Truyện ngắn: Kỷ niệm chim gáy - Tô Hoài (sưu tầm)

Thảo luận trong 'Cu gáy cafe' bắt đầu bởi binhbaohiem, 15/9/11.

  1. binhbaohiem

    binhbaohiem Cu gáy ABV Sài Gòn

    Tham gia:
    30/5/11
    Bài viết:
    754
    Thích đã nhận:
    9,842
    Đến từ:
    HCM
    Ngày trước, chỗ này vắng hoe, hoang vắng từ bao giờ hay nghìn xưa vẫn thế, không rõ. Con chích chòe bay vào bên bờ ao cạn, chim nhảy một cái, rún đuôi, hót một tiếng chòe ngân nga giữa buổi chiều lặng im. Con đực gọi con mái về tổ. Chích chòe thịt gầy, mà tanh. Nhưng bẫy được đem chợ bán cũng có người mua chơi. Chích choè khó nuôi, có khi rỉa ăn con châu chấu cũng nghẹn đứt hơi. Đợi phiên chợ, lắm khi chim đã toi bảy đời.
    Con chim gáy, con gáy béo nùng nục, chim mùa tháng mười bay vào, là là giữa vòm tre. Ngon mắt quá. Tôi cũng sành bẫy chim gáy. Lại hay nghĩ đùa một mình: sao chỉ có con gáy đực mắc bẫy, con mồi cũng đực rựa, con đàn bà mượn tay ta hại ta. Còn tao lừa cả hai, thằng vào tròng thì bây giờ già rồi tao mới nhớ ra tội tao.
    Tôi vót nan, đẽo cột đem gác bếp làm chiếc lồng quả vả. Cái lưới dây đay căng trước nan lồng trên cành duối - Ở trong Nam, cái cầu máy chém này là lưng tàu lá dừa.
    Con mồi trong lồng cất giọng, tiếng gọi con cái. Một thằng nhào tới, đậu xuống cái cầu định mệnh, thò ngay mỏ vào đâm tình địch. Lưới bủa xuống, thằng ấy ngã ngửa, giãy lùng nhùng trong lưới. Tôi bóp cái thăn. Cánh đồng đương gặt, lắm thóc rơi rụng, đùi vế con gáy nào cũng nần nẫn. Tôi vặt lông, nướng chim ở vườn tre bên gốc những cây chàng ràng. Con nào ra mẽ, đầu tém, cổ cườm, vẻ tài tử gáy hay, tôi bỏ vào lồng đợi phiên đem lên chợ bán.
    Tôi đã sang tuổi thôi chơi nhặt hạt chành ràng vờ làm tiền. Tôi biết bẫy chim có tiền thật. Lại hay nghĩ ngợi lăng băng về anh chàng, chị chàng chim gáy. Tôi cũng như chim và tôi cũng có con mái. Khoảng vườn hoang này cũng là cái cội của tôi, trong Nam gọi nơi thanh vắng chim gáy hú hí nhau gọi là cội. Cái Răm thường ngày vào quét lá tre về đun bếp. Bố nó nói đặt tên Dăm là có ý ước ao lúc nào trong thắt lưng cũng rủng rỉnh dăm ba đồng xèng sai nó đi mua cút rượu, nhưng những quân chết tiệt cứ réo cái Răm, cái Răm. Bọn rỗi miệng lại tán: “Cái rau răm hạ hoả. Nhà chùa thì phải hái răm ăn đêm, chứ ở đời có miếng dồi chó lại kiêng thì có mà dại hơn con chó. Nhưng cái con Răm này thì ăn lại ngon, thế mới chết!”.
    Cái Răm có hai con mắt lá răm, đuôi mắt dài ươn ướt, nhìn ai cứ như sắp tứa nước ra. Tôi chẳng tha, nó vương bẫy cò ke tôi rồi. Nhưng tôi lại mất của về nó. Răm thích chén thịt chim gáy nướng. Tôi sĩ diện, có hôm không bẫy được, tôi đã đem ra cả con gáy ở nhà định đợi bán chợ. Răm nhanh tay vặt lông chim, mổ moi. Tôi trổ tài nướng chim cả con trên đống than que củi nó vừa kiếm được một bó. Ngày ấy, tôi chưa biết mùi rượu. Mà chỉ nhá thịt chim gáy cũng say. Tôi nhìn cái Răm ăn như đứa chết đói, con mắt lá răm long lanh đầm đìa lên thế kia thì tôi phải say rồi.
    Tốn mồi thế mà nào có ăn thua. Cuối năm, Răm lấy chồng. Một thằng ở làng trên chài được nó. Chẳng biết người mối lái hay gặp nhau ở phiên chợ, ở hội hè, ở bờ bụi nào. Thằng ấy làm vat man tầu điện. Làng tôi lam lũ thế này thì thằng vat man lái tàu, thằng sơ vơ bán vé tàu được tiếng đi làm việc Tây ngoài kẻ chợ, có lĩnh lương tháng, có ngày chủ nhật nghỉ, tôi sao địch nổi.
    ***
    Nghề canh cửi làng tôi long đong quá. Tơ Tầu bên Hồng Kông không bán sang nữa, mà tơ tằm thì chết đã lâu. Xưa rày, lụa Hà Đông lái vẫn buôn vào Sài Gòn, bây giờ đường xe lửa bị nhà binh Pháp rồi Nhật sung công. Người làng bỏ đi cao su đất đỏ, sang tận xưởng dệt ở Kampôt bên Cao Miên. Nhiều người chẳng bao giờ về.
