? Tuổi thơ của ông từng gắn bó với từng bầy chim sẻ sập sè tha rơm làm tổ bên trái nhà, với đám chào mào hót líu lo ầm ĩ sau vườn ổi vườn khế. Tiếng chim ngói gù giữa đồng lúa trưa bình yên, như tiếng thổ mộc. Tiếng họa my lảnh lót ban mai như một ca sỹ giọng cao. Mỗi lần nhớ lại, luôn làm ông thổn thức. Nỗi niềm ấy đã thôi thúc ông đi tìm chim, chơi chim. Nếu có dịp đi công tác tỉnh xa, sau khi hoàn thành công việc cơ quan giao, ông lại tranh thủ đi tìm gặp những người chơi chim cùng sở thích ở địa phương đó. Ông có thể dành cả buổi ngồi ngắm một chú chim trong vườn chim của mình. Hoặc ông có thể phủ phục suốt trưa nắng cùng bạn giăng bẫy chim. Hễ bắt gặp một giọng hót nào đó bật lên từ một chú chim lạ bay vụt qua, cũng làm ông ngẩn ngơ tràn nước mắt. Trong giới chơi chim, đã từng nhắc tới ông như một “cao thủ”. Ông nói, mình chả tài cán gì trong nghề chơi, nhưng đã sa vào chơi cái gì thì say đến cùng, tìm hiểu đến cùng cái thú chơi đó. Ông chơi chim theo lối chơi riêng của mình. Chim đã giải tỏa tâm trạng ông, chim cũng nâng đỡ tâm hồn thơ ông cất cánh.
    Tôi nhớ, một dạo căn hộ tập thể của ông như chật cứng vì lồng chim. Có đến sáu bảy chục chiếc lồng chim to nhỏ khác nhau. Có lồng một chim, lồng hai chim. Với nhiều loại chim, tiếng hót trầm bổng khác nhau, như tạo nên bản hợp xướng lung linh, mà mình ông có. Tôi nhớ, trên một tờ báo nào đó, đã nói về nhà thơ Nga Ba-zit-xky một thưở cũng rất mê chơi chim. Giữa thời kỳ đất nước Nga khốn khó, nhà thơ Nga tài ba này đã dốc hết những đồng cô-pếc cuối cùng của mình để mua thức ăn cho chim. Ông từng nhường cả khẩu phần bánh mỳ của mình để cho chim ăn. Trên quần áo, trên mái tóc nhà thơ này, thường thấy trắng cả phân chim. Chim đã cho nhà thơ Nga này những vần thơ yêu nước, yêu thiên nhiên bất tử. Nhà thơ Thái Giang thì chưa dám so sánh thơ của mình với thơ của nhà thơ Nga nổi tiếng kia, nhưng ông tự nhận, lòng say mê chơi chim của ông thì không chịu thua kém.

    Vì say mê chơi chim và tài chơi chim của mình, một thưở, ông được suy tôn làm Chủ tịch Hội chim cảnh Hà Nội. Một nhà thơ nữ, cùng làm việc ở tờ báo với ông, thấy ông quá say mê chim, quên nhãng thơ, phải kêu lên, rằng anh là nhà thơ, hay gì sa đà cái chức danh chủ tịch hội chim cảnh ấy? Ông cự lai, rằng cô chẳng hiểu gì cả. Nghề chơi nào chả cần trí tuệ, chả lắm công phu, chả nhiều đắm say?! Nhiều bạn bè văn thơ, từng được ông say sưa kể về thú chơi chim chiến, chim hót. Chim chiến, là chim chọi nhau đến giọt máu cuối cùng. Chim hót, là hót đến tình yêu sự sống cuối cùng. Thì ra chim cũng như con người, đã sống là phải sống hết mình. Hạnh phúc chỉ dành cho người dũng cảm. Tôi thấy ông đã từng say mê chơi chim với lòng dũng cảm của chính mình. Ấy rồi ông cũng bị phiền toái, lâm nạn vì thú chơi chim của mình. Ông không nói, nhưng bạn bè biết chuyện đó. Vì muốn lấy lòng một cán bô cấp cao, một người cùng cơ quan đã đặt điều oan trái cho ông về quanh một con chim họa my bé nhỏ. Ông cán bộ cao cấp kia cũng dễ tin lời đơm đặt, trù úm ông đến mấy năm trời.

