vài kinh nghiệm chơi cá đá..(tt)

Thảo luận trong 'CÁ CHỌI - CÁ ĐÁ - BETTAS' bắt đầu bởi binhvirile, 12/5/07.

  1. binhvirile

    binhvirile Well-Known Member

    Tham gia:
    22/4/07
    Bài viết:
    236
    Thích đã nhận:
    10
    Đến từ:
    ho chi minh
    Dịch tiếp theo nè...
    Dạng cá đá tốt
    Như thế nào là dạng cá đá tốt nhất? Dạng cá đá tốt nhất là dạng tổng hợp của cả ba dạng kể trên. Điều đó có nghĩa con cá tốt nhất phải có thân tròn như bản lóc. Nó cũng phải có cái cổ và thân dày như bản rô và bơi nhanh như bản thát lát. Nhìn chung, cấu trúc cơ thể phải cân đối. Kích thước của đầu và gốc đuôi phải có tỷ lệ thích hợp. Mỗi bộ phận cơ thể không được quá to hay quá nhỏ. Chiều dài phần đầu bằng khoảng 1/3 chiều dài thân vì vậy con cá trông không quá dài hay quá ngắn. Cá quá dài hay quá ngắn làm cho chuyển động của nó mất cân bằng.


    Con cá tốt phảicó hình dạng tổng hợp của cả ba dạng cá đá điển hình với cấu trúc cơ thể cân đối. Nó có vây to, đầu và thân dày với cái miệng của dạng bản lóc. Nó phải to xương có nghĩa vẫn giữ nguyên hình dạng khi được ngâm trong nước lá bàng khô trong vòng một tháng. Tuy nhiên, cá có hình dạng hoàn hảo không có nghĩa là nó chắc chắn sẽ là kẻ chiến thắng trong các cuộc đấu. Nó chỉ đơn giản có nhiều lợi thế hơn để chiến thắng đối thủ mà thôi.


    Đánh giá cá
    Mục đích của việc đánh giá cá là kiểm tra về mức độ phù hợp của con cá trước khi đem huấn luyện rồi sau đó là đi thi đấu. Có hai bước đánh giá cần được thực hiện: 1-đánh giá về sinh lý để biết được mức độ trưởng thành của con cá và đảm bảo cá không bị khuyết tật. 2-đánh giá về tâm lý để biết được mức độ bạo dạn của con cá.

    Đánh giá sinh lý: độ trưởng thành của con cá là điều đầu tiên cần phải cân nhắc đến trước khi đem cá đi huấn luyện. Những bộ phận sau đây của cá cần được lần lượt kiểm tra gồm: Miệng-Nắp mang-Mắt-Kỳ-Vảy-Thịt và Cấu trúc tổng quát toàn thân.

    Miệng: được coi là bộ phận quan trọng bậc nhất của cá đá bởi vì nó được dùng như là vũ khí tấn công đối thủ. Nếu miệng có vấn đề thì cá khó thắng trận được. Mỗi khi cá tấn công và làm tổn thương đối thủ thì cũng đồng nghĩa với việc nó tự làm miệng của mình bị thương. Hơn nữa, miệng ăn thông với mũi do đó nếu miệng bị thương nặng thì thường dẫn tới việc cá bị sặc nước và thua trận. Vì vậy mà chúng ta thường thấy cá chỉ giả vờ tấn công rồi sau đó quay về trạng thái phòng thủ. Sau đây là những dạng miệng khiếm khuyết mà chúng ta không nên chọn cá có miệng như vậy để đem đi đá:

    - Miệng bị biến dạng
    - Miệng không khép kín
    - Môi sứt
    - Miệng khoằm hay vểnh
    - Miệng phù
    - Miệng sần sùi


    *Cá có miệng tốt phải khép kín và hơi gồ lên một chút.