    Tôi cũng bơ vơ đi. Thoạt đầu vào Sài Gòn. Có người mách trên Bến Cát mới mở Sở Củi đang cần nhiều người vào rừng hạ cây, đốt lò, tải than ra sông xuôi Sài Gòn. Tôi lên Bến Cát, xin được một chân chấm công. Ngày ngày cắp rổ vào rừng, ra các lò than, xuống bến điểm công cho cu li làm cả ngày, nửa ngày, làm đêm.
    Xảy ra một chuyện không may chẳng bận gì đến công việc. Ông Tây chủ Sở Củi, lão già bao nhiêu tuổi không đoán được. Đầu tóc, râu xồm tua tủa trổ kín mặt, nhô ra cái mũi nhọn hoắt, đỏ tím. Lúc nào lão cũng kè kè bình toong rượu. Đến khuya, lão xuống nhà dưới chỗ tôi nằm. Lão dựng tôi dậy, kéo tụt quần tôi. Tôi khiếp quá, đẩy lão, biến ra rừng. Sáng hôm sau đã thấy lão ngồi bàn giấy, cái bình toong để trước mặt. Lão đưa quyển sổ chấm công, lão không nhìn tôi, như không phải con dê đêm qua.
    Tôi vẫn công việc như thường ngày nhưng đêm đến lại bị lão mò xuống. Tôi lại chạy vào rừng. Hôm sau, lại như mọi ngày bình thường, khi lão cắm cúi sổ sách, khi lão cầm gậy hò hét, đuổi đánh cu li. Và vẫn thản nhiên đưa tôi quyển sổ chấm công. Mấy đêm tôi phải ngồi gốc cây, không dám chợp mắt. Sương rơi xuống lá khô tí tách như hạt mưa, như tiếng con thú, con rắn đương ngoằng tới. Có thể, con sói, con beo rình tha tôi đi.
    Tôi ra ngủ nhờ nhà thằng Gạc Rang dưới bến. Gạc Rang hàng ngày chạy thư trên huyện về xã. Ở làng tôi người trạm tráng thường được gọi tôn lên là bác Đội trạm. Đây gọi là gì, nhưng chắc Gạc Rang không phải tên người, không phải tên việc phát thư. Có lẽ trước kia nó gác rừng trên Dầu Tiếng, còn lại cái tên “Gạc Rang” hay là tên gốc Miên thế. Gạc Rang cao lớn, mắt lồi đen như củ gắm. Gạc Rang ở một mình. Một gian nhà che ván như lều chợ. Gạc Rang đeo cái túi dết bao bố, khi cởi trần đi chân không.
    Tôi ngủ đêm yên tĩnh ở nhà Gạc Rang, hôm sau vào bàn giấy, lão râu xồm chủ sở lại đưa cho quyển sổ chấm công cu li. Cuối tuần lĩnh lương, ngày ngày uể oải triền miên thế.
    Một buổi, tôi vào cửa, lão đứng dậy. Lão hếch râu thở phì phì rồi giơ cái gậy song lên, hét một câu tiếng ta thật sõi:
    - Mày vô, tao đập bể sọ, nghe không?
    Trong bàn giấy, một người ló ra. Dáng hẳn lão đã mộ thằng này thay tôi. Mặt nó bủng beo, không biết cái mặt bệnh ngã nước hay thằng này bị lão Tây hành cho đến xanh rớt như thế.
    Gạc Rang bảo: Thầy ở xứ xa đến, không biết thôi. Vùng này đã khiếp vía thằng Tây dụ khị.
    Gạc Rang thật tốt bụng. Có tôi, Gạc Rang hay thổi cơm ở nhà. Tôi chỉ còn vài đồng bạc trong túi nhưng Gạc Rang cũng không bao giờ hỏi tiền. Mấy hòn đá bắc làm ông đầu rau, cái “tay cầm” đất nung... Gạc Rang xách về một ôm bánh mỳ, có hôm ăn trừ bữa cả túi quả bơ, vú sữa.
    Tôi nằm khàn cả ngày xem kiến bò, đếm đi đếm lại, tai nghe tiếng chim bay, chim hót. Dưới sông tiếng người í ới qua đò bến Củi. Đứng trông thấy chỏm núi Bà Đen, từ đây lên Tây Ninh rậm rạp, toàn đồn điền cao su. Rừng cao su dày lá, bí hơi, cỏ cũng không mọc được quanh gốc, chim chóc lạc vào thì chết ngạt trong vòm âm u. Thành thử, các dải ven sông Sài Gòn, những rặng tre, cây dừa, cây capốc và mặt nước thảnh thơi, bao nhiêu thứ chim ra tụ hội nhảy nhót tưng bừng. Tiếng chim gáy, chim gù, giọng chuông, giọng thổ ngân rền tối ngày. Tôi bỗng động lòng, bảo Gạc Rang:
    - Chim gáy nướng, ăn ngon lắm.
    Gạc Rang hỏi: Khoái gác cu à?
    - Ngoài quê tôi bẫy chim gáy được cái ăn lại bán được tiền.
    Gạc Rang cười hềnh hệch: ở đây mà mần nghề gác cu đất.
    Gạc Rang xin ở đâu về mọi đồ nghề bẫy chim. Một chiếc lồng gãy nan, cái nụp gác bếp đã lên nước hồ bóng. Thoáng trông con cu mồi tôi đã ưng. Vừa đặt lồng, chim đã gật gù: cuc cu... cuc cu... Trong tôi như còn hơi hướng bóng vía cu đực, thằng mồi gáy khích nhau chắc? Thế là, cũng chẳng khác quê tôi, dẫu cho lạ nước lạ cái, xa xôi đường đất, tôi đã quen ngay, tôi gánh chiếc lồng bẫy cu ra rừng tìm cội, nơi có chim đôi tụ tập. Cửa lụp mở sẵn, tôi gác lên đầu tầu dừa, mỗi sống lá thành hai cái cầu tự nhiên.