    Con người say chơi chim đến vậy, rồi bỗng dưng đùng đùng chán chim. Ông gọi bạn bè thân ai thích chơi chim, đến nhà, cho tất. Người trong gia đình thấy vậy, ngỡ ông như có điềm trở chứng gì, không dám khuyên can. Có người hỏi, không thích chơi nữa, sao ông không bán đi lấy ít tiền tiêu, mà lại đem cho như vậy? Ông gạt đi. Mấy tay buôn chim biết tin, mang tiền tới gạ ông nhượng lại, ông xua tay đuổi tất. Ông cho bạn bè và người thân hết sạch cả chim và lồng chim, không một luyến tiếc. Có lẽ, chỉ những người bạn cùng làm thơ mới hiểu tâm trạng bất thường của ông. Thì ra, thú chơi chim của ông một thời gian dài, chính là để lấp đậy, để khuây khỏa nỗi niềm đau đáu và ẩn khuất trong tâm hồn ông. Dẹp hết chim và lồng chim, ông quay ra lấy giấy bút, viết sàn sạt từng chùm thơ, từng chùm truyện ngắn hằng ấp ủ lâu ngày. Thì ra chữ nghĩa, nó vẫn ẩn khuất trong con người ông. Nó vẫn chuyên chở, vẫn giải tỏa tâm trạng ông thật nhất, đắm say nhất, quyết liệt nhất. Bạn viết, sau gần hai mươi năm, lại thấy tên ông xuất hiện trở lại trên các báo . Rồi hàng loạt thơ và truyện của ông in trên báo Văn Nghệ, báo Người Hà Nội, tạp chí Thơ, tạp chí Nhà Văn… Thấy vậy, tôi rất mừng. Vậy là ông không đoạn tuyệt với văn chương như một số người lầm tưởng. Dù lâu tôi không được gặp ông, nhưng thâm tâm tôi vẫn nghĩ, tạng ông làm sao mà bỏ thơ được?!

    Thực ra, những năm tháng, ông vắng bóng trên báo chí, nhưng ông vẫn lặng lẽ đọc, âm thầm nghĩ và viết. Có thể ông chưa hài lòng với những gì ông viết. Hoặc ông muốn đổi khác giọng điệu thơ của mình. Hoặc tâm trạng ông có gì chán chường chăng? Đã là người cầm bút có trách nhiệm, muốn viết câu chữ đúng với lương tâm mình, thì sao có thể dễ vui hơn hớn được. Đời người, may mắn và bất hạnh vẫn luôn song hành. Ông là người nổi danh sớm, nhưng đời sống riêng tư lại không mấy phần suôn sẻ. Cuộc chiến tranh chống Pháp, ông theo đoàn quân đi xa nhà đằng đẵng, bi kịch đã xảy ra với gia đình của ông. Mãi sau này, khi xuất ngũ và thuyên chuyển công tác về Hà Nội, ông mới lập lại tổ ấm hạnh phúc bé nhỏ của mình. Ông làm rể một gia đình Hà Nội gốc có gia phong nề nếp. Một người cũng làm rể gia đình đó, lại là thầy giáo của tôi. Đấy là thầy giáo Luận, anh em đồng hao với nhà thơ Thái Giang. Thầy giáo Luận về quê Từ Sơn, dạy toán thời tôi học cấp hai. Đó là một thầy giáo mẫu mực về cốt cách và tác phong sư phạm. Tôi còn nhớ thầy Luận, mỗi khi lên lớp, bao giờ cũng mặc com-lê chỉnh tề. Thứ hai đầu tuần, thầy đạp xe đạp Pô-giô có chở va-ly đầy sách và quần áo giặt là thẳng tắp từ bên Hà Nội sang quê tôi, đủ dùng cho cả tuần lễ. Dù chỉ là thầy giáo làng , nhưng trong thâm tâm tôi, đấy là người thầy giáo mẫu mực mà ngày nay khó tìm thấy. Sau này, tôi đã đôi lần được nghe thầy Luận kể chuyện về niềm say mê thơ của nhà thơ Thái Giang, với tấm lòng kính trọng. Thì ra, mỗi người công việc khác nhau, nhưng lại trọng nhau về ý chí. Cái gốc của quan hệ, cũng là bắt nguồn từ gốc rễ văn hóa.