    Mang và nắp mang: là bộ phận cung cấp không khí để cá thở. Một chức năng quan trọng khác của nắp mang là phùng lên để đe dọa đối thủ. Nó là dấu hiệu để phô trương sức mạnh. Theo luật lệ trường đấu, con cá nào có thể phùng hết mang được xem là có ưu thế hơn hơn dù cho nó bị thương nặng hơn. Do đó, con cá bị thương nhẹ hơn nhưng không thể phùng mang có thể bị xem là thua trận. Nếu mang có vấn đề, con cá không thể chịu đựng được lâu và dễ bỏ chạy. Nắp mang phải nằm gọn gàng và đúng vị trí. Bề mặt nắp mang phải trơn láng. Nó có thể đóng mở dễ dàng và không được vướng víu. Các nếp mang được coi là phần yếu nhất ở con cá và phải được xếp gọn gàng phía dưới nắp mang. Nếu nó bị lòi ra thì có thể bị đối phương cắn đứt. Trong điều kiện bình thường, mang chuyển động phập phùng một cách nhẹ nhàng khi cá thở vì vậy nếu nó chuyển động một cách gấp gáp thì chứng tỏ con cá đó có vấn đề bất thường về hệ thống hô hấp. Không nên đem con cá như vậy đi đá. Sau đây là một số dạng mang bị khiếm khuyết:

    - Mang bị biến dạng
    - Mang không khép kín
    - Mang không thể phùng ra hết cỡ
    - Nếp mang lòi ra.


    Con cá không được nắp mang hở. Điều này đồng nghĩa với việc cho phép đối thủ tấn công vào các nếp mang, phần nhạy cảm nhất của con cá.

    Mắt: là bộ phận dẫn đường. Nếu mắt có vấn đề thì cá không thể trông thấy địch thủ một cách rõ ràng. Cá sẽ đá chậm lại ngay lập tức nếu mắt bị thương. Một vài con thậm chí còn bỏ chạy khi mắt bị thương. Mắt cá không được mờ và phải nằm ở vị trí thích hợp. Chúng ta có thể kiểm tra độ nhạy của mắt cá bằng cách di chuyển vật sậm màu như đầu bút chì gần lọ cá. Hầu hết những con cá mạnh khỏe đều trở nên linh động, tiến lại gần đầu bút chì và bắt đầu phùng mang giương vây.

    Kỳ: được xem như là chân của con cá. Nó được sử dụng để điều khiển và hỗ trợ cho chuyển động của cá. Vì vậy, nếu con cá có kỳ quá ngắn thì sẽ di chuyển không mau lẹ bằng đối thủ. Kỳ cũng phải nằm đúng vị trí thích hợp. Nó phải chuyển động chắc chắn và mạnh mẽ. Kỳ không được cũn cỡn và phải khép sát vào thân.

    Vảy: là áo giáp của cá và được bao phủ bởi lớp nhớt. Có hai loại vảy, loại lớn và loại nhỏ. Cả hai đều có đặc điểm riêng. Loại vảy lớn rất khó tróc nhưng một khi bị tróc rồi thì những vảy bên cạnh cũng dễ bị tróc theo. Loại vảy nhỏ dễ bị tróc hơn nhưng các vảy bên cạnh lại không bị ảnh hưởng nhiều. Dù cho là loại vảy gì thì nó cũng phải được sắp xếp một cách đều đặn. Các vảy phải xếp sát vào nhau và trông gọn gàng. Màu vảy phải càng đậm càng tốt vì điều này cho thấy nhớt cá ở tình trạng tốt.

    Thịt: là gốc của vảy và giúp vảy được rắn chắc. Vì vậy, nếu cá có thịt chắc và nhiều cơ bắp thì vảy cũng rất chắc. Cá có thịt chắc sẽ rất khó bị thương hoặc vết thương không lan quá rộng và nhờ đó cá không mất quá nhiều máu. Cơ bắp rắn chắc được kết hợp bởi nhiều yếu tố như di truyền, môi trường nuôi dưỡng, thức ăn, dạng cá, độ tuổi và sự huấn luyện. Cá cùng bầy nhưng được huấn luyện bởi những người chủ khác nhau có thể có chất lượng khác nhau, kể cả về dạng cấu trúc cơ thể. Điều này lý giải tại sao hầu hết những con cá đá bậc nhất đều xuất phát từ các cao thủ huấn luyện cá. Chúng ta không thể thấy một con cá có thịt tốt thế nào nếu như chúng ta không đem chúng đi đá với con khác có cùng đẳng cấp. Thịt tốt có nghĩa vết thương mà nó nhận phải không lan rộng và trở nên trầm trọng hơn khi bị đối thủ cắn lủng lớp vảy. Hơn nữa, nó phải có khả năng phục hồi thật nhanh sau trận đấu.