    Cu mồi cất tiếng. Lập tức, nghe cánh chim liệng tới. Con cu đực đi đánh nhau đậu xuống kèo, xù lông cổ, dang hai cánh, cà mỏ, xông vào cửa lụp. Khốn nạn, chưa được mỏ nào đã nằm chỏng gọng trong lưới.
    Mỗi hôm, tôi quảy về cả chục con cu đất mập ú. Gạc Rang cũng khéo nướng. Gạc Rang giã lá sả với muối ớt hiểm, lại có nước mắm một tĩn ướp thơm rồi cặp cả con lên cái vỉ thép. Củi than hồng rực, mơ cu xèo xèo vàng nhẫy chảy xuống, than càng đượm. Gạc Rang còn ngắt về cả một đống ớt hiểm. Mỗi miếng thịt nhai kèm quả ớt, cay xé lưỡi, ăn ngon lành. Chúng tôi chén cu đất nướng đều đều, nhiều hôm khỏi thổi cơm.
    Có lẽ số phận đã bày ra thế, khi tôi có thịt chim gáy ăn thì lại có đàn bà mò đến ám ảnh, gỡ gạc. Cái con Răm ở quê lại hiện ra. ỞBến Củi này, nó là con Bảnh. Bảnh chở đò dưới Bến, cách lều Gạc Rang mấy bước chân. Mọi khi, đôi lúc rỗi, Bảnh ghé vào. Hồi này có thịt cu đất hôm nào Gạc Rang cũng gọi Banh lên.
    Bên kia Bến Củi vẫn rừng thưa, nửa ngày đường xe thổ mộ mới ra tới Trảng Bàng, chợ huyện Bến Cát lại ở bên này, có hôm cả buổi chỉ một chuyến đò sang. Cái Bảnh vào xin than trong lò của Sở Củi lên ngồi chầu quanh chiếc vỉ nướng chim.
    Gạc Rang nói ghẹo Bảnh: Rồi cho con nhỏ này theo thầy Huế ra Bắc đi gác cu.
    Cái Bảnh cười, má phúng phính. May mà bẫy được nhiều, lúc nào cũng có cả chục con gáy trói cẳng treo trên mái. Bảnh ăn tợn hơn cả hai chúng tôi. Thịt nướng vã đẫm nước mắm, nó nhá cả xương cứ răng rắc như con beo xé thịt nai, thịt hươu. Từ hôm có Bảnh ở Bến lên ăn cu nướng, tôi lại thấy say say, thịt chim mà say như rượu. Tôi mơ màng nhìn đôi má bầu bĩnh đỏ dần lên của Bảnh. Nó đã no nê, nó vươn tay nhấc cái bê chèo. Trong ống tay áo cộc, nách nó mây mẩy, trăng trắng, tròn tròn. Có khách đâu mà Bảnh xuống Bến. Đồ chừng no rồi ả cũng say, ả xuống nằm ngủ dưới đò.
    Gạc Rang nheo mắt: Tối nay cho thầy Huế xuống Bến ngủ với con Bảnh, nghe không!
    Nhưng lẽ nào tôi lại ở đây vùi đời đi bẫy chim gáy. Tôi đã gặp những người phu cao su xưa quê ngoài Hà đông, Thái Bình đi cu li mộ vào rồi trốn đồn điền. Không có thẻ thân, không dám ra đường cái, đã vào làng ở đợ rồi lấy vợ, có vợ con rồi ở luôn trong làng rừng đã mấy chục năm. Nông nỗi tôi rồi cũng thế a? Tôi đi gác cu bị beo vồ, bị bệnh, chết bỏ thây ở xó rừng này?
    Hôm tôi đi, Bảnh bỏ buổi đò, lội bộ theo ra tận Trảng Bàng. Tôi nói:
    - Anh về Sài Gòn kiếm được việc làm, anh sẽ lên rước em xuống.
    Câu hứa vu vơ thế thôi. Những chạy vạy nhốn nháo nơi đô hội thật bộn bề, mà cũng chẳng moi đâu ra việc làm, đến chỗ ở cũng không còn nơi ghé lưng. Thành phố đang kinh hoàng, mỗi hôm lại có máy bay Mỹ đến ném bom. Các phố quanh chợ Bến Thành, ga xe lửa Mỹ đã bị trúng bom, người chết, nhà đổ từng dãy. Chẳng lẽ cứ loanh quanh nơi khủng khiếp thế này? Lần hồi, tôi trở về được quê, nhưng làng tôi cũng đang trong tình cảnh tao loạn, tan tác. Cái vườn tre bị bom chỉ còn lại một gò đất lở lói, những xác người chết đói đem chôn ở đấy. Ai còn sống thì tha phương. Nhiều người bí mật vào Việt Minh đi cướp kho thóc, ra chợ mittinh kêu gọi khởi nghĩa. Tôi vào thành phố theo anh em lập Hội Cứu quốc.
    Đôi khi tôi viết thư cho Bảnh. Viết thế, nhưng tôi chẳng bao giờ nghĩ còn trở lại cái Bến Cát, Bến Củi phương trời ấy. Có hôm, nhận được thư, xem dấu bưu điện Bến Cát, đoán thư của Bảnh nhờ ai viết. Chỉ có mấy câu hát cũ, ngậm ngùi:
    Rồng chầu ngoài Huế
    Ngựa tế Đồng Nai
    Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
    Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
    Một hôm khác, tôi nhận cái thư, mở phong bì thấy tờ giấy nguệch ngoạc chữ viết liền không dấu. Mấy dòng thật kinh hãi: “Thằng thầy Huế Tây, mày mà viết thơ thọc đ. con Bảnh là vợ tao thì thằng Gạc Rang này ra giết mày không phải hăm mà thiệt đó”.