    Cuộc thi thơ , với trường ca “Lửa sáng rừng” đã lui lại gần năm mươi năm trời. Những người đạt giải cao cuộc thi thơ ấy, đều đã là những nhà thơ nổi tiếng. Nhà thơ Ca Lê Hiến ( Lê Anh Xuân ) với bài thơ “Nhớ mưa quê hương”, nhà thơ Giang Nam, với bài thơ “Quê hương ”; rồi cuộc thi thơ năm 1965, nhà thơ Văn Thảo Nguyên với bài thơ “Đường lên bản Muốn”, giải nhì, là những tác phẩm tiêu biểu một thời. Thế hệ cầm bút cùng lứa, họ xứng đáng được người đọc dành cho tình cảm quý mến và kính trọng. Những tác phẩm mang lòng yêu nước, yêu thiên nhiên với tính công dân cao cả, nó vẫn tồn tại cùng năm tháng. Nhưng có lẽ sự cảm thụ, sự đồng cảm của người đọc, và ngay với chính người viết ra, cũng đã đổi thay rồi. Lớp người cầm bút cùng thời thưa vắng dần. Những vần thơ đắm say và chói sáng một thời, rồi sẽ dần đi vào quá khứ. Có phải nhà thơ cảm nhận thấy điều này, nên tự muốn lui vào sự lặng lẽ. Và không tránh khỏi bùi ngùi.

    Sau bao biến động , nhà thơ hai lần “ thủ khoa ” thưở nào, nay đã là ông già bẩy mươi sáu tuổi. Ngày ngày, ông ngồi lặng lẽ trong gian phòng khuất nẻo. Hình như ông đã chán mọi danh vọng hão huyền. Những thú chơi thường nhật dạo nào, nay chẳng màng nữa. Chỉ có những câu thơ vẫn âm ỉ và nhoi nhói trong tâm trí. Thỉnh thoảng, ông lại giở sổ tay, gạch gạch xóa xóa, ghi ghi chép chép. Đến thăm ông một trưa mưa, tôi thấm hiểu sự cô đơn của người cầm bút khi tuổi về già. Tôi muốn nhẩm đọc lại câu thơ vang vọng, đắm say một thời. Tôi biết, những câu thơ này cũng vắng dần người tri âm tri kỷ. Mỗi giai đoạn , mỗi con người, mỗi thế hệ, như có những cảm thụ khác nhau. Điều này, không dễ gì chế ngự đươc. May ra, để chiến thắng và sống vượt thời gian, chỉ có tài năng lớn và những cơ duyên lớn. Nhưng điều này, thời nào cũng ít ỏi làm sao. Vì thế, tôi càng trân trọng niềm tin của ông với thơ ca. Ông từng viết “ Thơ không chấp nhận sự dễ dãi, vô thưởng vô phạt…Nhà thơ không được phép chống gậy lụ khụ trong thơ. Tôi suôt đời đi theo con đường đó, để đến với thơ ”


    Tháng 5 năm 2009
     
    Thao-nguyen, RUA01, tuancl and 11 others like this.

Chia sẻ trang này