    Cấu trúc tổng quát toàn thân: phải được cân đối. Tất cả các bộ phận bên ngoài phải mạnh mẽ và cân xứng. Thân không được quá dài hay quá ngắn vì có thể làm cho cá bơi chậm và khó xoay trở khi bị đối thủ áp sát.


    Đây là một ví dụ về cá có cấu trúc cơ thể không tốt, được biết như là dạng thân cá mè. Cá trông rất lớn bởi vì thân dẹp và nhiều thịt nhưng lại rất yếu ớt. Nó là mục tiêu to lớn dễ bị tấn công. Dạng mặt nhỏ và cong cũng như mõm nhọn là nhược điểm và dễ dàng bị rách chỉ sau một vài cú câu mõm. Cũng dễ nhận thấy dạng đầu này rất dễ bị sặc nước bởi vì xương mặt không được hỗ trợ bởi những xương hàm lớn.

    Đánh giá tâm lý: sự ổn định về tâm lý của cá cũng là yếu tố chính trước khi thi đấu. Có nhiều trường hợp con cá tự nhiên bỏ chạy dù nó đang tấn công và làm đối thủ bị thương rất nặng. Vài con cá từng đá rất tốt cũng bỗng dưng bỏ chạy chỉ sau 10 phút. Một vài cao thủ đá cá cố đưa ra lời giải thích cho hiện tượng kỳ lạ này như sau: con cá bị “xuống cấp” bởi vì không được ngâm trong nước lá bàng khô đủ lâu…

    Cá đá cần có tâm lý ổn định. Trong trường đấu, có rất nhiều nhiễu loạn ảnh hưởng đến tâm lý thi đấu chẳng hạn như tiếng động bất ngờ và sự di chuyển của mọi người xung quanh. Nếu cá không có tâm lý ổn định, nó sẽ không thể chịu đựng được một cuộc đấu khốc liệt. Nhược điểm này có thể quan sát thấy khi cá có biểu hiện lo lắng hay sợ hãi. Một khi con cá quá căng thẳng, nó sẽ vứt bỏ bản năng chiến đấu và nghiêm trọng hơn là nó mất đi lớp nhớt bảo vệ cơ thể. Một khi lớp chất này mất đi thì sẽ chẳng còn gì để bảo vệ nó khỏi những cái răng sắc bén của đối thủ.

    Hiện tượng cá bị nhát có nhiều nguyên nhân. Nó có thể khởi đầu từ môi trường lai tạo, môi trường phòng nuôi hay cách huấn luyện.

    Môi trường lai tạo: đôi khi không được yên tĩnh bởi những kẻ thâm nhập và quấy rối. Rắn, bò sát hay chim là những kẻ thâm nhập nguy hiểm nhất và sự quậy phá của chúng có thể làm đổ chai lọ làm cho những con trong các lọ còn lại bị khủng hoảng và trở nên nhút nhát. Vài con sẽ trốn luôn trong góc hay giữa đám rong. Kẻ thâm nhập khó chịu nhất là mèo khi chúng đuổi chuột trên các tấm bạt mà người nuôi dùng để đậy hồ. Âm thanh bất thình lình phát ra từ phía trên có thể làm cá lo lắng và sợ hãi. Bình thường, cá có thể không biểu hiện sự nhút nhát nhưng sẽ bỏ chạy nếu bị tác động tương tự khi đang đá. Tuy nhiên, đa số cá đá có thể vượt qua các tác động nhiễu loạn từ bên ngoài và không hề có biểu hiện nhút nhát.

    Nhiễu loạn trong phòng nuôi: đôi khi cá nhút nhát chỉ vì phòng nuôi không được canh chừng cẩn thận. Ví dụ như mèo, chuột rượt đuổi nhau vào ban đêm trong khi cá đá cần được nghỉ ngơi hoàn toàn. Tiếng động phát ra từ những kẻ thâm nhập cũng như chai lọ đổ vỡ có thể làm cho cá sợ hãi từ đó trở nên nhút nhát.