    Hơn ba mươi năm sau, tôi trở lại Sài Gòn. Không còn một quang cảnh, một tâm trạng thế nào giống thời ấy nữa, cả tôi và cả thành phố.
    Một hôm tôi đi đám cưới với Đoàn Minh Tuấn tại nhà một người bà con anh trong Chợ Lớn. Ăn cỗ, ngồi cạnh một ông bộ đội đứng tuổi đã ngót bốn mười năm đi đánh Pháp, đánh Mỹ, đi nhiệm vụ quốc tế. Chân tóc người lính Nguyên Phong đã lưa thưa bạc trắng. Ông không chơi chim, nhưng kể rạch ròi các chuyện nuôi chim, nghe đến mê. Ở thành phố bây giờ nhộn lên cái thú chơi chim. Người ta ngày càng ép mình trong những vỉ tường cao, tường thấp lại thích nhốt theo con khướu, con chích chòe để nghe chúng nó hót giả như trong bao la.
    Tôi hỏi:
    - Ông có thấy người ta nuôi chim gáy không?
    - Chim cu à? Nhiều chớ.
    Ông kể có một ông già treo lồng cu khắp nhà. Tới khuya cu vẫn gáy từng chặp - “Chả đèn điện sáng mà”. Không cần đồng hồ, chỉ nghe cu gáy mà biết giờ giấc.
    Bỗng tôi lên cơn nhớ con chim gáy, chim cu với từng mảng đời đã qua.
    Ông già nuôi một nhà cu ở một hẻm vùng chợ Đũi. Thời trẻ có nghề lái xe tải. Bây giờ thỉnh thoảng vẫn có nơi gọi đi chữa máy. Ông già nuôi rõ nhiều lồng chim. Nhiều hơn cả trong tưởng tượng tôi lúc nghe ông bộ đội kể. Đứng chỗ nào đầu cũng đụng lồng chim. Trong bếp, trong nhà cầu, gầm ván, cả trong cánh cửa. Chim cu còn thính tai hơn con ngỗng, có tiếng giày bên ngoài đi tới, tiếng gõ cửa, con chim treo trong lỗ cửa mắt bò đã cúc cu đánh tiếng. Chốc lại nhộn nhịp cuc cu... cuc cu... như cả tá đồng hồ cùng nổi chuông, tiếng trầm, tiếng dẳng, tiếng thanh. Toàn những cu đực, mấy chục thằng sa bẫy phải về tù ở đây, tiếng gáy dường như u uất, mà hay.
    - Sao ông nuôi lắm chim thế này?
    - Đến mùa thì về quê đi gác cu, đổi con ốm, con bệnh. Có khi cả tháng nghe khắp rừng ruộng mới gặp được cái cội, những con dữ dằn khó kiếm thì khi nào cũng tốt tiếng. Người ta bảo phải miệt vườn Vĩnh Long mới nhiều chim cu, không đâu, quê tôi, trên rừng cũng cả bầy cu bay rợp trời.
    - Quê ông ở đâu?
    - Trên gần Bến Cát, gần thôi. Mùa tới, bác về Bến Cát đi gác cu với tôi.
    Lúc ấy tôi chẳng nghe ông tài già nói gì cả. Kỷ niệm trong sương mù, cái đò ngang Bến Củi tưởng như mới hôm qua...
    - Coi bộ bác cũng giỏi nghề gác cu? Ngoài Bắc đi gác cu nhiều lắm a? Bác cầm mấy con về làm cu mồi.
    Tôi xin ông già một con cườm cổ dày long lanh, hai chân đỏ tươi. Tôi xách cái lồng bước đi mà con chim vẫn cuc cu... cuc cu... như ở bụi tre.
    Ừ, có khi mùa này tôi theo ông tài về Bến Cát bẫy chim. Rồi qua Bến Củi xem mọi người bây giờ ra sao. Nhưng thằng Gạc Rang đã doạ giết tôi. Có thể lắm, thằng chết dịch ấy. Mà không thì nó bỏ thuốc sâu vào nước mời tôi uống. Tôi ngẩn ngơ nghĩ mọi chuyện như mới đây. Cái yêu và cái ghen chẳng khi nào biết mình già. Gạc Rang mà trời còn để cho chứng sống thì cũng ngấp nghé tuổi ngoài tám, chín mươi. Có thể Bảnh bỏ đi từ lâu rồi. Con cu mái không bao giờ thấy con cu đực vì mình mà bị sa lưới, những người đàn bà thờ ơ và khôn ngoan.
    Ừ, một chuyến đi. Tôi cùng ông tài già lên Bến Cát. Đoàn Minh Tuấn sẽ cùng đi với tôi. Tuấn tháo vát, lại khoẻ. Văn võ được cả. Cứ phòng xa. Tôi lại lú lẫn, lại quên tôi rồi. Ấy nghề đời cứ buồn mà ưa quên thế.
    Con gáy Bến Cát tôi đem về dạn dĩ, dài giọng và trong hơn những chú chim đực ở cánh đồng ngoài này. Một lần, tôi đi đâu vắng, đến hôm về, nhà tôi bảo: “Con chim gáy của ông chầu trời rồi”. Nhìn chiếc lồng trống trơ đầu nhà. Cóng thóc vẫn vàng óng. Cóng nước đầy nhưng đục vẩn. Tôi quên dặn ở nhà hằng ngày thay nước cho chim. Chim gáy uống nước đục thì chết ngay. Đã lâu, tôi nhãng cách thức nuôi chim gáy rồi.
    Tôi cũng không trở lại nhà ông tài già chợ Đũi lần nào. Hết

    Truyện ngắn được binhbaohiem đọc trên internet, xin được chia sẻ với mọi người.

    ---------- Post added at 11:22 AM ---------- Previous post was at 11:18 AM ----------

    Các bác đừng nướng cu gáy như trong truyện nhé.
     
    transonghp, ancugay, utky and 29 others like this.
  2. hieubds

    hieubds Well-Known Member

    Tham gia:
    16/4/10
    Bài viết:
    1,011
    Thích đã nhận:
    1,414
    Đến từ:
    hồ chí minh
    đúng chất văn của cụ Tô Hoài các bác nhỉ :)
    cám ơn bác binhbaohiem nhieu
     
  3. binhbaohiem

    binhbaohiem Cu gáy ABV Sài Gòn

    Tham gia:
    30/5/11
    Bài viết:
    754
    Thích đã nhận:
    9,842
    Đến từ:
    HCM
    ĐẠO GÁC CU- Sưu tầm trên báo mạng ĐẠI ĐOÀN KẾT- Bút ký của Phan Trung Nghĩa
    Hôm nay lang thang trên net thấy một bài về ĐẠO GÁC CU, đọc thấy hay xin được chia sẻ lại tới anh em ABV. Qua đây tôi mới biết là cái thú chơi này đã có từ nhiều thế kỷ trước và trong bài cũng nói về nguồn gốc xuất xứ của nghề chơi, cái đạo cao quý của nghề và thú vui bất tận của ....nghệ thuật gác cu.



    Ông Biện Noán thì qua đời lâu rồi, còn ông Thầy Thuốc Phiêu thì sống trong căn nhà to, cổ kính tại thành phố Bạc Liêu. Đã hơn 70 tuổi rồi, dù người ông Phiêu toát lên vẻ lịch lãm vẫn không dấu được đôi mắt kèm nhèm và tay chân run rẩy của tuổi xế chiều. Thế nhưng, lạ lùng thay, khi tôi giới thiệu rằng : Tôi là nhà báo, tôi có cảm nhận rằng thú chơi dân gian ấy là một nét văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thì ông Phiêu bỗng như lột xác thành người khác, đôi mắc bỗng sáng quắc, tay chân trở nên nhanh nhẹn. Ông kể một cách sành điệu về nghề gác cu. Ông dẫn tôi đi xem bộ đồ nghề mà ông giữ như một thứ kỷ niệm. Ông bảo : già rồi, nhớ nghề, nhớ rừng lắm mà đi không nổi, đành giữ nó lại để nhớ “một thưở” của mình. Tôi đề nghị ông giới thiệu một bạn nghề để tôi đi thực tế. Thật bất ngờ, giống như chọc đúng vào chỗ ngứa, ông Phiêu bảo : “Tôi dẫn cậu đi” và sau khi ném về phía sau nhà một cái nhìn của kẻ trộm, ông Phiêu mới nặng nhọc trèo lên xe tôi rồi lẩm bẩm :
    Vợ và thiên hạ chửi cả đời mà không sao dứt nổi cái thú mê mẩn này”.
    Vợ chửi thì tôi mới nghe, nhưng thiên hạ chửi nghề gác cu thì tôi nghe lâu rồi, họ ca rằng :

    Ở đời có bốn cái ngu
    Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu
    ”.

    Cái ngu của nghề gác cu là khi con mồi và con bổi (cu rừng) xông vào trận, chúng gù, chúng thúc ngay cửa lụp (bẫy). Đó là lúc người gác cu dồn hết tâm trí trên cửa bẫy, không thiết gì xung quanh nữa, đến nỗi cọp đến gần, rắn hổ đến gần cũng không hay biết. Ngày xưa nghe nói cọp nó vồ, rắn nó cắn đúng cái anh thợ gác cu.
    Còn vì sao vợ chửi thì ông Phiêu diễn giải cho tôi nghe : “Nhà đang buôn bán ì xèo, lúa ngoài đồng chín đỏ, chờ gặt... Hửng sáng, bỗng nghe tiếng cu gáy – cái thứ tiếng như ma kêu quỷ gọi, nó làm tứ chi ngứa ngáy, thần trí mê man, giống như Mỵ Nương nghe được tiếng sáo Trương Chi. Thế là, anh thợ gác cu bỏ hết việc nhà, xách cu mồi, vác lụp ra đi, đổ hết việc nhà lên đầu vợ, vợ nó ức, nó chửi”.

    Sách cũ chép lại rằng : Vào đầu thế kỷ này, nghề gác cu được du nhập từ Tịnh Biên (Vùng biên giới Việt Nam – Campuchia) sang và nó phát triển ra cả Đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL). Chúng ta thử nhìn lại thập niên 70 trở về truớc thì thấy hầu như làng nào cũng có nguời làm nghề gác cu. Nguồn gốc của người Khmer nhưng khi nghề gác cu vào ĐBSCL thì được người Việt, người Hoa tiếp nhận một cách hào hứng và cải biên không ngừng. Đặc biệt, ở xứ Bạc Liêu này, ngày xưa đã lôi cuốn nhiều bậc quan trưởng, công tử như : ông Biện Noán, ông Cả Được, cậu Ba con của đại địa chủ Châu Oai... Ông thầy thuốc Phiêu kể : “Năm 1972, tôi lên Sài Gòn chơi, một ông cựu Tỉnh trưởng của chính quyền Sài Gòn biết tôi khoái gác cu đã bỏ hết công việc, theo tôi về Bạc Liêu chơi. Ông đã 80 tuổi rồi mà băng rừng, lội đồng hàng tháng trời không biết chán...”.