    Cách huấn luyện: cá nhát cũng bởi vì người chủ nuôi không đúng cách. Kể từ khi được bắt ra khỏi ao, cá phải tập làm quen với việc thay đổi môi trường nuôi dưỡng một cách liên tục. Trạng thái tâm sinh lý của cá phải thật vững vàng và quen với sự thay đổi. Một số cá không thể chịu được sự thay đổi bất thình lình và bị sốc nếu chúng ta không cẩn thận. Ngay khi được ngâm trong nước lá bàng khô, lọ cá cần phải đem để nơi hơi tối. Người huấn luyện bất ngờ mở nắp và vớt cá bỏ vô lọ nước hoàn toàn mới để ngoài trời. Cá sẽ bị bối rối và sốc với môi trường mới, màu sắc của nó sẽ trở nên nhợt nhạt. Nó mất cả ngày để đáp ứng với môi trường mới. Tuy nhiên, một số cá đá lại phản ứng hoàn toàn trái ngược, chúng thể hiện hết bản năng chiến đấu bằng cách giương vây, phùng mang rồi mổ vào thành lọ mà đôi khi kết thúc với cái miệng bị thương.

    Người huấn luyện cần kiểm tra trạng thái tinh thần của cá trong thời kỳ huấn luyện. Kiểm tra trạng thái tinh thần là đánh giá cơ bản để xác định xem có nên đem cá ra trường đấu hay không. Nếu cá có biểu hiện sợ hãi bằng cách thu mình vào một góc khi được đổ vào lọ mới, nó phải được trì hoãn hoặc dừng không đem ra trường đấu. Sau đây là một số dấu hiệu cho thấy cá bị nhát:

    - Khi chúng ta lại gần lọ nuôi cá, con cá bơi một cách hốt hoảng hay nhảy lồng lộn lên mặt nước vì sợ hãi.

    - Khi chúng ta để cá rượt đuổi cá mái trong một cái chậu lớn, cá không rượt đuổi mà trái lại nép mình vào góc hồ hay trốn vào bụi rong.

    - Khi chúng ta đưa một cây viết chì đến gần lọ mà cá lại sợ hãi và bỏ chạy.

    - Khi bỏ cá vào lọ khác để huấn luyện, chúng ta nên kiểm tra về trạng thái sinh lý cũng như tâm lý của cá. Chúng ta nên quan sát thật kỹ để phát hiện các nhược điểm nếu có. Kiểm tra độ mức độ hung dữ bằng cách đưa đầu bút chì lại gần lọ cá. Nếu cá phản ứng lại bằng cách giương vây, phùng mang thì chứng tỏ nó đã sẵn sàng. Bạn cũng có thể nhận thấy cá có biểu hiện sợ hãi khi bỏ vào môi trường mới và đầu bút chì có thể làm chúng sung trở lại.

    Sau đây là các cách phòng chống chứng hoảng loạn ở cá.

    - Bố trí phòng nuôi cá để có thể ngăn cản những kẻ quậy phá như mèo, chuột thâm nhập vào và làm náo động.

    - Có hai cách đem cá đang dưỡng trong nước lá bàng khô đi huấn luyện; nếu chúng ta làm vào ban ngày để tập cho cá quen với môi trường ánh sáng và âm thanh náo động vào ban ngày thì dùng chậu, đặt trong phòng nuôi cá, mở nắp cho thoáng khí. Sau đó, nhẹ nhàng dùng tay vớt cá đem bỏ vào chậu mới. Nước trong chậu mới được chuẩn bị từ trước đó 2 ngày cùng với rong, một ít lá chuối và lá bàng khô. Nhẹ nhàng nắm cá trong tay, nó sẽ cảm nhận được sự săn sóc của con người. Vì vậy, nó sẽ nhanh chóng đáp ứng với môi trường mới. Những mảnh lá chuối và lá bàng khô làm giảm bớt sự phản xạ ánh sáng trong chậu. Tuy nhiên, nếu không có thời gian thì chúng ta có thể làm vào ban đêm và cho cá ăn toàn bằng thức ăn tươi sống. Bóng tối và thức ăn làm cá bớt căng thẳng. Nó sẽ tự đáp ứng với môi trường mới vào buổi bình minh.