    Tôi lẩm bẩm: Nghề gác cu quả là một sự lạ lùng, nó hút hồn hút vía người ta. Nó là thứ gì mà ghê gớm nhỉ ? Ông Phiêu bảo : “Cậu cứ nghĩ thử xem, chẳng có ai làm nghề gác cu đem bán cả. Vì giỏi lắm ngày chỉ bắt được hai – ba con, có bữa chẳng có con nào ; và cũng không phải gác cu để kiếm thịt làm thức nhắm, cánh thợ chúng tôi chơi với cu riết rồi không muốn ăn thịt nó nữa. Gác được con cu dở thì cho người ta, được con cu hay thì luyện thành cu mồi... Vấn đề là khoái nghe tiếng cu kêu, khoái nhìn hai con vờn nhau nơi cửa lụp, khoái rừng rậm âm u và đồng xanh mênh mông cánh cò. Tóm lại là thích đi lông nhông giữa thiên nhiên cao rộng”.

    Tôi còn nghe người ta kể : Cậu Ba – con trai địa chủ Châu Oai vì tư thù nên giết lầm một người rồi sau đó day dứt ân hận cả đời. Cậu Ba sống thui thủi với ánh mắt u ám, ngày ngày cậu xách cu mồi, vác lụp và cặp theo một cây đàn tranh lội năm – mười cây số vào những vùng quê xa để gác cu. Khi đặt lụp lên kèo xong thì cậu Ba tìm một bóng mát để rồi ngồi khảy đàn trong thần trí mơ màng, ai hỏi gì cũng không nói. Đến gần cuối đời, cậu bảo : “Ta sông được lâu thế này là nhờ thú gác cu”. Hóa ra, cái ghê gớm của thú gác cu là ở chỗ nó rửa ráy được tâm hồn người ta.
    Ông Phiêu kể về quá khứ gác cu của mình bằng giọng ngậm ngùi, trang trọng : “Mười tuổi tôi đã đi theo ông Cả Kim gác cu. Ngày nào tôi cũng vác lụp, quảy lồng cu giúp ông đi lang thang trong rừng mặc dù cha mẹ tôi rầy la rất dữ. Máu mê gác cu càng ngày càng đậm trong người tôi. Đến mười ba tuổi, một hôm ông Cả Kim kêu tôi về nhà ông rồi bảo : “Mầy bây giờ đi gác cu lẻ được rồi, nếu muốn ông nhận làm đệ tử, ông cho một con mồi, bộ đồ nghề và truyền nghiệp cho ?”.
    Tôi mừng rơn trong bụng rồi bảo: “Muốn”. Thế là ông kêu tôi đến khấu đầu thắp nhang rồi lạy ra mắt tổ nghiệp. Tổ gác cu được ông Cả Kim thờ trên một cái trang đỏ chót nơi cây xiên nhà. Tôi hỏi: “Nghề gác cu cũng có tổ nữa sao?”. Ông bảo : “Nghề nào cũng có tổ để người làm nghề hành xử đúng đạo của nghiệp”. Trong không gian, khói hương lan tỏa, trầm mặc và rờn rợn thần bí. Tôi trở thành đệ tử, kẻ đồng đạo của ông trong “tôn giáo gác cu”. Trong ý nghĩ tò mò của con trẻ, tôi hỏi : “Thế tổ nghiệp là ai ?”. Ông Cả Kim bảo : “Người ta nói hồn người, hồn thiêng sông núi ; vậy thì rừng rú, ruộng đồng lại cũng có hồn. Hồn rừng rú, ruộng đồng đích thị là ổng – tổ nghiệp của chúng ta. Rừng rú, ruộng đồng dung dưỡng nuôi nấng chim muông, ta tự nhiên có chim chóc mà ăn, mà chơi. Việc như vậy chẳng lẽ không sinh ra ân nghĩa với rừng rú, ruộng đồng ? Thói đời với những người khuất mày khuất mặt, cách đối xử duy nhất là thờ phượng, cúng kiến. Đó cũng là một cách trả nghĩa với thiên nhiên, với trời đất”.”
    Nghe câu chuyện của ông thầy thuốc Phiêu, tôi suy ngẫm : Cái anh gác cu này quả nhiên lớn chuyện rồi. Thời đại ngày nay chúng ta gào thiết kêu gọi mọi người phải hành xử có trách nhiệm với thiên nhiên thì từ mấy trăm năm trước “Đạo gác cu” đã khuyến cáo cho các đệ tử việc ấy rồi. Trong cái mê tín ấy thoáng hiện, thoáng ẩn một giá trị nhân văn !
    Xe chúng tôi đến Sóc Đồn, xã Hưng Hội thì đến nhà bạn nghề của ông thầy thuốc Phiêu. Ông này người Khmer, tên Trương Suôl. Thế nhưng, hỏi cả ấp Sóc Đồn này (trừ mấy ông chánh quyền) Trương Suôl là ai thì chẳng ai biết, người ta chỉ biết có ông Hai Cu. Nghe đại danh cũng biết ngay là bậc tiên chỉ của nghề gác cu. Lão sư Hai Cu ở như một kẻ quy ẩn, ngôi nhà nhỏ của ông nằm sâu giữa ruộng lúa, xa xa thấp thoáng những vườn cây tạp : tre, me, còng, dừa... Trước mái hiên nhà treo lủng lẳng năm- bảy chiếc lồng cu. Thấy chúng tôi đến gần, lão sư Hai cu huýt sáo vào bảo : “Chào khách đi các con”, thế là các chú cu đất đồng loạt quay về phía chúng tôi rồi gáy vang : cù ... cú ...cu. Đầu chúng mọp mọp như vái chào. Tôi trố mắt rồi bật thốt : Quả là thiện nghệ, xin bái phục !