    - Trong phòng nuôi cá, chúng ta nên bật radio để nghe nhạc. Âm thanh và nhạc phát ra từ radio làm cho cá quen với tiếng người và sẽ không bị căng thẳng khi được đem đến trường đấu đông đúc và ồn ào.

    - Khi vào phòng nuôi cá, chúng ta nên bước nhẹ nhàng chứ không nên chạy ào vào làm cho cá bị hoảng sợ.


    Có ba công đoạn để biến cá đá thường thành cá đá tuyển, tất cả được thực hiện trong cùng một giai đoạn bao gồm: bắt cá nuôi riêng, cho cá ăn kiêng và làm mình cá săn chắc. Người nuôi nên hoàn tất cả ba công đoạn này trước khi thực hiện các bước huấn luyện kế tiếp.

    Bắt cá nuôi riêng: trước khi đem cá đi đá, chúng ta cần phải trải qua giai đoạn chuẩn bị. Bước chuẩn bị này là một trong số những bước chủ yếu trong việc huấn luyện cá đá gọi là bắt cá nuôi riêng. Vậy bắt cá nuôi riêng là gì? Ý tưởng cơ bản của việc bắt cá nuôi riêng là tách chúng ra khỏi đàn. Cá sẽ phát triển từ một con cá bình thường thành một đấu sĩ. Trong tự nhiên, khi cá đực trưởng thành nó sẽ tự tách khỏi bầy và tìm cho mình một lãnh địa riêng để làm tổ và dẫn dụ con cái vào đẻ trứng. Trong giai đoạn này, cá đực sẽ bảo vệ lãnh thổ và đánh đuổi bất kỳ sinh vật nào lảng vảng gần đó. Vì vậy, sự tách bầy khi trưởng thành có liên quan trực tiếp đến mức độ hung dữ của cá. Chúng ta nắm lấy ý tưởng này và áp dụng cho bầy cá nuôi. Điều này có nghĩa là bắt cá đem nuôi ở lọ riêng. Có thể thấy rằng nếu chúng ta nuôi cá ở môi trường thích hợp thì chỉ qua một đêm nó sẽ tự tạo một ổ bằng bọt khí. Ổ bọt là dấu hiệu của sự thành thục, bảo vệ và hiếu chiến ở cá.

    Cho cá ăn kiêng: sự khác biệt giữa cá nuôi và cá hoang ở chỗ cá nuôi được nuôi thường xuyên bằng thức ăn tươi giàu chất đạm trong một môi trường giới hạn. Cá bình thường rất mập và lớn con. Quá trình nuôi riêng giúp cá ăn kiêng. Nếu cá quá gầy thì đây là cơ hội để tẩm bổ cho nó. Chúng ta có thể chia cá ra làm 3 loại bằng việc quan sát hình dạng của chúng từ phía trên.

    - Cá bình thường: khi các phần đầu, bụng và thân cá có tỷ lệ đều đặn từ lớn đến nhỏ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải cảm nhận được hình dạng tối ưu của cá. Dạng bình thường là dạng thích hợp và dễ điều chỉnh nhất. Chúng ta cho cá ăn cung quăng (khoảng từ 8-10 con) hay các loại thức ăn tươi khác như bo bo, trùn chỉ, nhưng chỉ cho ăn một lần mỗi ngày. Quá trình nuôi riêng kéo dài từ 7-10 ngày. Trong quá trình này, chúng ta nên cho cá ăn kiêng cho đến khi chúng hơi gầy. Điều này sẽ làm cá đá nhanh và linh động hơn.

    - Cá gầy: khi các phần đầu và bụng cá có tỷ lệ không đều đặn, đặc biệt phần thân cá trông gầy giơ xương. Để làm cho cá mập hơn thì chỉ cần cho chúng ăn nhiều cung quăng hơn và để dư một ít trong chậu. Quá trình nuôi riêng kéo dài từ 5-7 ngày và thức ăn được điều chỉnh tùy vào hình dạng thực tế của chúng.

    - Cá mập: khi các phần đầu, bụng và thân cá có tỷ lệ không đều đặn. Cá trông dường như có rất nhiều thịt. Cá cần được nuôi riêng lâu hơn, khoảng từ 10-21 ngày và cho ăn hạn chế. Chúng ta chỉ nên cho cá ăn 8 con cung quăng mỗi ngày nhưng ngày nào cũng phải cho ăn. Nếu cá vẫn mập thì chúng ta phải cho ăn ít đi hay nếu gầy quá thì lại cho ăn nhiều lên.

    Hầu hết cá đá đều có hình dạng bình thường hay hơi gầy. Tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng điều này không áp dụng đối với mọi dòng cá. Một số dòng cá đá rất tốt nếu hơi mập, một số dòng khác thì phải hơi gầy. Tốt nhất là nên tìm hiểu thông tin về vấn đề này từ nhà lai tạo.

    Làm mình cá săn chắc: sự săn chắc của vảy cá phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ lớn và dòng cá. Vì vậy, chúng ta không có cách nào để làm biến đổi một cách thần kỳ từ cá có vảy bình thường thành cá có vảy cứng. Nhưng trong thời gian nuôi riêng, chúng ta có thể ngâm cá bằng một số loại lá khô làm cho nước có màu như màu nước trà nhờ đó mà da thịt và vảy cá được săn chắc. Lá bàng khô được sử dụng rộng rãi nhất nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng những loại lá khác với công dụng tương đương. Một số loại lá cây có mùi rất đặc biệt có thể làm cho cá đối phương phải hoảng sợ. Vài loại lá khác lại có tác dụng ngăn cản sự viêm nhiễm và làm lành vết thương.
    Sau đây là những loại lá mà chúng ta có thể dùng để ngâm cá:

    - Lá chuối khô: nhựa từ cuống lá có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn Escherichia coli, nguyên nhân chính gây ra các bệnh tiêu chảy và kiết lỵ. Chất tannin có nhiều trong lá cũng có khả năng chữa bệnh lỵ.

    - Lá bàng khô (Terminalia catappa L.): trước đây thường được dùng để chữa bệnh tiêu chảy ở người. Lá này còn dùng để chữa bệnh nổi mề đay và ngứa ngáy đồng thời có tác dụng làm đổ mồ hôi từ đó giải độc cho cơ thể. Trái bàng ăn vào rất nhuận tràng.

    - Casearia grewiifolia (cây thuộc họ liễu Salicaceae, có lẽ chưa được trồng ở nước ta).

    - Vỏ dừa, lá dừa khô (Cocos nucifera Linn.)

    - Quả hay vỏ khô của cây muồng hoàng yến (Cassia fistula L.)(còn gọi là cây bò cạp nước hay hoàng hậu; đây là loài cây rừng phân bố tự nhiên ở Tây Nguyên; chúng được trồng rải rác ở Sài Gòn).

    - Lá tếch khô (Tectona grandis L.)(xuất xứ Ấn Độ; còn gọi là cây giá tỵ, được trồng thành rừng ở Định Quán, Đồng Nai và rải rác ở Sài Gòn, nhất là ở công viên 30-4). Công dụng giống như lá bàng khô.

    - Lá cây chiêu liêu hồng, xàng hay tiếu (Terminalia chebula)(ở ta, đây là loài cây rừng phân bố từ Huế trở vào đến An Giang, quả được hái làm thuốc chữa bệnh lỵ).

    - Vỏ trái keo cau khô (Acacia catechu)(xuất xứ Ấn Độ; chúng chỉ được trồng ở Sở thú Sài Gòn) có chứa nhiều chất tannin dùng để chữa bệnh tiêu chảy và kiết lỵ.

    - Các loại lá khác.

    Thông thường, trong tuần nuôi riêng đầu tiên, chúng ta bỏ lá khô làm cho nước có màu như màu nước trà. Trong tuần thứ hai, chúng ta giảm nồng độ bằng cách lấy bớt phân nửa nước cùng với chất thải cá rồi thêm nước mới vào. Lá cây làm cho nước hơi có tính acid, khoảng 6.5 độ pH. Nồng độ pH như vậy hạn chế sự tăng trưởng của vi khuẩn trong nước và hỗ trợ cho chất nhớt của cá. Những chất tiết ra từ lá ngấm vào cá và làm cơ bắp của nó săn chắc. Vào ngày thứ 8, chúng ta đem cá bỏ vào lọ khác. Chúng ta có thể thấy rằng cá trông có vẻ nhỏ và mảnh khảnh hơn so với ngày đầu tiên mới thả. Cá trông linh động hơn, bơi nhanh hơn và trở nên dạn dĩ hơn trước con người. Đồng thời, cá cũng trở nên rất hung dữ và sậm màu chỉ trong một thời gian ngắn.