    Hai ông bạn nghề gặp nhau mừng lắm. Ông Phiêu bảo : “Có khỏe không ông bạn già ?”. Lão Hai Cu trong chiếc áo lạnh đen cũ kỹ, hơi thở khò khè, nặng nhọc trả lời chậm chạp : “Hổm rày bệnh quá !”. Nghe thế, tôi đâm thất vọng. Thế nhưng, khi ông Phiêu trình bày lý do chúng tôi đến thì ông Hai Cu lật đật chuẩn bị đồ nghề đi gác cu. Thấy tôi ái ngại, ông bảo : “Không sao, lội quen rồi !”. Ông Hai Cu xách một chiếc lồng và vác cái lụp cùng chúng tôi khởi hành về cụm vườn xa xa. Ông nói : “Đây là con mồi hay nhất của tôi. Nó bầu bạn với tôi đã 37 năm rồi đó”. Tôi hỏi : “Con mồi hay là như thế nào ?”. Ông Hai Cu nói : “Đó là con cu mà khi ta gác lên kèo là nó gáy suốt. Có những con bổi rất khôn cứ đứng trên kèo mãi mà không chịu vào cửa lụp, con mồi hay phải biết dụ bằng nhiều cách như chiu đến “kèm một” “kèm hai” “kèm ba”. Chiu không xong thì nó chuyển sang bo : cù ... cụ ... cú ... cụ rồi chuyển sang thúc : cúc ... cu ... cúc ... cu. Nó cứ làm nhiều cách như vậy cho đến khi cửa bẫy sập mới thôi”.
    Tôi hỏi tiếp : “Thế làm sao luyện được con mồi hay ?”. Ông Hai Cu giải thích : “Con bổi nào mà gác càng khó bắt được, khi tập làm cu mồi càng hay chừng đó. Như con mồi mà tôi cầm trên tay đây, hơn 30 năm trước, tôi theo hơn nửa tháng trời mới bẫy được. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố nữa như chọn con cu : đầu nhỏ, mỏ nhọn, chân thanh tú, đuôi thon ... Ngược lại, nhằm con mồi nhát, cu rừng sà xuống là câm họng ngay. Chọn một con mồi tốt thì chưa đủ, còn phải luyện cho nó nhận được lệnh thợ gác cu qua tiếng huýt sáo để khi nào nó gáy cốt một, hoặc cốt hai, cốt ba”.
    Ông thầy thuốc Phiêu cũng góp chuyện để giúp tôi tìm hiểu nghề gác cu này, rằng cu có rất nhiều giọng gáy như : giọng chuông, giọng đồng, giọng thổ... mỗi giọng gáy có một thế mạnh khác nhau, giọng chuông thì ngân xa, giọng thổ thì kêu lớn, dễ chọc tức con mồi... Nuôi được cu mồi sống lâu không phải là chuyện dễ vì chúng hay bị những bệnh phổ biến như : đẹn lưỡi, ăn không tiêu...thợ gác cu có những bài thuốc gia truyền mà các ông dám chắc rằng ngay cả ngành Thú y Việt Nam chưa chắc đã hiểu nổi. Thí du : Khi con cu ăn không tiêu, biểu hiện qua việc nó ỉa phân trắng thì các ông dùng đất nung chín đỏ rồi tán nhỏ cho ăn ; nếu nó bệnh mắt thì dùng ớt hiểm quẹt vào, hoặc bị đẹn lưỡi thì lấy rau ngò om kèm với trùn đất nhét vào miệng nó...
    Các ông già bảo có ai nuôi cu mồi rồi cũng phải đón nhận những cuộc chia ly không kém phần đau đớn, bởi có những con mồi sống với người thợ hai – ba chục năm, họ quý mến nó nhu con. Ông Phiêu kể : “Hồi 10 năm trước con mồi của tôi bị bệnh, trị bằng nhiều cách nhưng không hết, đến cuối cùng tôi ủ ấm nó trong lòng đến sáng đêm, vậy mà nó cũng ra đi”. Còn ông Hai Cu thì nói : “7 năm trước vào mùa lúa chín, biết con mồi (con mồi này do thầy tôi cho đã hơn 25 năm) bị bệnh nhưng bận đi kêu công gặt, tôi bảo vợ tôi ở nhà đi kiếm thuốc dùm, thế nhưng vợ tôi bỏ về quê vùng Cửu Long; chiều tôi về thì con cu đã chảy nước dãi ra miệng, sau đó thì nó chết. Tôi cầm con mồi trên tay mà nước mắt rớt như mưa. Lần đó, hai vợ chồng tôi “hục hặc” với nhau suốt một tháng trời”.
    Ông thầy thuốc Phiêu hỏi ông Hai Cu : “Có cội không ? Chứ trưa nắng vầy khó gác lắm”. “Có !”. Ông Hai Cu trả lời. Thấy tôi ngạc nhiên, hai ông già giải thích. Thì ra cội là đại bản doanh của một đôi cu đất. Mỗi gã cu đực tùy vào uy vũ của bản thân mình mà hùng cứ một vùng rừng rộng, hẹp khác nhau. Song hành với nó là một nàng cu mái. Đôi bạn tìm giữa khu vực cát cứ của mình một tàng cây cao mà trú đêm và đẻ trứng.. Người gác cu có nghề đứng từ xa nhìn thấy giữa tàng cây một con đực đâm thẳng lên trời xanh rồi lao đi hoặc con mái mang mồi về thì đó là cội. Gác cu đúng cây cội thì xác suất gần như 100%, bởi vì như ông Hai Cu giải thích : “Chú thử nghĩ xem ruộng vườn, nhà cửa và vợ của mình, đột nhiên có một thằng đẹp trai, cà chớn đến định cày xới ruộng rẫy mình, định ở nhà mình và quan trọng hơn, nó định lấy vợ mình thì không tức sao được?”.