    Xây dựng môi trường huấn luyện và điều trị bệnh

    Cá đá là một trong số những loài nhạy cảm nhất trong số các loài sinh vật máu lạnh. Khi nhiệt độ môi trường thay đổi, trạng thái sinh lý của chúng cũng bị ảnh hưởng từ đó tác động trực tiếp lên năng lực chiến đấu và cảm nhận của cá. Việc xây dựng một môi trường huấn luyện thích hợp là điều nên được cân nhắc một cách nghiêm túc bằng không cá có thể bị căng thẳng dẫn đến dễ bị ngã bệnh rồi lây sang những con cá khác cùng phòng. Chẳng hạn phòng quá nóng hay quá lạnh, nhiệt độ trong phòng thay đổi quá nhiều giữa ngày và đêm sẽ làm cá bị suy nhược. Theo kinh nghiệm của tôi, nhiều người đá thua bởi vì không bố trí phòng huấn luyện một cách thích hợp. Nếu được bố trí thích hợp, phòng nuôi cá có thể giúp cá mạnh khỏe hơn và cải thiện kỹ năng chiến đấu của cá. Ý tưởng chung về một phòng nuôi cá đó là nó phải thoáng khí và có ánh sáng tự nhiên chiếu vào cả ban ngày lẫn ban đêm. Nên có luồng gió nhẹ lưu thông trong phòng. Nhiệt độ phòng không được thay đổi quá đột ngột vì nó làm cá bị suy nhược. Các lỗi liên quan đến việc bố trí phòng nuôi cá gồm: phòng kín hay thiếu luồng khí luân chuyển. Nhiệt độ trong phòng quá nóng hoặc quá lạnh tức là biến thiên quá 3 độ C. Phòng nuôi cá cần phải có những dụng cụ cần thiết và được đặt đúng nơi quy định.

    Xây dựng môi trường huấn luyện: là việc quản lý phòng nuôi cá và nhân tố chính đem lại chiến thắng tại trường đá cá. Sau đây là những vấn đề liên quan đến phòng nuôi cá gồm: môi trường, dụng cụ và thuốc điều trị.

    Vị trí: hồ cá phải được bố trí nơi thật thoáng khí, có ánh nắng chiếu vào buổi sáng và bóng râm vào buổi chiều. Để giảm tiếng ồn vào ban ngày và ánh sáng vào ban đêm, phòng nuôi cá phải xa phòng sinh hoạt của người. Phòng cũng nên được đóng kín để tránh chó, mèo, chuột hay rắn thâm nhập. Cũng cần tránh các yếu tố gây nhiễu như tiếng ồn, sự rung động hay chớp sáng. Nhưng phòng cũng không nên quá xa nơi ở để chúng ta có thể đến đó vào bất kỳ lúc nào mà chăm sóc cá. Tôi thường đến phòng nuôi cá cứ cách mỗi 2 giờ vào ban ngày nếu tôi không có việc gì bận.

    Không gian và thiết kế của phòng nuôi cá: thật khó mà đưa ra một tiêu chuẩn cụ thể về phòng nuôi cá. Không gian thay đổi tùy vào số lượng cá hay không gian hiện hữu mà bạn có. Ý tưởng chung về phòng nuôi cá là nó phải thoáng khí và có ánh sáng tự nhiên chiếu vào. Phòng nên được chia làm 2 phần, phần nuôi cá và phần để làm việc (một số người còn thích qua đêm ngay tại phòng nuôi cá). Phần nuôi cá nên chia làm 3 gồm 1-cá đã huấn luyện và chuẩn bị để đem đi đá, 2-nơi để các lọ huấn luyện cá, 3-nơi nuôi cá sắp được huấn luyện (thường là cá đang được ngâm trong lá bàng khô). Để thuận tiện cho công việc, chúng ta nên đóng các kệ để đặt hồ cá và chai lọ để vừa tiết kiệm không gian vừa dễ thao tác.

    Sàn: loại sàn và môi trường xung quanh phòng nuôi cá đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì nhiệt độ được ổn định. Loại sàn lý tưởng được làm bằng gỗ bên trên hồ nước hay mặt đất. Nước và đất thẩm thấu nhiệt độ và độ ẩm và giữ cho chúng được ổn định. Không nên để nhiệt độ phòng nuôi cá thay đổi đột ngột. Tuy nhiên, nên nhớ rằng nhiệt độ trong phòng nuôi cá nên được duy trì ở khoảng từ 28-30 độ C với độ ẩm nhất định. Nên tránh sử dụng sàn bê tông vì xi măng giữ nhiệt và tỏa ra rất chậm làm cho phòng nuôi cá lúc nào cũng nóng nực. Phòng nuôi cá kín mà lại thiếu một hệ thống thông thoáng khí là môi trường không tốt cho cá. Quan trọng hơn cả là nhiệt độ phòng nên từ 28-30 độ C vào ban ngày. Sự biến đổi nhiệt độ nhỏ sẽ không làm cá bị suy nhược. Nơi tốt nhất để xây dựng phòng nuôi cá là bên dưới một gốc cây lớn để tận dụng bóng mát tự nhiên và cây cối xung quanh. Nền tốt nhất là nền đất tự nhiên vì nó luôn làm nhiệt độ phòng ổn định và mát mẻ.

    Mái che: nên được làm từ các loại vật liệu cách nhiệt và không giữ nhiệt để có thể tỏa nhiệt một cách nhanh chóng. Vì vậy, mái che không nên được lợp quá thấp bởi như vậy thì nhiệt độ bên ngoài sẽ tác động nhiều hơn vì vậy mà nên lợp mái che cao. Vị trí thích hợp của mái che tùy thuộc và từng địa điểm. Để kiểm tra, bạn có thể vào phòng nuôi cá vào lúc 2 giờ trưa mà thấy vẫn mát mẻ là được. Nhưng nếu bạn cảm thấy nóng nực và khó chịu điều đó có nghĩa là cá của bạn sẽ cảm thấy tệ hơn vậy rất nhiều. Vật liệu để lợp mái có thể làm bằng lá dừa hay cỏ tranh. Tấm lợp xi măng cũng tốt nhưng nên được bố trí cao hơn, khoảng 3 mét kể từ sàn và tốt nhất nên có cây cỏ mọc trên mái.

    Nếu dịch sai mong các pác góp ý
     
  2. yeucaxiem

    yeucaxiem Member

    Tham gia:
    5/5/07
    Bài viết:
    21
    Thích đã nhận:
    0
    Đến từ:
    hcm
    cám ơn binhvirile nhiều,các pác nào đọc thấy hay tăng điểm cho pác này nhé.Nhờ binhvirile dịch tiếp nhé
     
  3. binhvirile

    binhvirile Well-Known Member

    Tham gia:
    22/4/07
    Bài viết:
    236
    Thích đã nhận:
    10
    Đến từ:
    ho chi minh
    uh,mình sẻ dịch tiếp........................................nhưng bận quá!!!
     
  4. dthong

    dthong Well-Known Member

    Tham gia:
    15/1/06
    Bài viết:
    230
    Thích đã nhận:
    187
    Đến từ:
    garden grove
  5. binhvirile

    binhvirile Well-Known Member

    Tham gia:
    22/4/07
    Bài viết:
    236
    Thích đã nhận:
    10
    Đến từ:
    ho chi minh
    dthong à,mình đã bảo là mình đọc trên mạng lâu lắm rùi,thấy hay nên copy về máy.Nguyên văn vẫn còn một số đoạn tiếng anh,chẳng hạn phần" làm mình cá săn chắc" mà mình tô đỏ đấy(vì mình dịch đoạn này từ trang web nào đó,tất cả các đoạn trên đả thấy dịch sang TV rồi mà đoạn này chưa),sợ các bác ko hiểu nên mình dịch tàm tạm thôi,có thể mình dịch khác với bản dịch gốc http://www.diendancacanh.com/forum/showthread.php?t=37 mà bạn đưa ra.Mong bạn đừng hiểu lầm!!!
     

Chia sẻ trang này