    Cây cội của ông Hai Cu là một cây dừa lẫn lộn trong hàng chục cây dừa khác mà với con mắt vô nghề, tôi không tài nào nhận ra những đặc điểm khác biệt của nó. Ông Hai Cu gắn chiếc lụp lên một ngọn cây sào gỗ rồi đặt chiếc bẫy bên trong có con cu mồi lên sống lá dừa, miệng bẫy hướng ra đuôi tàu lá. Cái sống dừa chính là “chiếc kèo” – con đường dẫn vào cạm bẫy. Chỉ khoảng một phút khi ông Hai Cu đặt bẫy xong là con mồi gáy to lên làm âm vang khu vườn trưa tĩnh lặng. Và ngay tức thì một gã cu rừng lao đến đậu trên kèo. Gã hùng hổ phùng lông, xòe cánh, đầu hướng vào con mồi nhứ nhứ mà bo : cú ... cụ... cù... cu... Thế nhưng, gã cứ đi vô đi ra không thèm bước lên cái thang gỗ (một dụng cụ làm cho bẫy sập).
    Ở dưới đất cách khoảng hơn 10 mét, trong một lùm cây hai “tiền bối” và một “hậu sinh” dán mắt chặt vào chiếc lụp, không còn biết trời trăng gì nữa. Hễ con cu mồi bo là hai tiền bối trợn mắt phùng mang, hễ con mồi vỗ cánh là hai tay của họ vỗ vỗ... Ông thầy thuốc Phiêu bảo : “Cho nó thúc đi”. Miệng ông Hai Cu phát ra tiếng huýt sáo. Con cu mồi liền đổi giọng : túc cu... túc cu... túc cu... Tôi nghĩ : Giộng huýt sáo của lão sư Hai Cu là tiếng của ma quỷ rồi chứ làm sao chim chóc lại nghe được tiếng người. Có lẽ không thể chịu nổi nữa rồi, con cu rừng xắn vào và giây phút định mệnh của đời nó diễn ra, chiếc bẫy sập xuống, con cu dẫy dụa tuyệt vọng trong chiếc lưới. Ba thầy trò lao ra móc xuống một con cu đất mập ú.
    Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình xa năm – mười cây số. Giò cẵng tôi rệu rã, thế nhưng lạ lùng thay hai lão sư dường như không biết mệt, họ lội sàn sạt trong nhũng vạt rừng. Chiều chín đỏ một góc trời, chúng tôi trở về nơi “quy ẩn” của lão sư Hai Cu với chiến lợi phẩm : ba chú cu đất mập ú.
    Rượu càng say, hai lão tiền bối gác cu càng tâm sự vào chiều sâu. Các ông bảo rằng lớp các ông mà qua đời thì nghề gác cu sẽ mai một, vì con cháu các cụ chẳng đứa nào nối nghiệp cả. Chúng bảo : “Thời đại tân kỳ cần giải trí thì người ta leo lên “Dream” chỡ người yêu chạy ào ào trên phố. Chứ ai lại dang nắng làm những việc vô ích”. Các ông nói rằng : nghe hậu sinh nói thế thì ngưòi già buồn lắm, thú gác cu đi vãng cảnh chính là để tạo ra quá trình “nhập đồng” đưa cái hồn thiên nhiên vào hồn người, để người thêm quý thêm yêu chim muông, cây cỏ... Hèn gì, thời đại tân kỳ làm cho người ta tàn phá thiên nhiên không thương xót. Hai ông bảo : Gần đây, nghề gác cu có xuất hiện một lớp đông nhưng chúng không ra đời từ lò gác cu truyền thống, mà bởi nhu cầu bức xúc của các nhà hàng đặc sản. Lớp người này hành nghề một cách vô đạo vì rất dã man. Chúng len lỏi khắp các vùng nông thôn sâu với những tấm lưới ngang năm mét, dài mười mét và một con cu mồi. Chúng may mắt con cu mồi lại không cho thấy đường và cho đứng giữa tấm luới, từ xa, chúng nhìn trời thấy có một bầy cu bay đến là giật cho con cu mồi chớp chớp cánh. Thế là bao nhiêu cu rừng sà xuống, chúng giật cho tấm lưới bung lên cao rồi chụp xuống đầu không sẩy một con. Cách gác cu mới này có khi một ngày bắt được hàng trăm con. Cộng thêm nữa là nền công nghiệp ngày nay với những giải pháp tân kỳ như trộn thuốc trừ sâu vào giống rồi mang ra sạ khô trên ruộng, vô tình đã thuốc chim cu chết hàng loạt. Hai ông kỳ lão của tôi bảo rằng “Chim cu đã thưa đến 70 – 80%, có khi đi dăm ba ngày không gác được một con, giải nghệ là vừa”.
    Châu thổ sông Cửu Long – vùng đất khai mở muộn màng của chúng ta – quá trình khẩn hoang đã làm nẩy sinh những việc lạ đời như : phát cỏ, nhấp cá lóc, đặt trúm... và thú gác cu, tổng những thứ này lại chúng ta có được văn hóa đặc trưng của Nam Bộ. Bản sắc ấy giúp cho vùng đất giàu có này không lẫn với ai khác.
    Bút ký của Phan Trung Nghĩa
     
    Last edited: 27/7/12

Chia sẻ trang này